Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.12: Kết quả điều tra nhóm các doanh nghiệp và đơn vị thụ hưởng

Bảng 3.12: Kết quả điều tra nhóm các doanh nghiệp và đơn vị thụ hưởng

Tải bản đầy đủ - 0trang

65



Về cơng tác điều hành, cấp phát NSNN, nhìn chung công tác quản lý chi

NSNN được tiến hành một cách nghiêm túc, minh bạch; đã có những ràng buộc

giúp hạn chế các phát sinh trong chi NSNN, việc phân quyền đã khơng làm giảm

kiểm sốt chi và hầu hết các đơn vị dự toán NS đều đúng tiến độ. Bên cạnh đó, việc

thơng tin cho các đơn vị thụ hưởng trước khi lập dự tốn được đánh giá khá tốt.

Nhìn chung trong công tác điều hành cấp phát NSNN được đánh giá khá tốt theo

kết quả của phiếu điều tra.

Về cơng tác quyết tốn, kiểm tra: theo kết quả điều tra cho thấy cơng tác kiểm

tra kế tốn vẫn chưa được tiến hành thường xuyên và đảm bảo chất lượng; việc

kiểm tra đánh giá chưa được thực hiện theo lộ trình một cách thường xuyên và tiết

kiệm cho NSNN, việc lưu trữ chứng từ chưa phù hợp với tình hình thực tế, hệ

thống báo cáo kế toán chưa thực sự đảm bảo được cho công tác quản lý NSNN.

3.4.Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý chi thường xuyên NSNN tại thành phố

Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn



3.4.1. Các nhân tố khách quan

- Tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2017 của thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạnđạt

5,63%, GRDP bình quân đầu người năm 2017 đạt 26,3 triệu đồng. Sản xuất nông

lâm nghiệp đạt kết quả khá trong giai đoạn 2015-2017 (tốc độ tăng trưởng bình

quân đạt 2,93%/4,5%.

Với cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực như vậy nguồn thu ngân sách tăng

nhưng đồng thời nguồn chi NSNN tăng, vì chi là điều kiện cho tỉnh phát triển mọi

lĩnh vực, chi cho đầu tư phát triển như dự án, cơng trình XDCB cho hạ tầng tỉnh

thêm hồn thiện, văn minh và thu hút các nhà đầu tư vào địa bàn; chi thường

xuyên cho các mặt đời sống văn hóa xã hội từ an ninh, giáo dục đào tạo, y tế, …Có

thể thấy kinh tế thành phố Bắc Kạnphát triển làm cho quy mô chi tăng, do vậy mà

cơ quan tài chính tỉnh cần thực hiện chính sách quản lý số chi sao cho tiết kiệm,

hiệu quả, phân bổ nguồn lực cần tuân thủ tuyệt đối quy định của Luật NSNN,

chính sách phát triển KT- XH của thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

- Cơ chế, chính sách của Nhà nước ban hành đối với lĩnh vực tài chính - ngân



66



67



sách.

Cơ chế chính sách liên quan đến ngân sách nhà nước và kiểm soát chỉ thường

xuyên ngân sách nhà nước còn thiếu đồng bộ và chưa chặt chẽ. Các văn bản quy

định chế độ kiểm soát đối với các khoản chi thường xuyên mặc dù đã được bổ sung,

sửa đổi nhiều lần nhưng vẫn chưa đầy đủ, không bắt kịp với những thay đổi trong

thực tế.

Quản lý chấp hành dự toán chi thường xuyên được thực hiện theo các nội

dung chi gắn với các chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thụ hưởng ngân sách.

Trong quá trình thực hiện, đơn vị được điều chỉnh các nội dung chi, các nhóm mục

chi trong dự tốn chi được cấp có thẩm quyền giao cho phù hợp với tình hình thực

tế của đơn vị, đồng thời gửi cơ quan quản lý cấp trên và Kho bạc Nhà nước nơi đơn

vị mở tài khoản để theo dõi, quản lý, thanh toán và quyết tốn. Kết thúc năm ngân

sách, kinh phí do ngân sách chi hoạt động thường xuyên và các khoản thu sự

nghiệp chưa sử dụng hết, đơn vị được chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng.

Thông qua thực hiện cơ chế tự chủ các đơn vị chủ động sử dụng kinh phí, tài

sản, nguồn nhân lực có hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ; công tác quản lý, sử dụng

kinh phí được thực hiện chặt chẽ, cơng khai, dân chủ, góp phần tăng nguồn thu, tiết

kiệm chi để bổ sung nguồn kinh phí hoạt động, trích lập các quỹ, đầu tư trang thiết

bị, nâng cao chất lượng dịch vụ công, tăng thu nhập cho người lao động.

- Sự tham gia giám sát của các các tổ chức đoàn thể và người dân trên địa

bàn đối với công tác chi NSNN tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

Thanh tra, kiểm tra, giám sát là một chức năng quan trọng của QLNN và là

một nội dung của công tác quản lý chi NSNN. Mọi khoản chi của ngân sách tại

thành phố Bắc Kạnđều được kiểm tra, giám sát chặt chẽ không chỉ bởi các cơ quan

quản lý nhà nước cấp thành phố như: hoạt động giám sát của HĐND thành phố;

kiểm soát chi của cơ quan kho bạc thành phố, kiểm tra, thanh tra của Sở Tài chính,

Thanh tra nhà nước tỉnh mà còn chịu sự thanh tra, kiểm tốn của Thanh tra Bộ Tài

chính, Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán nhà nước. Việc thanh tra, kiểm tra, giám

sát được thực hiện ở tất cả các khâu trong chu trình ngân sách, vì vậy đã góp phần

nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng các khoản chi của ngân sách địa phương nói

chung và ngân sách cấp tỉnh nói riêng.



3.4.2. Các nhân tố chủ quan

- Nguồn lực của địa phương

Do tỉnh Bắc Kạn là một tỉnh miền núi phía Bắc, điều kiện kinh tế xã hội còn

nhiều khó khăn… do đó nhiệm vụ phát triển KT-XH và nguồn lực chi NSNN luôn

được tập trung vào việc nâng cấp, sửa chữa hệ thống kết cấu hạ tầng, tăng thu nhập,

cải thiện đời sống cho người dân, góp phần thu hẹp khoảng cách với các tỉnh miền

xi, bố trí cho đầu tư phát triển và thực hiện các chế độ, chính sách nhằm giảm

nghèo bền vững, cải thiện đời sống người dân.

Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn có nhiều nguồn lực đáp ứng sự phát triển

kinh tế xã hội bao gồm các nguồn lực về đất đai phục vụ phát triển nơng lâm

nghiệp; nguồn lực về khống sản phục vụ phát triển công nghiệp; nguồn lực về du

lịch… Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội nên hoạt động chi

NSNN cũng phát triển nhanh chóng, bởi vậy cần tạo điều kiện để nâng cao hiệu

quả quản lý chi NSNN.

- Sự lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền các cấp ở địa phương đối với công tác

quản lý chi NSĐP

Các lãnh đạo tại thành phố Bắc Kạn rất coi trọng công tác quản lý chi NSNN

tại địa bàn, bởi đó là nguồn vốn quan trọng đóng góp trực tiếp cho sự phát triển kinh

tế xã hội địa phương. Sử dụng nguồn chi tiết kiệm, hiệu quả là những chủ trương ưu

tiên và cơ bản nhất trong quá trình vận hành và quản lý. Để quản lý tốt công tác chi

NSNN, ban lãnh đạo tỉnh đã nỗ lực trong quá trình thực thi nhiệm vụ theo đúng

chức năng thẩm quyền được cơ quan tài chính cấp trên giao phó.

Tại thành phố Bắc Kạn, tiềm lực là phát triển nơng nghiệp, khai khống, du

lịch nên ban lãnh đạo ưu tiên đầu tư cho chi đầu tư phát triển (đặc biệt là XDCB)

hơn là chi thường xuyên (kinh tế, giáo dục, xã hội,…). Đây là hướng chi rất phù

hợp với điều kiện tình hình thực tiễn của địa phương, bởi khi đã đầu tư cho XDCB

tốt thì sẽ thu hút được các nhà đầu tư, khách du lịch, tạo ra nguồn thu lớn hơn.

UBND thành phố Bắc Kạn, Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố Bắc Kạn đã

tuân thủ các quy định của Nhà nước về quản lý chi đầu tư phát triển và xây dựng, về

cấp phát thanh toán vốn đầu tư, về quyết toán vốn đầu tư; từ đó góp phần hạn chế

tối



đa việc lãng phí, thất thốt trong đầu tư xây dựng cơ bản ngay từ khâu quyết định

đầu tư, bố trí vốn đầu tư, thực hiện đầu tư và thanh toán vốn đầu tư. Bố trí cơ cấu

chi đầu tư ln bám sát yêu cầu phục vụ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành

phố từ đó hồn thành vai trò là nguồn lực tài chính để phát triển Kinh tế - xã hội đã

đề ra.

- Năng lực, trình độ quản lý, đạo đức của cán bộ, công chức làm công tác

quản lý chi NSĐP

Con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển. Cần chú trọng đào tạo

nguồn nhân lực thông qua việc tăng cường đầu tư cho giáo dục, đào tạo và nghiên

cứu sắp xếp bộ máy tổ chức đảm bảo tinh gọn, hiệu quả.

Cán bộ thực hiện nhiệm vụ chi NSNN tại thành phố Bắc Kạn bao gồm cán bộ

chi ở các xã, phường và Phòng Tài chính - Kế hoạch của thành phố, thường xuyên

được quan tâm bồi dưỡng, cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ

công chức. Hàng năm tổ chức và cử công chức tham gia nhiều lớp tập huấn bồi

dưỡng về chính sách, cơ chế, quy trình nghiệp vụ. Thơng qua cơng tác đào tạo, bồi

dưỡng, trình độ cơng chức không ngừng được nâng cao; đồng thời từng bước cơ

cấu, sắp xếp đội ngũ công chức phù hợp với từng giai đoạn phát triển đảm bảo

tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả chỉ tiêu biên chế được giao.

Cơng tác quản lý chi NSNN rất quan trọng nên ban lãnh đạo tỉnh rất quan tâm

đến công tác phát triển đội ngũ không chỉ về số lượng mà hơn hết tăng cường chất

lượng cán bộ. Hầu hết các cán bộ quản lý chi NSNN đều đã qua đào tạo trình độ Đại

học của ngành kinh tế trong cả nước, hàng năm Phòng Tài chính - Kế hoạch được

UBND thành phố Bắc Kạn giao nhiệm vụ tổ chức các lớp tập huấn, cập nhật bổ

sung kiến thức mới về quản lý Tài chính nên phần nào đã phát huy được hiệu lực

hiệu quả của việc quản lý chi NSNN tại Địa phương.

- Hệ thống thông tin, phương tiện quản lý

Hạ tầng CNTT, hiện nay cơ quan Tài chính có một hệ thống mạng máy tinh

diện rộng chuyên dùng (Mạng WAN) được quang hóa 100%, kết nối thơng suốt 7/7,

24/24 thơng qua 29 kênh truyền bằng cáp quang, từ Sở Tài chính đến các Phòng Tài

chính kế hoạch của các xã, phường, và thành phố. Hệ thống bao gồm 18 mạng LAN

với 16 máy chủ có cấu hình cao, 10 máy trạm và thiết bị mạng, hệ thống phần mềm



bản quyền máy chủ, phần mềm bảo mật, phần mềm quản lý truy cập Internet, phần

mềm phòng chống virus được cập nhật liên tục hàng ngày.

Hiện nay đội ngũ công chức chuyên môn về cơ bản đều đã nắm bắt, khai thác

và sử dụng các phần mềm ứng dụng trong thực hiện nhiệm vụ. Đối với cơng chức

tin học có kiến thức và kỹ thuật khá vững. Tuy nhiên trình độ tin học của cơng chức

cơ quan tài chính địa phương đều đạt trình độ tin học cơ bản ở mức nhất định

(chứng chỉ Tin học Văn phòng A, B…) nên khá hạn chế trong khi tác nghiệp với

các phần mềm quản lý chi NSNN.

Với thực trạng về trình độ khoa học kỹ thuật như trên ảnh hưởng đến công tác

quản lý chi NSNN, muốn tăng tốc mục tiêu ứng dụng khoa học kỹ thuật và cơng

nghệ đòi hỏi cán bộ tại cơ quan tài chính khơng ngừng nâng cao trình độ tin học,

ứng dụng trong nội bộ ngành, nếu khơng cải thiện tình hình này thì khó có thể đạt

được lợi ích tối đa khi thực hiện quản lý chi NSNN.

Dưới đây là kết quả điều tra trên cả ba nhóm đối tượng về các nhân tố ảnh hưởng

đến quản lý chi thường xuyên NSNN tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

Bảng 3.12: Kết quả điều tra các nhân tố ảnh hưởng

Chỉ tiêu



Điểm đánh

giá



Ý nghĩa



Điều kiện kinh tế - xã hội



2,78



Trung bình



Chính sách và thể chế kinh tế



3,2



Trung bình



Cơ chế quản lý NSNN



3,68



Mạnh



Trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập



1,89



Ít



Tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ quản lý



4,82



Rất mạnh



Sự tham gia của các ban ngành



4,11



Mạnh



Cơ sở vật chất



2,89



Trung bình



(Nguồn: tác giả tự điều tra và tổng hợp)

Qua bảng kết quả điều tra trên có thể thấy, trong các nhân tố thì ảnh hưởng

mạnh nhất đến quản lý chi thường xuyên NSNN thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc

Kạnlà yếu tố tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ quản lý (4,82). Khi nói đến cơ cấu

tổ chức



một bộ máy quản lý thu, chi ngân sách nói chung và chi thường xuyên ngân sách

nói riêng, người ta thường đề cập đến quy mơ nhân sự của nó và trong sự thiết

lập ấy chính là cơ cấu tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý chi thường xuyên ngân

sách và các mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các bộ phận trong quá

trình thực hiện chức năng này. Hay nói cách khác, điều quan trọng hơn cả là phải

thiết lập cụ thể rõ ràng, thông suốt các “mối quan hệ ngang” và các “mối quan hệ

dọc”. Sự thiết lập ấy được biểu hiện thông qua qui định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn giữa các cấp, các bộ phận trong tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý chi

thường xuyên ngân sách. Quy định chức năng nhiệm vụ của bộ máy và cán bộ

quản lý theo chức năng trách nhiệm quyền hạn giữa bộ phận này với bộ phận khác,

giữa cấp trên với cấp dưới trong q trình phân cơng phân cấp quản lý đó. Nếu việc

quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp tỉnh khơng rõ ràng,

cụ thể thì dễ xảy ra tình trạng hoặc thiếu trách nhiệm, hoặc lạm quyền trong việc

thực hiện nhiệm vụ quản lý chi thường xuyên ngân sách. Nếu bộ máy và cán bộ

năng lực trình độ thấp thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi thường xuyên

NSNN. Do đó tổ chức bộ máy và cán bộ là nhân tố rất quan trọng trong q trình tổ

chức quản lý thu, chi ngân sách nói chung và chi thường xuyên ngân sách nói

riêng.

Đứng thứ hai về mức độ ảnh hưởng là nhân tố sự gắn kết tham gia của các

ban ngành (4,11). Qua thực tế cho thấy, nếu sự gắn kết tham gia của các ban ngành

cao sẽ giảm thiểu được sai lệch trong cung cấp thông tin của đối tượng sử dụng

nguồn lực tài chính cơng, kiểm sốt được tồn bộ nội dung chi, nguyên tắc chi và

tuân thủ theo các quy định về quản lý nguồn tài chính cơng đảm bảo theo dự toán

đã đề ra. Việc đưa ra các kế hoạch triển khai các công việc hợp lý, rõ ràng để tạo

nên một cơ cấu tổ chức hợp lý, có hiệu quả và có sự phân định rõ ràng về trách

nhiệm, quyền hạn giữa các ban ngành cũng như giữa các khâu, các bộ phận của

bộ máy quản lý chi NSNN là vô cùng quan trọng. Mức độ ảnh hưởng là nhân tố sự

gắn kết tham gia của các ban ngành nếu khơng có sự gắn kết sẽ dẫn đến thiếu

chính xác giữa các khâu, sai sót, nhầm lẫn, trùng lặp đối tượng giữa các chính

sách còn nhiều, trong khi đó việc hướng dẫn thực hiện của các cơ quan chức

năng, nhất là các bộ ngành ở trung ương đối với một số chế độ còn chậm, chưa

kịp thời, gây nhiều lúng túng cho cơ sở.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.12: Kết quả điều tra nhóm các doanh nghiệp và đơn vị thụ hưởng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×