Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.8: Tổng hợp quyết toán chi sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015-2017

Bảng 3.8: Tổng hợp quyết toán chi sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015-2017

Tải bản đầy đủ - 0trang

55



NĂM 2015

ST

T



NĂM 2016

Thực



CHỈ TIÊU



Dự toán Thực hiện

(trđ)



(trđ)



Thực



hiện/



Dự toán



Thực hiện



hiện/



Dự toán



(trđ)



(trđ)



Dự toán



(%)

- Mua sắm tài sản, thiết

bị cho các trường

II

1



Sự nghiệp Đào tạo &

Dạy nghề

Trung tâm bồi dưỡng

chính trị



2 Trung tâm dạy nghề



So sánh (%)



NĂM 2017

Thực

Dự tốn Thực hiện

(trđ)



(trđ)



(%)



hiện/



2016/



2017/



Bình



Dự tốn



2015



2016



qn



(%)



53.648



54.022



100,7



57.312



58.892



102,8



62.259



65.612



105,4



109,0



111,4



110,2



85.046



86.648



101,9



93.827



95.468



101,7



94.429



99.618



105,5



110,2



104,3



107,3



56.171



56.944



101,4



61.067



62.317



102,0



62.013



65.027



104,9



109,4



104,3



106,9



28.875



29.704



102,9



32.760



33.151



101,2



32.416



34.591



106,7



111,6



104,3



108,0



(Nguồn: Báo cáo quyết toán chi NSNN giai đoạn 2015 - 2017 của Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố Bắc Kạn)



56



Chi sự nghiệp Y tế:

Chi cho sự nghiệp Y tế là khoản chi quan trọng, nhằm tăng cường chất lượng

chăm sóc sức khỏe, đảm bảo tính mạng của người dân, bình qn ln chiếm trên

10% tỷ trọng chi thường xun NS Thành phố Bắc Kạn. Tuy số kinh phí cho sự

nghiệp Y tế có giảm theo từng năm nhưng chất lượng các dịch vụ y tế vẫn được

đảm bảo và công tác khám chữa bệnh cho người dân vẫn đạt hiệu quả cao.

Chi sự nghiệp kinh tế:

Để tạo đà cho kinh tế của mỗi địa phương phát triển, việc tăng cường cho sự

nghiệp kinh tế là việc rất cần thiết. Hàng năm, NSNN Thành phố Bắc Kạnluôn

dành một khoản kinh phí lớn để chi. Đây là khoản chi có vai trò quan trọng, nó ảnh

hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng nguồn thu của NS tỉnh trước đây cũng như

hiện nay. Nhiệm vụ chi chủ yếu của khoản chi này là chi trả trợ cấp cho cán bộ

làm công tác khuyến nơng, khuyến ngư và duy trì bảo dưỡng các cơng trình hạ

tầng kinh tế của địa phương như đường giao thơng, cầu cống, sửa chữa nhỏ các

cơng trình phúc lợi động....

Trong khâu chấp hành dự tốn đã có cách quản lý khá chặt chẽ việc cấp phát

chi sự nghiệp kinh tế. Việc cấp phát phải dựa theo dự toán chi tiết của các dự án

đầu tư sửa chữa, nâng cấp hay xây dựng mới. Các khoản chi lớn đều lập hồ sơ xin

quyết định của UBND tỉnh theo đúng trình tự thủ tục nên cũng tăng hiệu quả quản

lý của cấp trên. Nhưng vẫn có tình trạng thất thốt vốn trong khâu quản lý các

khoản chi nhỏ. Vì vậy cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng, ban chun mơn,

phòng Tài chính - Kế hoạch và Kho bạc nhà nước. Nhìn chung chi sự nghiệp kinh

tế vẫn chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng chi của thường xuyên NSNN Thành

phố Bắc Kạn, cần có những biện pháp quản lý chi sự nghiệp kinh tế để nâng cao

hiệu quả quản lý.

Chi quản lý hành chính:

Đây là khoản chi chiếm tỷ trọng khá lớn trong các khoản chi thường xuyên

chiếm trên 20% tổng chi thường xuyên NSNN Thành phố Bắc Kạn. Chi quản lý

hành chính bao gồm các khoản chi cho hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ

quan Đảng Cộng sản Việt Nam; hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở địa

phương (Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội

Liên hiệp phụ



57



nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đồn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh...).

Đây là khoản chi đảm bảo duy trì hoạt động của bộ máy chính quyền Thành phố

Bắc Kạnvà khá ổn định qua các năm.

3.3.4.2. Công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà

nước tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý chi thường xuyên ngân sách

đã được UBND Thành phố Bắc Kạn quan tâm, chú trọng. Hàng năm, trong Kế

hoạch thanh tra của Thanh tra Thành phố Bắc Kạnđều có nội dung thanh tra lĩnh

vực quản lý chi ngân sách, qua đó phát hiện, ngăn ngừa và chấn chỉnh kịp thời

những sai sót, những vi phạm trong việc sử dụng ngân sách, hạn chế tiêu cực và

thất thốt, lãng phí trong sử dụng ngân sách.

Về chế độ kiểm tra của cơ quan nhà nước như Phòng Tài chính - Kế hoạch,

Kho bạc Nhà nước đối với quản lý chi thường xuyên ngân sách cũng được tăng

cường thông qua việc thẩm tra, thẩm định phương án phân bổ dự toán của các

đơn vị dự toán hàng năm; thơng qua việc chấp hành dự tốn và chấp hành chế độ

kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách qua KBNN; thông qua thẩm định và

phê duyệt quyết tốn hàng năm.

Tuy nhiên, trong q trình kiểm tra, khi Phòng Tài chính - Kế hoạch phát hiện

việc lập dự toán, phân bổ dự toán, báo cáo quyết toán của các đơn vị lập dự tốn

chưa chính xác, đầy đủ hoặc KBNN trong q trình kiểm sốt, thanh tốn các

khoản chi thường xuyên NSNN, kiểm tra phát hiện các đơn vị chi tiêu chưa đúng

định mức, tiêu chuẩn, thiếu hồ sơ kiểm sốt chi... thì chỉ được quyền ra thông báo

số kiểm tra hoặc thông báo từ chối thanh toán và trả lại cho đơn vị để bổ sung, điều

chỉnh. Những vi phạm này chưa có chế tài xử phạt, do vậy, chưa tạo nên áp lực

buộc thủ trưởng, kế toán trưởng các đơn vị sử dụng ngân sách phải nâng cao tinh

thần trách nhiệm, hạn chế tối đa vi phạm trong quản lý và sử dụng NSNN được

giao.

Việc kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên của NSNN được áp

dụng riêng cho từng loại hình đơn vị dự toán. Hiện nay, KBNN Thành phố Bắc Kạn

thực hiện quản lý kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xun theo thơng tư

số



58



161/2016/TT-BTC ngày 02/10/2016 của Bộ Tài chính về việc Quy định chế độ

kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước (thay thế Thơng

tư số 79/2003/TT-BTC, ngày 13/8/2003 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế

độ quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN). Đây được xem

là văn bản gốc để thực hiện việc kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN. Khi thực

hiện Nghị định



130/2005/NĐ-



CP,



ngày



17/10/2005







Nghị



định



43/2006/NĐ-CP, ngày 25/4/2006 của Chính phủ về quy định thực hiện chế độ tự

chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, biên chế đối với các cơ quan nhà nước và đối

với các đơn vị sự nghiệp cơng lập, Bộ Tài chính ban hành thêm 2 thơng tư hướng

dẫn kiểm sốt chi đối với 2 loại hình đơn vị dự tốn trên. Đó là Thơng tư số

18/2006/TT -BTC, ngày 13/3/2006 (sau này có bổ sung, sửa đổi thêm tại Thông tư

84/2007/TT-BTC ngày 17/7/2007) và Thông tư số 81/2006/TT-BTC ngày

09/6/2006 (sau này bổ sung, sửa đổi thêm tại thơng tư 153/2007/TT-BTC ngày

17/12/2007).

Nhìn chung, trong thời gian qua, KBNN Thành phố Bắc Kạn đã chấp hành tốt

các quy định về quản lý, kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên. Chấp

hành đúng quy trình thanh toán, kiểm soát chặt chẽ hồ sơ, chứng từ chi của các đơn

vị. KBNN Thành phố Bắc Kạn đã kiên quyết từ chối các khoản chi sai mục đích,

sai chế độ, vượt định mức, tiêu chuẩn Nhà nước quy định hoặc khơng có trong quy

chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

Việc kiểm soát chi thường xuyên trong thời gian qua cho thấy, về cơ bản các

đơn vị dự toán sử dụng kinh phí được giao đúng mục đích, đúng đối tượng, chấp

hành đúng chế độ hóa đơn, chứng từ; chấp hành định mức, tiêu chuẩn chi tiêu. Đặc

biệt, từ khi thực hiện Thông tư số 68/2016/TT-BTC ngày nhằm duy trì chức sửa



chữa và kiểm sốt chặt chẽ hơn, hạn chế thất thốt, lãng phí NSNN.

Việc giao quyền tự chủ cho các đơn vị dự toán và cho phép số dư dự tốn từ

nguồn kinh phí giao thực hiện tự chủ (đối với cơ quan nhà nước), kinh phí đảm

bảo hoạt động thường xuyên (đối với đơn vị sự nghiệp công lập) cuối năm không

chi hết được chuyển sang năm sau đã tạo chủ động cho đơn vị dự toán trong chi

tiêu và sử dụng ngân sách. Hiện tượng chi chạy kinh phí vào những ngày cuối

năm đã được



59



hạn chế tối đa. Việc giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về quản lý và sử

dụng kinh phí đã thúc đẩy đơn vị áp dụng các biện pháp quản lý trong chi tiêu

nhằm tiết kiệm kinh phí, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cán bộ và cải thiện

điều kiện làm việc cho người lao động.

3.3.4.3. Công tác kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN thành phố Bắc Kạn, tỉnh

Bắc Kạn

Thơng qua kiểm sốt chi thường xun, KBNN Thành phố Bắc Kạn đã phát

hiện nhiều khoản chi của các đơn vị sử dụng ngân sách chưa chấp hành đúng thủ

tục, chế độ quy định và từ chối thanh toán nhiều tỷ đồng. Số liệu kiểm soát chi

NSNN và từ chối thanh toán qua KBNN Thành phố Bắc Kạn trong thời gian qua

được thể hiện qua bảng 3.9.

Bảng 3.9: Kết quả kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN Thành phố Bắc Kạn

giai đoạn 2015 - 2017

STT



1



Chỉ tiêu

Đơn vị chưa chấp hành đúng điều kiện

chi quy định



2



Số món từ chối



3



Số tiền từ chối thanh tốn



Đơn vị tính



Năm



Năm



Năm



2015



2016



2017



đơn vị



243



283



300



món



337



430



450



triệu đồng



11.633 23.954 22.081



Trong đó:

- Vượt, khơng có dự tốn



triệu đồng



2.062



14.5



6.568



- Vượt tồn quỹ NS



triệu đồng



292



247



362



- Sai số tiền bằng chữ, bằng số



triệu đồng



533



510



337



triệu đồng



8.746



- Sai mục đích, khơng đúng chế

độ, định mức, chứng từ khơng hợp



8.635 14.814



lệ (Nguồn: Báo cáo kiểm sốt chi hàng năm của KBNN Thành phố Bắc Kạn)

Trong số các khoản chi lớn KBNN Thành phố Bắc Kạn đã từ chối thanh toán

cho các đơn vị, các nội dung như: Mua sắm trang thiết bị, chi vượt dự toán, chi sai



60



chế độ, mua sắm ô tô, phương tiện, tài sản có giá trị lớn và chứng từ khơng hợp lệ

là những nội dung các đơn vị, cơ quan trên địa bàn Thành phố Bắc Kạn thường

mắc phải và đưa ra dự tốn chưa hợp lý. Lý do, là vì hiện tại đa phần trang thiết bị,

cơ sở vật chất, phương tiện đi lại của các đơn vị, cơ quan đều đã cũ, có nhiều đơn

vị chưa được đổi mới trong khoảng chục năm trở lại đây.

Bên cạnh những kết quả đạt được, cơng tác quản lý, kiểm sốt, thanh tốn các

khoản chi thường xuyên của ngân sách nhà nước qua KBNN Thành phố Bắc Kạn

còn một số vấn đề cần phải được UBND Thành phố Bắc Kạn, Phòng Tài chính - Kế

hoạch, KBNN Thành phố Bắc Kạn và các đơn vị sử dụng ngân sách tỉnh cần quan

tâm, tháo gỡ.

Một là, nguồn kinh phí khơng thực hiện tự chủ, kinh phí khơng thường

xun, kinh phí hoạt động sự nghiệp khơng được UBND Thành phố Bắc Kạn giao

hết cho các đơn vị dự tốn ngay từ đầu năm. Điều đó đã làm cho các đơn vị dự

tốn khơng chủ động trong việc triển khai các nội dung liên quan đến mua sắm,

sửa chữa tài sản cố định và các nội dung chi thuộc các nguồn kinh phí trên. Mặt

khác, số dư nguồn kinh phí này cuối năm khơng chi hết muốn chuyển sang năm

sau, đơn vị phải có văn bản đề nghị và phải được sự đồng ý của cấp có thẩm

quyền. Quy định như vậy đã dẫn tới tình trạng đơn vị dự toán tổ chức mua sắm,

sửa chữa tài sản bị dồn nhiều vào những ngày cuối năm. Quy trình mua sắm, sửa

chữa thường khơng đảm bảo quy định. Đặc biệt, đối với những gói thầu mua sắm

có giá trị trên 100 triệu đồng phải thực hiện chào hàng cạnh tranh hoặc đấu thầu

sẽ không đủ thời gian để tiến hành các bước theo quy định. Tình trạng đơn vị chia

nhỏ gói thầu để thực hiện chỉ thầu hoặc mua sắm trực tiếp còn khá phổ biến. Thời

gian trên hồ sơ mua sắm thường khơng đảm bảo lơgíc và hợp lý như ngày phê

duyệt dự toán mua sắm, báo giá đơn vị gửi đến, ngày ra quyết định lựa chọn nhà

thầu, ngày ký hợp đồng và bàn giao thanh lý hợp đồng chỉ trong vòng có vài ngày,

thậm chí trong cùng một ngày. Hai là, thực hiện Thông tư 33/2006/TT-BTC, ngày

17/4/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý thu chi tiền mặt qua KBNN, KBNN

Thành phố Bắc Kạn đã tăng cường cơng tác kiểm sốt chi, đơn đốc các đơn vị dự

toán tăng cường áp dụng phương



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.8: Tổng hợp quyết toán chi sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015-2017

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×