Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.9: Kết quả kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN Thành phố Bắc Kạn giai đoạn 2015 - 2017

Bảng 3.9: Kết quả kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN Thành phố Bắc Kạn giai đoạn 2015 - 2017

Tải bản đầy đủ - 0trang

60



chế độ, mua sắm ô tô, phương tiện, tài sản có giá trị lớn và chứng từ khơng hợp lệ

là những nội dung các đơn vị, cơ quan trên địa bàn Thành phố Bắc Kạn thường

mắc phải và đưa ra dự tốn chưa hợp lý. Lý do, là vì hiện tại đa phần trang thiết bị,

cơ sở vật chất, phương tiện đi lại của các đơn vị, cơ quan đều đã cũ, có nhiều đơn

vị chưa được đổi mới trong khoảng chục năm trở lại đây.

Bên cạnh những kết quả đạt được, cơng tác quản lý, kiểm sốt, thanh tốn các

khoản chi thường xuyên của ngân sách nhà nước qua KBNN Thành phố Bắc Kạn

còn một số vấn đề cần phải được UBND Thành phố Bắc Kạn, Phòng Tài chính - Kế

hoạch, KBNN Thành phố Bắc Kạn và các đơn vị sử dụng ngân sách tỉnh cần quan

tâm, tháo gỡ.

Một là, nguồn kinh phí khơng thực hiện tự chủ, kinh phí khơng thường

xun, kinh phí hoạt động sự nghiệp khơng được UBND Thành phố Bắc Kạn giao

hết cho các đơn vị dự tốn ngay từ đầu năm. Điều đó đã làm cho các đơn vị dự

tốn khơng chủ động trong việc triển khai các nội dung liên quan đến mua sắm,

sửa chữa tài sản cố định và các nội dung chi thuộc các nguồn kinh phí trên. Mặt

khác, số dư nguồn kinh phí này cuối năm khơng chi hết muốn chuyển sang năm

sau, đơn vị phải có văn bản đề nghị và phải được sự đồng ý của cấp có thẩm

quyền. Quy định như vậy đã dẫn tới tình trạng đơn vị dự toán tổ chức mua sắm,

sửa chữa tài sản bị dồn nhiều vào những ngày cuối năm. Quy trình mua sắm, sửa

chữa thường khơng đảm bảo quy định. Đặc biệt, đối với những gói thầu mua sắm

có giá trị trên 100 triệu đồng phải thực hiện chào hàng cạnh tranh hoặc đấu thầu

sẽ không đủ thời gian để tiến hành các bước theo quy định. Tình trạng đơn vị chia

nhỏ gói thầu để thực hiện chỉ thầu hoặc mua sắm trực tiếp còn khá phổ biến. Thời

gian trên hồ sơ mua sắm thường khơng đảm bảo lơgíc và hợp lý như ngày phê

duyệt dự toán mua sắm, báo giá đơn vị gửi đến, ngày ra quyết định lựa chọn nhà

thầu, ngày ký hợp đồng và bàn giao thanh lý hợp đồng chỉ trong vòng có vài ngày,

thậm chí trong cùng một ngày. Hai là, thực hiện Thông tư 33/2006/TT-BTC, ngày

17/4/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý thu chi tiền mặt qua KBNN, KBNN

Thành phố Bắc Kạn đã tăng cường cơng tác kiểm sốt chi, đơn đốc các đơn vị dự

toán tăng cường áp dụng phương



61



thức thanh tốn khơng dùng tiền mặt như mở tài khoản cá nhân để trả lương, thu

nhập qua tài khoản ATM; các khoản chi mua sắm, sửa chữa, dịch vụ của đơn vị khi

ký hợp đồng với các doanh nghiệp, cá nhân có tài khoản mở tại ngân hàng phải

thực hiện thanh tốn bằng chuyển khoản... Tuy nhiên, do thói quen chi tiêu bằng

tiền mặt và dịch vụ thanh toán qua thẻ ATM của các ngân hàng trên địa bàn chưa

phát triển, các đơn vị còn rút và tạm ứng nhiều tiền mặt về quỹ để chi lương, chi

thanh toán các khoản cho cá nhân và cả các khoản mua sắm vật tư văn phòng, cơng

cụ, dụng cụ, tài sản cố định hay sửa chữa tài sản cố định.

Ba là, đội ngũ cán bộ làm kế toán tại các đơn vị chưa được đào tạo bồi dưỡng

bài bản, trình độ nghiệp vụ còn hạn chế, đặc biệt là cán bộ giữ chức danh kế toán

trưởng (hoặc phụ trách kế toán) tại các đơn vị chưa được đào tạo, cấp chứng chỉ

theo đúng quy định của luật kế toán, nên chứng từ chi NSNN gửi đến kho bạc

thường có nhiều sai sót như sai nội dung chi, sai mục lục ngân sách, thiếu dấu, chữ

ký; thiếu hồ sơ kiểm soát chi...

Bốn là, các cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập trên địa

bàn đã được giao quyền tự chủ trong quản lý và sử dụng kinh phí. Theo quy định,

đơn vị phải lập quy chế chi tiêu nội bộ gửi Kho bạc làm căn cứ kiểm soát chi và

trích lập các quỹ và chi trả thu nhập tăng thêm. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại,

nhiều đơn vị chưa ban hành quy chế chi tiêu nội bộ gửi Kho bạc làm căn cứ kiểm

sốt. Có đơn vị đã xây dựng quy chế những quy định về phân phối, sử dụng nguồn

kinh phí tiết kiệm chi thường xun khơng đầy đủ, khơng rõ ràng, quy định về

trích lập các quỹ, phân phối thu nhập từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi còn chung

chung, gây khó khăn trong việc kiểm sốt chi, hạch tốn trích lập các quỹ và quyết

tốn kinh phí của đơn vị.



3.3.5. Nhận thức của đối tượng tham gia về công tác quản lý chi thường

xuyên NSNN tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

Để điều tra nhận thức của các đối tượng tham gia về công tác quản lý chi

thường xuyên NSNN tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, tác giả sử dụng phiếu

điều tra để tiến hành thu thập dữ liệu trên 3 nhóm đối tượng là các nhà quản lý,

các nhân viên



62



tham gia vào công tác quản lý chi thường xuyên, các doanh nghiệp và các đơn vị

thụ hưởng. Kết quả điều tra được thể hiện như sau

* Nhóm đối tượng là các nhà quản lý

Bảng 3.10: Kết quả điều tra nhóm các nhà quản lý



Điểm

1,92

2,67

đánh

Trung

nghĩa

3,33

Khá

(Nguồn: tác

giả 3,21

tự

điềugiá

tra vàÝtổng

hợp)

3,56

Tốt

bình

Chu Từ

trình

tốn

sách

là mức

một độchuỗi

bảngdựđiều

tra ngân

trên cho

thấy,

logic và chặt chẽ chu trình dự tốn

Chỉ tiêu



logicsách

và chặt

chẽđánh giá ở mức trung bình (1,92); sự liên kết chặt chẽ giữa kinh tế

ngân

được

mô,thu

dự chi

báo NS

thu và

- chi

NSNN,

vĩKinh

mô, tếdựvĩbáo

trần

ngân trần

sáchNSNN

ở mức khá (2,67); Sự rõ ràng về mặt

được liên kết với nhau

thời gian của chu trình lập dự tốn và sự đầy đủ của hệ thống các văn bản quy định

Chu trình lập dự tốn được xác định rõ ràng

về lập NS được đánh giá ở mức tốt (3,56); Việc phân quyền không làm giảm kiểm

về thời gian và được cung cấp một hệ thống luật

soát chi được đánh giá ở mức khá (3,33); Thơng tin về tình hình thực hiện chi có

và các quy định cho quy trình lập NSNN

giá trị đối với công tác kiểm tra và báo cáo kết quả được đánh giá ở mức khá

Phân quyền đã khơng làm giảm kiểm sốt

(3,21).

chi NSNN

Thơng tin về tình hình thực hiện chi có giá

trị đối với cơng tác kiểm tra và báo cáo kết quả.



63



* Nhóm đối tượng là nhân viên thực hiện

Bảng 3.11: Kết quả điều tra nhóm nhân viên thực hiện

Điểm đánh

Ý nghĩa

giá



Chỉ tiêu

Chu trình lập dự toán được xác định rõ ràng

về thời gian và được cung cấp một hệ thống luật và

các quy định cho quy trình lập NSNN



4,11



Tốt



Lập dự tốn có xem xét đến tình hình hiện tại

và nguồn ngân sách thực tế



1,98



Trung

bình



Cơng tác quản lý chi được tiến hành nghiêm

túc, minh bạch



3,34



Khá



Có những ràng buộc hạn chế các phát sinh

trong chi NSNN



2,89



Khá



Phân quyền

chi NSNN



3,32



Khá



Các đơn vị dự tốn NS đúng tiến độ



2,76



Khá



Cơng tác kiểm tra kế toán hiện tại được tiến

hành thường xuyên, đảm bảo



1,92



Trung

bình



Các kiểm tra, đánh giá thì được thực hiện

theo lộ trình một cách thường xuyên và tiết kiệm

cho ngân sách nhà nước



1,98



Trung

bình



đã



khơng



làm



giảm



kiểm



sốt



(Nguồn: tác giả tự điều tra và tổng hợp)

Sự rõ ràng về thời gian của chu trình lập NSNN và mức độ đầy đủ của hệ

thống luật và các quy định về quy trình lập NS được đánh giá ở mức tốt (4,11);

Việc lập dự tốn có xem xét đến tình hình hiện tại và nguồn ngân sách thực tế

được đánh giá ở mức trung bình (1,8); Sự nghiêm túc, minh bạch của công tác

quản lý ở mức khá (3,34); Mức độ ràng buộc bán chế các phát sinh trong chi

NSNN ở mức khá (2,89); Phân quyền khơng làm giảm kiểm sốt chi NSNN ở mức

khá (3,32); Tiến độ lập dự toán NS của các đơn vị dự tốn ở mức khá (2,76); cơng

tác kiểm tra, kế toán được tiến hành thường xuyên đảm bảo được đánh giá ở mức

trung bình (1,92); Các kiểm tra, đánh giá thì được thực hiện theo lộ trình một cách

thường xuyên và tiết kiệm cho ngân sách nhà nước ở mức trung bình (1,98);



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.9: Kết quả kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN Thành phố Bắc Kạn giai đoạn 2015 - 2017

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×