Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.12: Kết quả điều tra các nhân tố ảnh hưởng

Bảng 3.12: Kết quả điều tra các nhân tố ảnh hưởng

Tải bản đầy đủ - 0trang

một bộ máy quản lý thu, chi ngân sách nói chung và chi thường xuyên ngân sách

nói riêng, người ta thường đề cập đến quy mơ nhân sự của nó và trong sự thiết

lập ấy chính là cơ cấu tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý chi thường xuyên ngân

sách và các mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các bộ phận trong quá

trình thực hiện chức năng này. Hay nói cách khác, điều quan trọng hơn cả là phải

thiết lập cụ thể rõ ràng, thông suốt các “mối quan hệ ngang” và các “mối quan hệ

dọc”. Sự thiết lập ấy được biểu hiện thông qua qui định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn giữa các cấp, các bộ phận trong tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý chi

thường xuyên ngân sách. Quy định chức năng nhiệm vụ của bộ máy và cán bộ

quản lý theo chức năng trách nhiệm quyền hạn giữa bộ phận này với bộ phận khác,

giữa cấp trên với cấp dưới trong q trình phân cơng phân cấp quản lý đó. Nếu việc

quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp tỉnh khơng rõ ràng,

cụ thể thì dễ xảy ra tình trạng hoặc thiếu trách nhiệm, hoặc lạm quyền trong việc

thực hiện nhiệm vụ quản lý chi thường xuyên ngân sách. Nếu bộ máy và cán bộ

năng lực trình độ thấp thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi thường xuyên

NSNN. Do đó tổ chức bộ máy và cán bộ là nhân tố rất quan trọng trong quá trình tổ

chức quản lý thu, chi ngân sách nói chung và chi thường xuyên ngân sách nói

riêng.

Đứng thứ hai về mức độ ảnh hưởng là nhân tố sự gắn kết tham gia của các

ban ngành (4,11). Qua thực tế cho thấy, nếu sự gắn kết tham gia của các ban ngành

cao sẽ giảm thiểu được sai lệch trong cung cấp thông tin của đối tượng sử dụng

nguồn lực tài chính cơng, kiểm sốt được tồn bộ nội dung chi, nguyên tắc chi và

tuân thủ theo các quy định về quản lý nguồn tài chính cơng đảm bảo theo dự toán

đã đề ra. Việc đưa ra các kế hoạch triển khai các công việc hợp lý, rõ ràng để tạo

nên một cơ cấu tổ chức hợp lý, có hiệu quả và có sự phân định rõ ràng về trách

nhiệm, quyền hạn giữa các ban ngành cũng như giữa các khâu, các bộ phận của

bộ máy quản lý chi NSNN là vô cùng quan trọng. Mức độ ảnh hưởng là nhân tố sự

gắn kết tham gia của các ban ngành nếu khơng có sự gắn kết sẽ dẫn đến thiếu

chính xác giữa các khâu, sai sót, nhầm lẫn, trùng lặp đối tượng giữa các chính

sách còn nhiều, trong khi đó việc hướng dẫn thực hiện của các cơ quan chức

năng, nhất là các bộ ngành ở trung ương đối với một số chế độ còn chậm, chưa

kịp thời, gây nhiều lúng túng cho cơ sở.



Nhân tố ảnh hưởng mạnh tiếp theo là cơ chế quản lý NSNN (3,68). Trong

những năm qua, cơ chế quản lý NSNN đã liên tục được đổi mới và mang lại những

chuyển biến tích cực trong công tác quản lý chi. Việc trao quyền tự chủ hơn cho các

đơn vị sử dụng NSNN trong việc tuyển biên chế, xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ

đã giúp cho các đơn vị thụ hưởng NSNN chủ động hơn trong việc cân đối chi tiêu,

hướng đến hiệu quả trong việc chi tiêu công.

Các nhân tố như điều kiện kinh tế (2,78), chính sách và thể chế kinh tế (3,2),

cơ sở vật chất (2,89) là những nhân tố có ảnh hưởng đến quản lý chi thường

xuyên NSNN tại thành phố Bắc Kạn song mức độ ảnh hưởng ở mức trung bình.

Chính sách và thể chế kinh tế của Việt Nam trong những năm qua được đánh giá

khá ổn định, kinh tế tăng trưởng tốt đã tạo điều kiện tốt cho công tác quản lý chi

NSNN được hiệu quả hơn. Tuy nhiên, vốn là một vấn đề quan trọng trong công tác

quản lý chi thường xuyên NSNN. Đặc thù công việc là làm việc với những giá trị

lớn, nên trang thiết bị hiện đại, tốc độ cao là vô cùng quan trọng đối với công tác

quản lý chi thường xuyên ngân sách. Tuy nhiên, hệ thống máy móc thiết bị tại các

cơ quan, đơn vị liên quan đến công tác quản lý thu, chi NSNN đã khá lỗi thời,

tốc độ chậm chạp khiến cho công việc nhập và xử lý số liệu mất rất nhiều thời

gian. Tuy nhiên, trong năm 2018, yếu tố cơ sở vật chất như trụ sở làm việc, hệ

thống phần mềm kế toán, quản lý phục vụ cho công tác quản lý chi NS cũng

thường xuyên được thành phố Bắc Kạn quan tâm đã giúp cho công tác quản lý chi

NSNN được thuận lợi hơn.

Cuối cùng nhân tố trình độ phát triển được đánh giá ở mức ít ảnh hưởng nhất.

Thực tế cho thấy, khi trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập bình qn trên địa

bàn còn thấp cũng như ý thức về sử dụng các khoản chi chưa được đúng mức còn

có tư tưởng ỷ lại Nhà nước thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi NSNN. Khi

chúng ta thực hiện tốt những vấn đề thu ngân sách trong đó có nhiều nhân tố tác

động nhưng trình độ mức sống của người dân ngày càng nâng cao thì việc thực

hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước có thể rất dễ dàng. Trường hợp nếu trình độ và

mức sống còn thấp thì việc thu thuế cũng rất khó khăn.



3.5.Đánh giá quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước tại thành phố Bắc

Kạn, tỉnh Bắc Kạn



3.5.1. Những kết quả đạt được

Qua phân tích thực trạng chi thường xuyên và quản lý chi thường xuyên, có

thể đánh giá hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước tại Thành phố Bắc Kạn, tỉnh

Bắc Kạn đã đạt được một số kết quả như sau:

Thứ nhất, cơng tác lập dự tốn chi NSNN của thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc

Kạn cơ bản đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Luật NSNN, bám sát các chỉ

thị, chủ trương chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Nghị quyết của HĐND tỉnh và trên cơ sở tình

hình kinh tế - xã hội của địa phương. Dự toán chi thường xuyên NSNN trên địa bàn

thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn được lập căn cứ vào định hướng phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh và tình hình thực hiện ngân sách của các năm trước; các chế độ

chính sách, tiêu chuẩn, định mức cụ thể về, chi ngân sách của Nhà nước, công tác

lập, phân bổ, giao dự tốn chi ngân sách đã dần có những chuyển biến rõ rệt. Quy

mô chi ngân sách không ngừng tăng lên, cơ cấu phân bổ và sử dụng các khoản chi

đã được điều chỉnh và thay đổi dần theo hướng hợp lý hơn.

Thứ hai, quản lý kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên ngân sách

cấp tỉnh qua KBNN đã được quan tâm, chú trọng. Việc KBNN trên địa bàn thành

phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn kiên quyết từ chối thanh toán đối với các khoản chi sai

mục đích, khơng đúng tiêu chuẩn, định mức, hồ sơ, chứng từ thanh tốn khơng hợp

pháp, hợp lệ đã góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong quản lý và sử dụng

ngân sách của các đơn vị dự toán.

Thứ ba, chi thường xuyên NSNN của tỉnh ngày càng tăng về quy mô và mở

rộng trên tất cả các lĩnh vực, đáp ứng kịp thời các khoản chi thường xuyên và các

nhu cầu chi đột xuất như thiên tai, bão lụt cũng như các trường hợp trợ cấp đột xuất

khác, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển KT-XH đã đề ra. Các đơn vị

được giao quyền tự chủ tài chính đã nâng cao tinh thần trách nhiệm trong sử dụng

ngân sách, chủ động áp dụng các biện pháp nhằm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả

kinh phí được giao, hạn chế thất thốt lãng phí trong chi tiêu ngân sách.



3.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân

3.5.2.1. Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà

nước trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn còn bộc lộ những hạn chế, cần

phải khắc phục.

* Định mức phân bổ chi ngân sách

Định mức phân bổ dự tốn chi thường xun còn thấp, chưa đáp ứng đầy đủ yêu

cầu nhiệm vụ của các đơn vị, địa phương. Định mức phân bổ chi ngân sách được

phân bổ theo yếu tố đầu vào chưa xây dựng được định mức phân bổ theo kết quả đầu

ra đối với các nhiệm vụ. Các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp phân bổ dự

toán theo quỹ lương và kinh phí hoạt động chưa đảm bảo đúng theo quy định của

Luật ngân sách nhà nước hiện hành (các tổ chức này theo quy định của Luật ngân

sách nhà nước thì chỉ được ngân sách nhà nước hỗ trợ khi được nhà nước giao nhiệm

vụ).

* Công tác lập, phân bổ dự toán chi ngân sách

Dự toán ngân sách lập chưa sát với tình hình thực tế của địa phương, một số

nhiệm vụ chi chưa phân bổ theo đúng định mức, tiêu chuẩn; việc bố trí vốn đầu tư

còn dàn trải, cơ cấu chi đầu tư chưa hợp lý, chủ yếu phân bổ vốn cho hạ tầng đô thị

và giao thông, chưa quan tâm đúng mức đến đầu tư cho các Trạm y tế xã phường và

Trụ sở xã, phường.

Có địa phương vẫn còn một số nhiệm vụ chi phân bổ thấp hơn dự toán cấp

trên giao, như dự phòng ngân sách, chi sự nghiệp giáo dục- đào tạo. Một số cơ

sở khi phân bổ ngân sách không giao chỉ tiêu tiết kiệm 10% để tạo nguồn cải

cách tiền lương; hoặc có giao nhưng chưa phản ánh đúng quy định; một số đơn vị

lập dự tốn chi khơng sát với thực tiễn, lập dự toán chi quá lớn, có một số nhiệm

vụ khơng lập dự tốn chi tiết, dẫn đến việc thẩm định của cơ quan tài chính rất khó

khăn.

Quy trình xây dựng dự tốn chi cũng như việc tính tốn các nhiệm vụ chi chưa

khoa học và sát thực tế, chủ yếu dựa theo các văn bản quy định của cơ quan cấp

trên, nhiều nhiệm vụ chưa được dự toán; dẫn đến trong năm ngân sách một số

nhiệm vụ chi đã bố trí dự tốn nhưng khơng thực hiện được hoặc thực hiện không

hết phải điều chỉnh kinh phí cho các nhiệm vụ chi khác và phát sinh nhiều nhiệm

vụ phải bổ sung dự tốn.



* Cơng tác chấp hành chi ngân sách

Dự toán chi ngân sách hàng năm đều phải thực hiện bổ sung ngồi dự tốn

đầu năm lớn, dẫn đến tình trạng gặp khó khăn trong quá trình chấp hành chi ngân

sách, các đơn vị thiếu chủ động trong quá trình điều hành ngân sách. NSTW

chưa thực sự phân cấp hết nhiệm vụ chi cho ngân sách cấp thành phố Bắc Kạn,

ngân sách nhà nước chưa thực sự phân cấp hết những nhiệm vụ chi cho các cơ sở

cấp dưới, một số đơn vị dự toán đã có nhiệm vụ chi nhưng chưa được phân bổ dự

tốn hoặc phân bổ chưa đủ dự tốn từ đó đã tạo ra cơ chế xin - cho trong năm.

Một số cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách chưa hiệu quả, hồ sơ, chứng từ chi

còn thiếu, sai sót nhiều, vẫn còn hiện tượng chi tiêu lãng phí (như chi tiếp khách, hội

họp, chi phí điện, nước, văn phòng phẩm,…vẫn còn lớn), thực hiện chế độ tự chủ tự

chịu trách nhiệm về biên chế và kinh phí quản lý hành chính chưa hiệu quả, chưa

có thu nhập tăng thêm cho cán bộ, cơng chức.

Bổ sung chi ngồi dự tốn còn nhiều dẫn đến rất khó khăn cho cơng tác tham

mưu quản lý, điều hành ngân sách của cơ quan tài chính. Một số khoản chi thực hiện

chế độ, chính sách an sinh xã hội khơng đúng mục đích, đối tượng hoặc chậm chi

trả.

* Cơng tác Quyết tốn chi ngân sách

Một số đơn vị, địa phương lập quyết toán chi ngân sách chậm, không đảm bảo

thời gian quy định của Luật NSNN và kéo dài chưa được khắc phục. Báo cáo quyết

toán mới dừng lại ở việc phản ánh số liệu, chưa phân tích rõ các chỉ tiêu thực hiện

tăng giảm so với dự toán, chưa đánh giá được hiệu quả của việc đầu tư và chi

thường xuyên ngân sách, chưa thuyết minh rõ nguồn chưa thực hiện được chuyển

năm sau, báo cáo thuyết minh còn sơ sài, thiếu biểu mẫu, lập quyết tốn khơng

đúng biểu mẫu quy định, gây khó khăn cho cơng tác thẩm định quyết tốn của cơ

quan Tài chính và phê chuẩn quyết tốn của HĐND các cấp.

Một số đơn vị chi vượt định mức chế độ tiêu chuẩn, chứng từ khơng đảm bảo

tính hợp lý, hợp lệ và hợp pháp phải xuất toán, một số đơn vị làm chứng từ khống

để rút tiền qua Kho bạc, nội dung chi theo chứng từ rút tại Kho bạc khác với nội

dung thực tế chi tại đơn vị. Cơng tác cơng khai quyết tốn ở một số đơn vị sử dụng

ngân sách và cấp huyện, cấp xã chưa được thực hiện nghiêm túc theo đúng quy

định.



* Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát chi ngân sách

Việc kiểm sốt chi NSNN qua KBNN còn nhiều bất cập, chưa chặt chẽ dẫn đến

tình trạng một số cơ quan, đơn vị hồ sơ, chứng từ chi còn thiếu, có sai sót nhưng vẫn

được chấp nhận thanh tốn đến khi thanh tra, kiểm tra mới phát hiện. Nợ XDCB đã

từng bước được kiểm sốt, nhưng vẫn còn lớn vượt q mức cho phép.

3.5.2.2. Nguyên nhân của hạn chế

Thứ nhất, do định mức phân bổ của Trung ương cho tỉnh còn thấp, chưa phù

hợp với tỉnh có dân số thấp như Bắc Kạn (khoảng 314 nghìn dân), định mức phân

bổ cho các lĩnh vực chi thường xuyên chủ yếu theo tiêu chí chính là dân số; tuy

nhiên dân số tỉnh Bắc Kạn đặc biệt thấp nhất trong cả nước, do vậy các lĩnh vực

chi theo định mức phân bổ của Trung ương không đáp ứng được nhiệm vụ phát

triển kinh tế- xã hội của tỉnh, đặc biệt là những năm sau của thời kỳ ổn định ngân

sách.

Theo đó, các đơn vị, địa phương trong tồn tỉnh, trong đó có thành phố Bắc

Kạn áp dụng định mức phân bổ của tỉnh cũng rất khó khăn, có những nhiệm vụ

chi sau khi phân bổ theo định mức của HĐND tỉnh chủ yếu chỉ đảm bảo được tiền

lương, các khoản theo lương, kinh phí hoạt động rất thấp. Định mức phân bổ còn

mang tính cào bằng, chưa tính đến sự khác biệt về tình hình thực hiện nhiệm vụ

mỗi địa phương, của mỗi cơ quan, đơn vị để phân bổ định mức chi; định mức phân

bổ theo yếu tố đầu vào chưa theo kết quả thực hiện nhiệm vụ (kết quả của đầu ra).

Dẫn đến rất khó khăn cho cơ quan tài chính trong cơng tác tham mưu quản lý điều

hành ngân sách; khơng có tác dụng thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ của mỗi địa

phương, cơ quan, đơn vị; hiệu quả sử dụng kinh phí khơng cao.

Thứ hai, số chi chuyển nguồn sang ngân sách năm sau qua các năm lớn, đối

với chi đầu tư chủ yếu do các đơn vị, địa phương chưa thực sự quan tâm, làm hết

trách nhiệm của mình đối với nguồn vốn được giao, các chủ đầu tư đặc biệt là các

xã năng lực còn hạn chế, lúng túng trong việc thực hiện các quy trình, thủ tục đầu

tư; mặt khác do văn bản hướng dẫn của Trung ương có điểm còn chưa rõ hoặc

hướng dẫn muộn; đối với chi thường xuyên một số đơn vị, địa phương chưa tích

cực triển khai thực hiện các chế, độ, chính sách, nhiệm vụ, một số chế độ chính sách

các đơn vị lập dự tốn khơng sát nhu cầu dẫn đến kết thúc năm ngân sách nguồn kinh

phí được giao vẫn chưa thực hiện được.



Thứ ba, đơn vị sử dụng ngân sách chưa nâng cao tinh thần trách nhiệm, tự

chủ, tự chịu trách nhiệm đối với việc quản lý sử dụng nguồn kinh phí được giao. Cơ

quan tài chính chưa thường xuyên kiểm tra trong quá trình chấp hành chi ngân

sách của các đơn vị (một năm chỉ tiến hành xét duyệt quyết toán một lần). Việc

kiểm soát chi ngân sách qua KBNN còn bộc lộ những hạn chế, bất cập: Cơng tác

kiểm sốt chi đối với các hồ sơ, chứng từ chi chưa được chặt chẽ, chỉ kiểm soát chi

trên bảng kê, khơng kiểm sốt chứng từ gốc nên để xảy ra tình trạng một số đơn

vị chi khơng đúng dự toán đã được phê duyệt, một số đơn vị còn chi khống, rút dự

tốn cho nhiệm vụ này nhưng lại chi cho nhiệm vụ khác dẫn đến chi sai mục đích;

bổ sung chi ngồi dự tốn còn nhiều gây khó khăn trong việc quản lý, kiểm sốt chi

theo dự toán. Chứng từ chi của một số đơn vị chưa đảm bảo tính hợp lý, hợp lệ, hợp

pháp; vẫn còn tình trạng chi vượt định mức, chế độ, tiêu chuẩn, chi khơng đúng các

khoản đóng góp, chi sai nguồn, chi sai mục lục NSNN.

Thứ tư, do định mức phân bổ thấp so với thực tế vì hàng năm tình hình kinh tế

- xã hội có nhiều biến động, giá cả thị trường đều tăng do trượt giá trong khi định

mức chi theo quy định không điều chỉnh (định mức được giữ nguyên trong cả thời

kỳ ổn định ngân sách), một số chính sách Trung ương ban hành nhưng do ngân sách

địa phương đảm bảo thực hiện, quy trình thủ tục rườm rà, nặng về quy định tiêu

chuẩn, định mức chế độ mà chưa gắn với hiệu quả đầu ra như chính sách của Nhà

nước trong việc quy định định mức mua sắm tài sản cố định nên chưa tạo sự chủ

động trong chi tiêu NSNN.

Thứ năm, xử phạt đối với những đơn vị nộp Báo cáo quyết tốn ngân sách

khơng đúng thời hạn quy định chưa nghiêm, chỉ nhắc nhở, chưa có biện pháp xử lý.

Trong một số trường hợp việc xử lý các khoản chi vượt định mức chế độ tiêu chuẩn,

chứng từ khơng đảm bảo tính hợp pháp chưa nghiêm, chỉ dừng lại ở việc yêu cầu

khắc phục và hoàn thiện hồ sơ, chứng từ, chưa thu hồi nộp NSNN đối với một số

trường hợp vi phạm.

Thứ sáu, do trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ còn bất cập, hạn chế. Đội

ngũ kế tốn tại các đơn vị sử dụng ngân sách mặc dù đã được tuyển dụng theo đúng

bằng cấp nhưng vẫn còn có nhiều kế toán chưa đáp ứng được với yêu cầu, chưa có

kinh nghiệm cơng tác thực tiễn, khơng chịu học hỏi để nâng cao trình độ, thiếu tinh

thần



trách nhiệm; chế tài xử phạt chưa rõ ràng, chưa nghiêm, hàng năm không có sát

hạch chun mơn nghiệp vụ, khi đã được tuyển dụng rồi thì hàng tháng hưởng

lương từ NSNN theo ngạch, bậc lương không xét đến kết quả công việc. Đội ngũ

cơng chức Phòng Tài chính - Kế hoạch, KBNN khơng chỉ thiếu về số lượng, một số

cơng chức còn hạn chế về năng lực chuyên môn, chưa hiểu sâu, nắm rõ những quy

định của Nhà nước, chưa có kinh nghiệm công tác thực tiễn nên trong việc hướng

dẫn, kiểm tra, kiểm sốt còn chưa thường xun, chưa chặt chẽ; năng lực của đội

ngũ công chức xã làm công tác kế tốn còn q yếu, một số cơng chức chưa có

nghiệp vụ kế tốn, chế độ, chính sách được triển khai tại xã tương đối nhiều, tuy

nhiên có nhiều xã khơng phân biệt được nhiệm vụ của từng nguồn kinh phí, phải

chờ khi Phòng Tài chính - Kế hoạch thẩm định quyết toán mới xác định nguồn

hoặc giúp hạch toán sổ sách kế tốn.



CHƯƠNG 4.

GIẢI PHÁP HỒN THIỆN QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN

SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ BẮC KẠN,TỈNH BẮC KẠN

4.1.Quan điểm, định hướng và mục tiêu hoàn thiện quản lý chi thường xuyên

ngân sách nhà nước tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn tới



4.1.1. Quan điểm, định hướng

Quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2018 - 2020, định

hướng đến năm 2025 được Đại hội Đảng bộ thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn lần

thứ XV xác định là: Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao theo hướng ổn

định, bền vững; không ngừng nâng cao quy mô, chất lượng và sức cạnh tranh của

nền kinh tế; khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư, phát triển. Đi đôi với

phát triển kinh tế, chú trọng phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hố - xã hội. Đẩy

nhanh q trình chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm, giảm nghèo; đảm

bảo an sinh xã hội; từng bước thu hẹp khoảng cách về thu nhập, về đời sống giữa

các vùng, các khu vực và giữa các tầng lớp dân cư, thực hiện tiến bộ và công

bằng xã hội. Tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, kiềm chế và đẩy lùi tội

phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông; giữ vững sự ổn định về chính trị - xã hội để

tập trung phát triển kinh tế.

Một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Bắc Kạn,

tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020 là:



-Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình qn đạt 8-9%/năm. Trong đó: Công nghiệp

- xây dựng tăng 10-12,5%/năm; dịch vụ tăng 11-12,5%/năm; nông - lâm nghiệp thuỷ sản tăng 6-8,5%/năm.



-Quy mô GDP (theo giá thị trường) đến 2025 đạt khoảng 45-46 nghìn tỷ đồng

(2 - 2,5 tỷ USD).



-GDP bình quân đầu người đạt khoảng 45 triệu đồng (2.500 - 3.000USD).

-Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 31 - 32%; dịch vụ 41

- 42% và nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm khoảng 30 - 35%.



-Tỷ lệ huy động GDP vào NSNN (giá thị trường) hàng năm đạt 22 - 25%.

Để hoàn thành mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Bắc Kạn,



tỉnh Bắc Kạn lần thứ XV đặt ra đòi hỏi cơng tác quản lý chi ngân sách nhà nước nói

chung và quản lý chi thường xun ngân sách thành phố Bắc Kạn nói riêng phải

hồn thiện theo hướng phát triển bền vững, chi đúng mục tiêu, đúng chế độ chính

sách, đảm bảo tiết kiệm chi, ổn định chính trị và bảo vệ mơi trường.



4.1.2. Mục tiêu quản lý chi NSNN tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạnđến

năm 2025, định hướng đến 2030

- Thực hiện chính sách thắt chặt chi thường xuyên NSNN; thực hiện cải cách

tài chính cơng gắn liền với tinh giảm biên chế; thực hiện xã hội hoá một số khoản

chi thường xuyên để giảm dần nhiệm vụ chi này từ NSNN.

- Nâng cao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sử dụng ngân

sách, giúp đơn vị thực hiện sử dụng ngân sách tiết kiệm và có hiệu quả hơn.

- Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong quản lý chi thường

xuyên ngân sách ngành giáo dục; nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ

làm công tác quản lý chi ngân sách sự nghiệp giáo dục và đào tạo.

- Tích cực tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong tồn bộ q

trình sử dụng ngân sách chi thường xuyên

4.2.Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại

thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn tới



4.2.1.Cơ chế tự chủ về tài chính và biên chế đối với các cơ quan quản lý

nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập

Thứ nhất, để nâng cao hiệu quả trong quản lý, sử dụng kinh phí, đảm bảo cơng

khai, minh bạch và tăng cường giám sát của cán bộ, công chức, viên chức và các tổ

chức đoàn thể trong việc quản lý và sử dụng kinh phí, UBND thành phố Bắc Kạn, cơ

quan Tài chính cần chấn chỉnh và yêu cầu các đơn vị dự tốn, đơn vị sự nghiệp cơng

lập trực thuộc thực hiện tốt việc xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ theo hướng dẫn,

để làm căn cứ triển khai thực hiện và kiểm sốt q trình sử dụng kinh phí được

giao tại đơn vị, đồng thời, gửi đến Kho bạc làm căn cứ kiểm soát chi theo quy định.

Thứ hai, việc giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị thực hiện chế độ tự

chủ về tài chính phải chi tiết theo hai phần. Phần kinh phí thực hiện tự chủ và kinh

phí khơng thực hiện tự chủ được áp dụng đối với cơ quan nhà nước; phần kinh phí

đảm



bảo hoạt động thường xun và kinh phí khơng thường xuyên áp dụng đối với các

đơn vị sự nghiệp công lập, để làm căn cứ cho KBNN trong việc kiểm soát, thanh

toán các khoản chi, làm căn cứ cho đơn vị xác định chính xác phần kinh phí tiết

kiệm được chi bổ sung thu nhập và trích lập các quỹ theo đúng quy định đối với

từng nguồn kinh phí, đảm bảo cho việc xử lý kinh phí cuối năm đúng chế độ.

Thứ ba, việc xây dựng dự toán, giao dự tốn cho các đơn vị sự nghiệp có thu

phải tính toán đến phần thu phát sinh từ hoạt động sự nghiệp như thu học phí, thu

phí, lệ phí... để cân đối vào dự toán thu chi hàng năm. Phần thu này phải được quản

lý qua kho bạc và chấp hành chế độ kiểm sốt chi theo quy định. Phòng Tài chính Kế hoạch cần hướng dẫn các đơn vị xây dựng dự tốn thu hàng năm để có căn cứ

giao dự toán, các khoản thu được phép để lại chi tại đơn vị cuối năm phải được

hạch toán ghi thu, ghi chi vào NSNN theo đúng quy định.



4.2.2. Rà soát, hoàn thiện hệ thống định mức phân bổ, định mức chi NSNN

Xây dựng dự toán chi ngân sách phải căn cứ vào các định mức kinh tế kỹ

thuật, định mức chi tiêu, các chế độ chính sách của Nhà nước, giá cả thị trường

hợp lý và khả năng cân đối ngân sách của địa phương. Phải thực hiện nghiêm trình

tự, thủ tục, thời gian xây dựng dự toán ngân sách theo quy định của Luật NSNN

và thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính hướng dẫn việc phân cấp, lập, chấp

hành quyết toán ngân sách. Nâng cao chất lượng lập dự tốn để đảm bảo quy mơ,

cơ cấu các khoản chi hợp lý nhằm hạn chế lãng phí, ỷ lại, bao cấp trong khâu lập

dự toán, đồng thời tăng khả năng chấp hành ngân sách, tiết kiệm và hiệu quả chi

ngân sách. Phân bổ ngay từ dự toán đầu năm đối với các chế độ, chính sách và các

nhiệm vụ chi đã có đầy đủ cơ sở phân bổ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân

sách, tránh lãng phí nguồn nằm dư tại các cấp ngân sách.

Tham mưu cho UBND trình HĐND ban hành định mức phân bổ chi thường

xuyên ngân sách giai đoạn 2020-2025 phù hợp với Luật NSNN 2015, hệ thống định

mức phân bổ khoa học, phù hợp với tình hình thực tiễn, trong đó xem xét xây dựng

định mức phân bổ dự toán theo kết quả thực hiện nhiệm vụ (theo kết quả đầu ra) đối

với những đơn vị đã đảm bảo đủ điều kiện thực hiện theo quy định. Tăng cường

phân cấp quản lý NSNN cho cấp huyện, cấp xã để gắn trách nhiệm chính trị hay

trách



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.12: Kết quả điều tra các nhân tố ảnh hưởng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×