Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.3: Tổng hợp quyết toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015-2017

Bảng 3.3: Tổng hợp quyết toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015-2017

Tải bản đầy đủ - 0trang

cấp triển khai thực hiện một số nội dung chi sự nghiệp giáo dục (toàn bộ nội dung

chi cho khối giáo dục Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở). Những nội dung này

trước đây đã được UBND thành phố Bắc Kạn giao chỉ tiêu kế hoạch chi thường

xuyên NS cấp thành phố cho Phòng Giáo dục các huyện thực hiện, theo Quyết

định số 68/2015/QĐ- UBND ngày 25/03/2015 của UBND thành phố Bắc Kạn, tỉnh

Bắc Kạn về việc giao chỉ tiêu kế hoạch nhà nước năm 2015.

Đối với nội dung chi hoạt động sự nghiệp, bao gồm chi sự nghiệp kinh tế, sự

nghiệp môi trường, sự nghiệp Giáo dục đào tạo, ứng dụng khoa học công nghệ, sự

nghiệp y tế, sự nghiệp văn hoá, thể thao... Nội dung chi này nhằm mục tiêu phát

triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; hỗ trợ người lao động phát triển kinh tế gia

đình; đưa các mơ hình sản xuất ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào các lĩnh

vực chăn nuôi, trồng trọt; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thơng qua các

chương trình hỗ trợ đào tạo và chuyển giao công nghệ; nâng cao chất lượng cuộc

sống của người dân; tuyên truyền, giáo dục các chính sách, pháp luật của Đảng, của

nhà nước tới các tầng lớp dân cư thơng qua các hoạt động văn hố, thể thao, xây

dựng mạng lưới đài truyền thanh, đảm bảo hoạt động của các cơ sở, giáo dục đào

tạo do thành phố Bắc Kạn quản lý.

Chi cho hoạt động sự nghiệp giai đoạn 2015 đến 2017 chiếm tỷ trọng lớn nhất

trong tổng chi thường xuyên ngân sách nhà nước (khoảng từ 64,9% đến 71,4% )

điều này thể hiện sự quan tâm, chú trọng đến sự nghiệp phát triển kinh tế, giáo dục,

y tế, văn hoá của thành phố Bắc Kạn.

Về chi đảm bảo xã hội, khoản chi này được bố trí trong dự tốn để thực hiện

các chính sách xã hội đối với các đối tượng do thành phố Bắc Kạn quản lý như đảm

bảo xã hội, cứu đói, phòng chống các tệ nạn xã hội và các công tác xã hội khác

(thăm hỏi gia đình chính sách, hoạt động tình nghĩa...). Khoản chi này chiếm tỷ

trọng không lớn trong tổng chi thường xuyên, thường chiếm khoảng từ 2,5% đến

5,1% và tăng cao trong các năm 2017. Sở dĩ có tình trạng trên là do trong năm

2017 thành phố Bắc Kạn thực hiện một số đề án hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết

việc làm, nhà nước thay đổi chính sách về tiền lương, thực hiện trợ cấp khó khăn

và quà lễ tết cho các đối tượng chính sách.

Về chi quản lý hành chính, bao gồm các khoản chi cho hoạt động của các cơ



quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam; hoạt động của các tổ chức chính

trị - xã hội ở địa phương (Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Cựu chiến binh

Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đồn thanh

niên cộng sản Hồ Chí Minh cấp thành phố...). Đây là khoản chi đảm bảo duy trì

hoạt động của bộ máy chính quyền cấp thành phố và là khoản chi chiếm tỷ trọng

cao thứ 2 (đứng sau chi sự nghiệp) trong tổng chi thường xuyên ngân sách nhà

nước hàng năm (chiếm từ 13% - 19,2% so với tổng chi thường xuyên) và tăng

nhanh qua các năm. Tổng chi quản lý hành chính năm 2015 mới chỉ có 210.171

triệu đồng, đến năm 2017, tổng chi đã là 443.982 triệu đồng, tăng 2,1 lần so với

năm 2015. Chi quản lý hành chính ln đảm bảo có trong dự tốn được giao,

khơng chi vượt dự tốn. Khoản chi này có xu hướng tăng tương đối cao về số tuyệt

đối do thay đổi chính sách tiền lương và nhà nước điều chỉnh một số định mức chi

tiêu hành chính.

3.3.Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước tại thành phố

Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

Quản lý chi thường xuyên ngân sách cấp trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnh

Bắc Kạn từ khâu lập, phân bổ, chấp hành dự toán, kiểm soát thanh toán và quyết

toán được thực hiện trên cơ sở Luật Ngân sách, các văn hướng dẫn thực hiện Luật,

Nghị quyết của của HĐND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn và Quyết định của

UBND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn về phân cấp quản lý NSNN cho các cấp

trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn trong từng thời kỳ ổn định ngân

sách.



3.3.1. Thực trạng hệ thống định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên

ngân sách hàng năm

Trong những năm vừa qua, căn cứ vào các Quyết định của Thủ tướng Chính

phủ về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN, Hội

đồng Nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã ban hành Nghị quyết số 30/2010/NQ-HĐND

ngày 19/11/2010 về định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên cho thời kỳ ổn

định ngân sách bắt đầu từ năm 2011 của tỉnh Bắc Kạn; Nghị quyết số 49/2016/NQHĐND ngày 06/11/2016 về định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên cho thời

kỳ ổn định ngân sách bắt đầu từ năm 2017 của tỉnh Bắc Kạn.



Các hệ thống định mức phân bổ dự toán nêu trên có những ưu điểm cơ bản sau:

- Hệ thống định mức phân bổ được xây dựng với các tiêu chí phân bổ cụ thể,

rõ ràng, đơn giản phù hợp với đặc điểm của từng giai đoạn và đảm bảo tính cơng

bằng, hợp lý giữa các địa phương, đơn vị, có ưu tiên vùng sâu, vùng xa, ưu tiên đối

với các huyện có số đơn vị hành chính lớn và đơn vị có số biên chế ít; tăng tính

cơng khai, minh bạch của chi ngân sách nhà nước; khắc phục dần tình trạng “xin cho” trong cơng tác quản lý ngân sách.

- Hầu hết các lĩnh vực chi thường xuyên của ngân sách địa phương (NSĐP) đã

có định mức phân bổ nên việc bố trí ngân sách tương đối công bằng, hợp lý. Hơn

nữa, định mức phân bổ đã xây dựng theo những tiêu chí cụ thể (ví dụ số sinh viên,

số giường bệnh, biên chế...) và hệ số ưu tiên cho từng vùng, miền nên việc bố trí dự

toán cho các địa phương, các ngành được thuận lợi, đảm bảo nguồn lực tài chính

cần thiết đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

Ngồi kinh phí thường xun được phân bổ theo định mức nêu trên, khi Nhà

nước thay đổi chế độ, chính sách, thay đổi các định mức chi tiêu, định mức trang bị

tài sản làm việc... hoặc các đơn vị được giao thêm nhiệm vụ chi thì đều được xem

xét bổ sung dự tốn kinh phí.

Nhìn chung, định mức phân bổ ngân sách cho từng giai đoạn do UBND tỉnh

Bắc Kạn ban hành về cơ bản đã quán triệt được nguyên tắc công bằng, công khai,

minh bạch, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách của địa phương, đồng thời tăng

tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và chủ động trong sử dụng kinh phí ngân sách cho

các đơn vị; khuyến khích các địa phương, đơn vị tăng cường cơng tác quản lý tài

chính ngân sách, phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi, sử dụng ngân sách có hiệu quả,

góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc

phòng của địa phương.

Tuy nhiên, cơng tác xây dựng định mức cũng còn bộc lộ một số hạn chế sau:

- Căn cứ để xây dựng định mức phân bổ ngân sách chưa có cơ sở khoa học

vững chắc, chưa thật sự bao quát toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhiều

khi vẫn còn mang tính bình qn. Việc sử dụng các cơng cụ phân tích, thống kê

trong q trình xây dựng định mức còn rất hạn chế. Định mức phân bổ ngân

sách cho khối huyện, thị xã, thành phố phần lớn dựa trên chỉ số đơn vị hành chính

cấp xã, phường



trực thuộc, chưa xem xét đến điều kiện kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù của

từng vùng.

- Định mức phân bổ ngân sách chưa sát thực tiễn nên trong quá trình chấp hành

dự tốn một số đơn vị sử dụng ngân sách còn gặp khó khăn. Do vậy, trong q trình

thực hiện vẫn phải bổ sung dự toán chi thường xuyên cho các cơ quan, đơn vị.

- Chưa xây dựng được định mức phân bổ kinh phí mua sắm, sửa chữa lớn tài

sản cố định. Do vậy, vẫn chưa khắc phục được triệt để tình trạng “xin - cho ” trong

lĩnh vực này.

- Định mức được ban hành theo giai đoạn ổn định 05 năm, một mặt giúp các

đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch sử dụng kinh phí trong phạm vi dự tốn được

phân bổ, tuy nhiên cũng còn hạn chế là chưa được bổ sung, sửa đổi kịp thời dẫn

đến hàng năm phải bố trí thêm dự tốn ngồi định mức, kể cả bổ sung cho những

nội dung chi có tính chất thường xuyên.

- Đối với việc xây dựng định mức sử dụng ngân sách: Theo quy định của Luật

NSNN số 01/2002/QH11 (Điều 25) quy định: “Quyết định cụ thể một số định mức

phân bổ ngân sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi theo quy định của Chính

phủ”. Tuy nhiên cho đến nay Chính phủ vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể cho

các địa phương được ban hành những chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi nào.

3.3.2. Quản lý lập, phân bổ và giao dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước

3.3.2.1. Công tác lập dự toán chi thường xuyên ngân sách

Việc lập dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thành phố Bắc Kạn

trong thời gian qua đã được triển khai thực hiện theo các quy định của Luật Ngân

sách, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Ngân sách, Nghị quyết

và các văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền tại địa phương về phân cấp,

quản lý, điều hành ngân sách trong từng thời kỳ, trình tự cụ thể như sau:

- Căn cứ vào thông báo số kiểm tra dự tốn chi thường xun NSNNthơng báo

và thực hiện năm trước. Kế toán các đơn vị lập dự toán chi thường xuyên NSNN,

gửi báo cáo Thủ trưởng đơn vị trước ngày 30/6 năm trước.

- Sau khi dự toán được Thủ trưởng đơn vị xem xét, kế toán các đơn vị tham

mưu giúp Thủ trưởng đơn vị mình gửi báo cáo tới Phòng Tài chính - Kế hoạch tổng

hợp trước ngày 05/7 năm trước.



Việc lập dự toán chi thường xuyên NSNN ở thành phố Bắc Kạn được thực

hiện trên cơ sở quy định của Chính Phủ và các chế độ, định mức theo hướng phát

triển kinh tế - xã hội của thành phố Bắc Kạn, đồng thời phải bám sát với tình hình

thực tế của từng đơn vị. Các quy định về trình tự lập dự tốn chi thường xuyên

NSNN được bộ phận kế toán phụ trách chi thường xuyên NSNN các đơn vị thực

hiện đúng và đầy đủ dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của UBND thành phố Bắc Kạn,

UBND tỉnh Bắc Kạn và Sở Tài chính Bắc Kạn.

Dự toán chi ngân sách của các đơn vị dự toán đã được xây dựng trên cơ sở

nhiệm vụ được giao; các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu hiện hành,

định mức phân bổ chi ngân sách do cơ quan có thẩm quyền ban hành và tình hình

thực hiện dự tốn của các năm trước. Dự tốn được lập theo đúng nội dung, mẫu biểu

quy định, thể hiện đầy đủ các nội dung chi theo từng loại hình đơn vị dự tốn như

chi thường xun, chi khơng thường xun, kinh phí tự chủ, kinh phí khơng tự chủ...

Quản lý lập dự toán chi thường xuyên ngân sách tại thành phố Bắc Kạn cho

thấy, về cơ bản việc lập dự toán chi ngân sách đã được thực hiện theo đúng nguyên

tắc, nội dung, trình tự quy định. Chất lượng cơng tác lập dự tốn của các đơn vị dự

toán ngân sách cấp tỉnh đã dần được cải thiện. Việc tổng hợp và xây dựng dự toán

chi thường xuyên ngân sách thành phố Bắc Kạnvề cơ bản đảm bảo thời gian quy

định.Tình hình giao dự tốn chi thường xun giai đoạn 2015 - 2017 từ nguồn

NSNNthành phố Bắc Kạn được phản ánh qua số liệu ở bảng 3.4.

Bảng 3.4: Tổng hợp dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại

thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015-2017

Đơn vị tính: Triệu đồng

STT



Nội dung



Năm

2015



Tổng cộng



5.129.128



1



Chi trợ giá chính sách



2



Chi sự nghiệp

SN Kinh tế

SN Giáo dục - đào tạo



29.550



Năm

2016



Năm

2017



5.660.125 6.082.357



2016/

2015



2017/

2016



Bình

quân



110,4



107,5



108,9



49.550



133,8 125,3



129,6



3.666.943 4.012.583 4.270.720



109,4 106,4



107,9



770.397



119,0 120,2



119,6



2.262.289 2.377.650 2.448.566



105,1 103,0



104,0



538.733



39.550



So sánh (%)



640.840



Năm



Năm



2015



2016



2017



594.374



656.580



726.967



110,5 110,7



110,6



SN Khoahọc cơng nghệ



22.850



23.000



26.130



100,7 113,6



107,1



SN Văn hóa thể thao

& Du lịch



74.252



130.599



105.689



175,9



80,9



128,4



SN Phát Thanh

truyền hình



48.099



49.262



55.651



102,4 113,0



107,7



SNMơi trường



126.346



134.652



137.320



106,6 102,0



104,3



157.603



164.419



202.885



104,3 123,4



113,9



1.027.954 1.174.665 1.278.459



114,3 108,8



111,6



STT



Nội dung

SN Y tế



3 Chi đảm bảo xã hội

4 Chi Quản lý hành chính

5



So sánh (%)



Năm



Chi Quốc phòng và An

ninh



6 Chi khác



2016/

2015



2017/

2016



Bình

qn



190.978



201.808



210.673



105,7 104,4



105,0



56.100



67.100



70.070



119,6 104,4



112,0



(Nguồn: Báo cáo quyết tốn chi NSNN của Phòng Tài chính-Kế hoạch

thành phố Bắc Kạn)

Từ bảng 3.4 ta có thể nhận ra, hai nội dung chi cho sự nghiệp và chi quản lý

hành chính là hai nội dung được phân bổ và quan tâm nhiều nhất. Đặc biệt là nội

dung chi cho sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, đây là nội dung được thành phố

Bắc Kạn quan tâm, chú trọng phát triển nhiều nhất trong những năm qua.

Tuy nhiên, quản lý lập dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại

Thành phố Bắc Kạn còn có tồn tại, hạn chế, đó là: Thời gian nộp dự tốn còn

chậm, chất lượng dự tốn do các đơn vị được lập chưa cao, ít tính thuyết phục, số

liệu dự toán chưa bám sát với yêu cầu thực tế.

Nguyên nhân chủ yếu là do:



- Trình độ xây dựng dự toán của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách còn yếu

vì nhiều cán bộ làm cơng tác kế tốn tại các cơ quan, đơn vị khơng được đào tạo bài

bản. Trong q trình lập dự tốn, một số đơn vị thường lấy số dự toán giao năm trước

nhân với một tỷ lệ nhất định để lập dự toán năm sau mà chưa căn cứ vào định mức

phân bổ



ngân sách ổn định trong từng thời kỳ; chưa căn cứ vào việc điều chỉnh giảm hay bổ

sung nhiệm vụ chi; vào việc thay đổi chính sách về tiền lương, định mức chi tiêu

của Nhà nước. Số liệu dự toán được các đơn vị xây dựng khơng chính xác, thường

cao hơn so với định mức phân bổ ngân sách theo quy định mà khơng giải trình được

ngun nhân. Điều đó gây nhiều khó khăn cho Phòng Tài chính - Kế hoạch trong

việc tổng hợp và xây dựng dự toán ngân sách nhà nước của thành phố Bắc Kạn.



- Trong thực tế cơng tác lập và thảo luận dự tốn còn mang nặng tính hình

thức, thiếu dân chủ, áp đặt một chiều từ trên xuống, do vậy một số cơ quan, đơn vị

sử dụng ngân sách còn có tư tưởng đề phòng dự tốn sẽ bị cơ quan tài chính hoặc

đơn vị dự toán cấp trên cắt giảm bớt nên đã lập dự toán cao hơn so với định mức và

nhu cầu chi thực tế.



- Các kết quả dự toán trên cho thấy, chất lượng phân bổ dự toán hàng năm chưa

cao, chưa tập trung được nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của

tỉnh thể hiện: Chưa thực hiện tiết kiệm được chi thường xuyên để tăng chi đầu tư

phát triển theo tinh thần của Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18 tháng 11 năm 2016

của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ

công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an tồn, bền vững;chi sự nghiệp thể thao,

sự nghiệp văn hóa thơng tin, khoa học cơng nghệ còn thấp so với nhu cầu phát triển.

Bảng 3.1. Đánh giá khó khăn trong lập dự tốn chi ngân sách nhà nước của cán

bộ quản lý chi ngân sách tại tỉnh Bắc Kạn

Khơng khó khăn

STT



Danh mục



Khó khăn



Số ý

kiến



Tỷ lệ

(%)



Số ý

kiến



Tỷ lệ

(%)



1



Định mức chi



29



46,0



34



54,0



2



Chế độ chi



41



65,1



22



34,9



3



Mục lục chi ngân sách nhà nước



53



84,1



10



15,9



4



Thông tin dự báo



27



42,9



36



57,1



5



Phân cấp quản lý chi ngân sách



48



76,2



15



23,8



6



Hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên



51



81,0



12



19,0



(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra của tác giả)



- Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, nhu cầu xây dựng hệ thống đường giao thông là

cấp thiết nhất, tiếp theo đó là nhu cầu xây dựng trường học, bệnh viện. Nhu cầu xây

dựng công sở cũng tương đối cao nhưng chưa cấp thiết. Điều này là do Bắc Kạn

nằm trên khu vực có địa hình cao, đi lại còn gặp nhiều khó khăn, nhiều khu vực

trong tỉnh là vùng sâu vùng xa nên điều kiện giáo dục và y tế còn chưa đáp ứng

được nhu cầu của người dân.



- Trong dự tốn chi ngân sách, có thể thấy, lập dự toán chi ngân sách theo Mục

lục chi ngân sách nhà nước và Hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên là ít gặp

khó khăn nhất, chỉ chiếm tỷ lệ 15,9% và 19% do mục lục chi đã được cụ thể hóa

trong các văn bản của nhà nước nên địa phương có thể áp dụng được một cách

tương đối dễ dàng. Bên cạnh đó, việc lập dự tốn chi ngân sách nhà nước cũng

khơng gặp nhiều khó khăn trong Phân cấp quản lý chi ngân sách và trong chế độ

chi. Tuy nhiên, lập dự toán chi cũng gặp phải khó khăn trong việc đưa ra định mức

chi và thơng tin dự báo với số người đánh giá là gặp phải khó khăn trên 50%. Điều

này là do các thơng tin dự báo không được đầy đủ, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh

còn nhiều địa bàn, các huyện, các xã gặp nhiều khó khăn nên đã gây ra nhiều khó

khăn trong cơng tác dự tốn chi tại Bắc Kạn.

3.3.2.2. Quản lý phân bổ và giao dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước

Uỷ ban Nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn thực hiện quản lý phân

bổ, giao dự tốn chi ngân sách địa phương nói chung và chi thường xuyên ngân

sách nhà nước nói riêng theo quy định của Luật Ngân sách, các văn bản hướng dẫn

thực hiện Luật và Nghị định số 73/2003/NĐ-CP ngày 23/6/2003 của Chính phủ

về việc ban hành Quy chế xem xét, quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa

phương, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương.

Hàng năm, trên cơ sở quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ thu,

chi ngân sách nhà nước cho tỉnh; Sở Tài chính tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh

lập và trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định dự toán chi ngân sách tỉnh, thành

phố phương án phân bổ ngân sách nhà nước. Sau khi dự toán chi ngân sách nhà

nước và phương án phân bổ dự toán được HĐND tỉnh quyết định, UBND thành

phố Bắc Kạnra quyết định phê chuẩn dự toán ngân sách và giao nhiệm vụ thu, chi

ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc thành phố Bắc Kạn.



Theo quy định, dự toán chi ngân sách nhà nước tại thành phố Bắc Kạn và

phương án phân bổ ngân sách nhà nước phải thực hiện xong trước ngày 10/12 hàng

năm và dự toán giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách xong trước ngày 31/12 hàng

năm. Trường hợp sau ngày 31/12 hàng năm, vì khó khăn, vướng mắc mà các đơn vị

dự tốn chưa phân bổ xong dự toán được giao, phải báo cáo với Phòng Tài chính Kế hoach thành phố báo cáo lên Sở Tài chính để xem xét, cho phép kéo dài thời

gian phân bổ dự toán.

Qua theo dõi việc chấp hành quy định về phân bổ dự toán, thời gian qua, phân

bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở thành phố Bắc Kạnvẫn còn một

số hạn chế. Những hạn chế đó là:

Một là, thời gian giao và phân bổ dự toán đến đơn vị sử dụng ngân sách luôn

chậm hơn so với quy định.

Hai là, theo quy định dự toán phải được phân bổ hết và giao cho các đơn vị

ngay từ đầu năm. Trên thực tế, dự tốn chi ngân sách Thành phố Bắc Kạn thường

khơng được giao và phân bổ hết ngay từ đầu năm. Số dự toán giao đầu năm cho các

đơn vị so với số thực hiện trong năm thường rất thấp, chủ yếu mới chỉ giao phần

kinh phí tự chủ (đối với cơ quan quản lý nhà nước), kinh phí hoạt động thường

xuyên (đối với đơn vị sự nghiệp công lập) để đảm bảo chi lương, các khoản có tính

chất lượng và các khoản chi quản lý hành chính phân bổ theo định mức.

Đối với các nhiệm vụ chi hoạt động sự nghiệp, nguồn kinh phí khơng thực hiện

tự chủ, nguồn kinh phí chi khơng thường xun của các đơn vị dự tốn thường

khơng được UBND thành phố Bắc Kạnthực hiện giao hết ngay từ đầu năm. Trường

hợp được giao thì kinh phí cũng chỉ được giao một phần. Còn phần lớn dự toán chi

cho các nội dung trên được phân bổ và giao khi đơn vị đã triển khai thực hiện nhiệm

vụ, hoặc phân bổ dần vào hàng quý. Điều này đã dẫn tới tình trạng, dự tốn phải bổ

sung nhiều lần trong năm và đơn vị sử dụng ngân sách khơng được chủ động về

nguồn kinh phí nên triển khai nhiệm vụ không kịp thời, thường dồn về cuối năm.

Ba là, NSNN bảo đảm cân đối kinh phí hoạt động của Đảng Cộng sản Việt

Nam và các tổ chức chính trị - xã hội theo nguyên tắc ngân sách nhà nước cấp phần

chênh



lệch giữa dự toán chi ngân sách và nguồn thu được để lại của các tổ chức nêu trên

như đồn phí, đảng phí, cơng đồn phí, hội phí; các nguồn thu khác theo quy định

của pháp luật. Trên thực tế, ở Thành phố Bắc Kạn, việc lập, phân bổ và giao dự

toán cho các đơn vị thuộc đối tượng này chưa tính tốn, phản ánh phần thu trong

quyết định giao dự toán hàng năm.

Bốn là, việc phân bổ dự toán của Thành phố Bắc Kạn thời gian qua còn mang

tính bình qn, chủ yếu dựa vào định mức phân bổ cố định theo biên chế. Chính vì

vậy đã dẫn tới tình trạng có đơn vị thừa, có đơn vị thiếu kinh phí hoạt động, phải

xem xét bổ sung, điều chỉnh dự toán nhiều lần trong năm.

Năm là, Dự án cải cách quản lý tài chính cơng được Thủ tướng Chính phủ giao

cho Bộ Tài chính chủ trì và triển khai theo Quyết định số 432/QĐ - TTg ngày

21/4/2003. Kể từ ngày 01/9/2016, KBNN Bắc Kạn đã chính thức áp dụng hệ thống

thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc TABMIS, nằm trong Dự án cải cách quản lý

tài chính cơng của Bộ Tài chính. Việc triển khai thành cơng dự án này đã nâng cao

tính minh bạch trong quản lý tài chính cơng, hạn chế tiêu cực trong việc sử dụng

ngân sách, giúp cho các cơ quan có liên quan và các cấp chính quyền địa phương

cập nhật thơng tin, tình hình thực hiện ngân sách nhanh chóng, chính xác điều hành

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, phục vụ kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội trên địa bàn. Theo đó, tồn bộ quy trình ngân sách được chuẩn hố và cập

nhật trên hệ thống thông tin hiện đại này. Việc phân bổ dự toán từ cấp 0 (dự toán

được UBND thành phố Bắc Kạn giao) đến cấp 4 (dự toán của đơn vị sử dụng ngân

sách nhà nước trực thuộc thành phố Bắc Kạn) được quản lý trên một chương trình

thống nhất giữa Kho bạc và cơ quan Tài chính với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

hiện đại. Trách nhiệm của các cơ quan trong việc nhập các dữ liệu liên quan đến dự

toán, phân bổ và giao dự toán cho các đơn vị trên hệ thống TABMIS được phân

định rõ ràng theo một quy trình chuẩn. Trong thực tế hiện nay, việc nhập dữ liệu về

dự toán và phân bổ dự toán cho các đơn vị chưa kịp thời. Điều này ảnh hưởng tới

chất lượng và hiệu quả quản lý việc phân bổ dự toán theo mục tiêu dự án đặt ra.



3.3.3. Quản lý công tác điều hành, chấp hành dự toán chi thường xuyên

ngân sách nhà nước

Căn cứ vào dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước và phương án phân

bổ ngân sách cả năm đã được HĐND tỉnh quyết định, UBND Bắc Kạn phân bổ chi

tiết dự toán chi thường xuyên ngân sách tỉnh theo mục lục ngân sách nhà nước gửi

Kho bạc nhà nước Bắc Kạn nơi thực hiện giao dịch để làm căn cứ thanh tốn và

kiểm sốt chi.

Phòng Tài chính - Kế hoạch thẩm tra nhu cầu sử dụng kinh phí các tổ chức,

đơn vị, bố trí theo nguồn dự tốn năm, dự toán quý để đáp ứng nhu cầu chi, trường

hợp nhu cầu chi lớn hơn thu trong quý cần có biện pháp đề nghị cấp trên tăng tiến

độ cấp bổ sung hoặc tạm thời sắp xếp lại nhu cầu chi phù hợp với nguồn thu, theo

nguyên tắc đảm bảo chi lương, có tính chất lương đầy đủ, kịp thời. Nguyên tắc chi

phải đảm bảo các điều kiện: đã được ghi trong dự toán, đúng chế độ, tiêu chuẩn,

định mức quy định; được người có thẩm quyền quyết định chi. Tình hình quản lý

chi thường xuyên NSNN, cũng đồng thời là tình hình chi thường xuyên NSNN

thuộc thành phố Bắc Kạntừ năm 2015 - 2017.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.3: Tổng hợp quyết toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015-2017

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×