Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.1: Xếp hạng doanh nghiệp của Moody’s

Bảng 1.1: Xếp hạng doanh nghiệp của Moody’s

Tải bản đầy đủ - 0trang

23

vay nợ và chi phí trả lãi. Các chỉ tiêu phi tài chính thường được sử dụng bao

gồm thời gian hoạt động của doanh nghiệp, số năm kinh nghiệm và trình độ

của nhà quản lý cao cấp, triển vọng ngành. Nhược điểm của mơ hình một biến

số là kết quả dự báo khó chính xác nếu thực hiện phân tích và cho điểm các

chỉ tiêu đánh giá một cách riêng biệt, hơn nữa mỗi người có thể hiểu các chỉ

tiêu đánh giá theo cách khác nhau. Để khắc phục nhược điểm này các nhà

nghiên cứu đã xây dựng các mô hình kết hợp nhiều biến số thành một giá trị

để đánh giá thất bại của doanh nghiệp như mơ hình phân tích hồi quy, phân

tích logic, phân tích xác suất có điều kiện, phân tích nhiều biến số (Báo cáo

tình hình kinh doanh và tín dụng của Chi nhánh NHCSXH Bắc Kạn, 2015,

2016, 2017).

NHTM áp dụng các mơ hình khác nhau tùy theo đối tượng xếp loại cá

nhân, doanh nghiệp hay tổ chức tín dụng. Các mơ hình này có thể được điều

chỉnh sau vài năm sử dụng khi thấy có nhiều sai sót lớn giữa xếp hạng với

thực tế.

Quy trình xếp hạng tín dụng: Căn cứ vào chính sách tín dụng và các

quy trình có liên quan của từng ngân hàng nhằm xác lập quy trình XHTD.

Một quy trình XHTD bao gồm các bước cơ bản sau:

- Thu thập thơng tin có liên quan đến các chỉ tiêu sử dụng trong phân

tích đánh giá, thơng tin xếp hạng của các tổ chức tín dụng khác có liên quan

đến đối tượng xếp hạng.

- Phân tích bằng mơ hình để kết luận về mức xếp hạng. Mức xếp hạng

cuối cùng được quyết định theo ý kiến của Hội đồng xếp hạng. Trong xếp

hạng tín dụng thì kết quả xếp hạng tín dụng khơng được cơng bố rộng rãi.

- Theo dõi tình trạng tín dụng của đối tượng xếp hạng để điều chỉnh

mức xếp hạng các thông tin điều chỉnh được lưu giữ. Tổng hợp kết quả xếp

hạng so với thực tế rủi ro xảy ra, và dựa trên tần suất phải điều chỉnh mức

xếp hạng đã thực hiện đối với khách hàng để xem xét điều chỉnh mơ hình

xếp hạng.



24

Phương pháp xếp hạng tín dụng theo mơ hình điểm số

Mục đích của XHTD là để dự đốn những khách hàng có rủi ro cao.

Các phương pháp XHTD hiện đại bao gồm phương pháp nghiên cứu thống kê

dựa trên sự hồi quy và cây phân loại hoặc các phương pháp vận trù học dựa

trên toán học để giải quyết các bài toán tài chính bằng quy hoạch tuyến tính,

qua đó nhà quản lý có quyết định hợp lý cho các hành động trong hiện tại và

tương lai.

XHTD theo mơ hình điểm số là phương pháp khoa học kết hợp sử dụng

dữ liệu để nghiên cứu thống kê và áp dụng mơ hình thuật tốn để phân tích,

tính điểm cho các chỉ tiêu đánh giá trong mơ hình một biến hoặc đa biến. Các

chỉ tiêu sử dụng trong XHTD được xác lập theo nhóm bao gồm phân tích

ngành, phân tích hoạt động kinh doanh, phân tích hoạt động tài chính. Sau đó

đưa vào mơ hình để tính điểm theo trọng số và quy đổi điểm nhận được sang

biểu xếp hạng tương ứng.

*Quản lý và giảm thiêu rủi ro tín dụng

Tuân thủ các nguyên tắc quản lý rủi ro cẩn trọng như các thông lệ về

quản lý rủi ro và các nguyên tắc quản lý rủi ro của Basel. Thiết lập các chiến

lược, chính sách quản lý rủi ro như sau:

Một là, xây dựng mục tiêu, chiến lược đúng đắn, phù hợp

Một NHTM có thể hoạt động tốt trên thị trường được hay không phụ

thuộc rất nhiều vào các chính sách, mục tiêu, chiến lược mà ban lãnh đạo đưa

ra. Những yếu tố đó thể hiện tầm nhìn của ban lãnh đạo và cũng là kim chỉ

nam cho các hoạt động của NHTM. Muốn vậy, lãnh đạo NHTM phải là

những người thực sự hiểu về tiềm lực ngân hàng mình, vị thế ngân hàng

mình, và phải biết đánh giá đúng đối thủ cạnh tranh cũng như có thể dự báo

được xu hướng của thị trường để vạch ra được một chiến lược hay mục tiêu

đúng đắn và phù hợp với thực tế. Bên cạnh đó, khi đã có được một mục tiêu

cụ thể, thì Ban lãnh đạo cũng phải đưa ra được những quy trình chuẩn, những



25

giới hạn chuẩn, hướng dẫn thi hành bằng văn bản phù hợp với các quy định

của Nhà nước, phù hợp với bản thân ngân hàng và điều kiện thực tế của môi

trường kinh doanh để các cán bộ ngân hàng làm cơ sở thực hiện và cũng là

một trong những biện pháp hạn chế rủi ro hiệu quả.

Thêm vào đó, mỗi NHTM nên xây dựng một quy trình tín dụng chuẩn,

đảm bảo các mục tiêu của một chính sách tín dụng là lành mạnh, an tồn, phù

hợp với mục tiêu chiến lược của NHTM trong từng thời kì, quản lý được rủi

ro, đem lại lợi nhuận, sự phát triển cho ngân hàng và đề cao trách nhiệm cá

nhân, tn thủ các bước trong quy trình tín dụng đó.

Hai là, xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả

Theo quy tắc về quản lý rủi ro tín dụng: đối với một hệ thống hoặc một

ngân hàng độc lập, Hội đồng quản lý của ngân hàng là phải có trách nhiệm

phê duyệt và định kỳ xem xét lại chiến lược quản lý RRTD của chính mình.

Thứ nhất, căn cứ vào các quy định của cơ quan quản lý: Để đảm bảo

tăng trưởng tín dụng an tồn, hiệu quả và bền vững, góp phần vào tăng trưởng

kinh tế, phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng các yêu cầu của Uỷ ban Basel

về quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng, NHNN đã ban hành

một số văn bản liên quan đến công tác quản lý rủi ro tín dụng nhằm ngăn

ngừa và hạn chế tổn thất cho ngân hàng.

Thứ hai, căn cứ vào môi trường hoạt động kinh doanh: Bất kì một hoạt

động kinh doanh nào của ngân hàng cũng diễn ra trong một mơi trường nhất

định. Do đó, khi xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tín dụng, ngân hàng cần

phải xem xét đến sự tác động của các yếu tố môi trường: tình hình kinh tế, xã

hội trên địa bàn hoạt động của ngân hàng, tính chất lĩnh vực mà ngân hàng

cấp tín dụng, khả năng của các đối thủ cạnh tranh trong ngân hàng.

Thứ ba, căn cứ vào chính sách tín dụng của bản thân ngân hàng: Một

trong những biện pháp quan trọng để các khoản tín dụng ngân hàng đáp ứng

được các tiêu chuẩn pháp lý và bảo đảm an tồn là việc hình thành một



26

“Chính sách tín dụng an tồn và hiệu quả”. Chính sách tín dụng cung cấp cho

cán bộ tín dụng và nhà quản lý một khung chỉ dẫn chi tiết để ra các quyết định

tín dụng và định hướng danh mục đầu tư tín dụng của ngân hàng như sau:

- Mục đích của danh mục tín dụng ngân hàng (bao gồm các đặc điểm

của một danh mục tín dụng tốt, xét theo các tiêu chí như: các loại tín dụng, kỳ

hạn tín dụng, chất lượng tín dụng...)

- Phân cấp thẩm quyền cho vay đối với từng cán bộ tín dụng và từng

hợp đồng tín dụng (quy định mức cho vay tối đa, các loại tín dụng được phép

và chữ kí của người có trách nhiệm).

- Phân cấp chịu trách nhiệm trong công việc và báo cáo thơng tin trong

nội bộ phòng tín dụng; phân cấp chịu trách nhiệm trong nội bộ ngân hàng,

phân công cán bộ chịu trách nhiệm duy trì và kiểm tra hồ sơ tín dụng.

- Quy trình tiếp nhận, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định đối với đơn

xin vay của khách hàng, hồ sơ bắt buộc đối với từng đơn vị vay…

- Các chỉ dẫn, định giá và hoàn tất hồ sơ đảm bảo tín dụng.

- Quy định chính sách và quy trình ấn định mức lãi suất tín dụng, các

điều kiện hoàn trả nợ vay.

- Quy định những tiêu chuẩn áp dụng chung cho tất cả các loại tín

dụng, quy định giới hạn tín dụng tối đa.

- Quy định lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng, từ đó hướng tín

dụng vào những lĩnh vực này.

- Các phương pháp ưu tiên trong việc phát hiện, xử lý những khoản tín

dụng có vấn đề.

Thứ tư, căn cứ vào hệ thống nguyên tắc quản lý rủi ro

Chiến lược quản lý RRTD phải phù hợp với chiến lược phát triển,

chính sách tín dụng của ngân hàng và cán bộ tín dụng phải tuân thủ các quy

tắc tín dụng được đề ra. Ngân hàng cần có một bộ phận quản lý RRTD riêng,

hoạt động độc lập với các bộ phận kinh doanh khác trong ngân hàng, hay nói



27

cách khác là đảm bảo sự độc lập của nhà quản lý rủi ro trong việc nhìn nhận

các rủi ro riêng của từng bộ phận kinh doanh cũng như toàn cảnh rủi ro ngân

hàng gặp phải.

Thực hiện nguyên tắc “hai tay bốn mắt” trong hoạt động quản lý

RRTD, thực hiện phân cấp, phân quyền hợp lý, giải quyết mối quan hệ hài

hồ giữa lợi ích và trách nhiệm. Quản lý rủi ro được thực hiện trên toàn danh

mục cho vay cũng như đối với từng khoản vay riêng lẻ, và quản lý rủi ro tín

dụng được đặt trong mối quan hệ với các loại rủi ro khác (Ngân hàng nhà

nước Việt Nam, Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, 22/4/2005).

Bên cạnh đó, quản lý rủi ro còn đồng thời thực hiện dự phòng rủi ro đủ

để bù đắp tổn thất khi RRTD xảy ra. Nguyên tắc cân bằng giữa chi phí và lợi

ích thu về: chi phí quản lý RRTD phải thấp hơn thu nhập mang lại từ việc

thực hiện nó.

*Xử lý rủi ro tín dụng

Giám sát là việc theo dõi hoạt động quản lý RRTD để đảm bảo cho quá

trình quản lý RRTD được diễn ra thường xuyên, liên tục, xác định kịp thời

các loại rủi ro tín dụng, đo lường và theo dõi việc thực hiện đầy đủ các giải

pháp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro.

Kiểm sốt rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, cơng cụ, chiến

lược và các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh, giảm thiểu rủi ro.

Căn cứ vào mức độ rủi ro đã được tính tốn, các hệ số an tồn tài chính, và

khả năng chấp nhận rủi ro mà có những biện pháp phòng chống khác nhau

nhằm giảm mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra. Các biện pháp xử trị rủi ro

thường dựa vào nguồn trích lập dự phòng, hoặc có thể phối hợp xử lý tài sản

đảm bảo, nguồn dự phòng rủi ro tín dụng (cách sử dụng nguồn dự phòng),

đảm bảo vốn an tồn tối thiểu. Kiểm sốt theo quy trình tín dụng: trước, trong

và sau khi cho vay, cần có sự tham gia của cả kiểm soát nội bộ và bên ngồi.

- Trích lập dự phòng rủi ro. Khi khách hàng có nợ q hạn, ngân hàng



28

phải thực hiện trích lập dự phòng rủi ro để dự phòng cho những tổn thất có

thể xảy ra do khách hàng khơng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết vay.

- Có bộ phận chuyên trách riêng xử lý nợ xấu:

+ Khai thác: cho vay, đầu tư thêm, hoãn hoặc giãn nợ, khoanh nợ, chỉ

định đại diện tham gia quản lý doanh nghiệp

+ Thanh lý: xử lý nợ tồn đọng, thanh lý doanh nghiệp, khởi kiện, bán nợ

1.1.2.6. Cơng cụ quản lý rủi ro tín dụng

- Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28 tháng 7 năm 2010 của Thủ

tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế xử lý nợ rủi ro tại Ngân hàng Chính

sách xã hội.

- Thông tư số 161/2010/TT-BTC ngày 20 tháng 10 năm 2010 của Bộ

trưởng Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện quy chế xử lý nợ rủi ro của Ngân

hàng Chính sách xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg

ngày 28 tháng 7 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.

- Quyết định số 15/QĐ-HĐQT ngày 27/01/2011 của Chủ tịch Hội đồng

quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội Ban hành Quy định xử lý nợ bị rủi ro

trong hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội.

1.1.2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng

*Các yếu tố khách quan

Thứ nhất, sự biến động không dự kiến của các yếu tố thuộc mơi trường

vĩ mơ như chiến tranh, biến động chính trị, thiên tai,...

Các yếu tố thuộc mơi trường vĩ mơ có tác động hệ thống đến tất cả các

chủ thể trong nền kinh tế nên nó tác động tới hoạt động ngân hàng trên nhiều

phương diện và theo nhiều hướng khác nhau. Với đặc thù của ngành ngân hàng

mang tính nhạy cảm cao nên các biến động của môi trường vĩ mơ có thể gây

nên những tác động to lớn. Vì vậy một ngân hàng hoạt động trong điều kiện

môi trường kinh doanh thường biến động nhiều thì yêu cầu đối với hoạt động

quản lý phải càng cao, đặc biệt là trong cơng tác phòng ngừa và tài trợ rủi ro

tín dụng.



29

Thứ hai, các quy định trong chính sách tiền tệ

Hoạt động của ngân hàng chịu sự điều tiết trực tiếp và gián tiếp từ

chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia. Do đó, chính sách tiền tệ và sự thay

đổi của các quy định trong chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia trong từng

giai đoạn mà các ngân hàng cần có sự điều chỉnh trong hoạt động quản lý

cũng như các hoạt động tác nghiệp cụ thể.

Thứ ba, các quy định của pháp luật

Hoạt động của ngân hàng liên quan đến hầu hết các hoạt động trong

nền kinh tế nên tính hồn thiện và tính hợp lý trong các quy định của các hệ

thống văn bản pháp lý đều tác động tới hoạt động của ngân hàng và cần phải

được xem xét trong việc đề xuất và tổ chức thực thi các chính sách nói riêng

và hoạt động quản lý rủi ro tín dụng nói chung. Hệ thống pháp lý đối với hoạt

động quản lý nói chung, đối với hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của ngân

hàng thương mại nói riêng là những chỉ dẫn cơ bản cho các cấp lãnh đạo ngân

hàng hoạch định các công tác quản lý rủi ro tín dụng của mình.

Thứ tư, sự phát triển và hỗ trợ của các kênh cung cấp thông tin về

khách hàng. Hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ tín dụng ngân hàng và của

cơng tác quản lý rủi ro tín dụng phụ thuộc nhiều vào việc thu thập thông tin

về khách hàng. Bất cứ ngân hàng nào cũng có những hạn chế về nhân sự,

trình độ cơng nghệ,... để có thể thu thập thơng tin về khách hàng một cách

tồn diện và chính xác. Bên cạnh đó, thơng tin về mỗi đối tượng khách

hàng rất đa dạng nên cần phải có sự hỗ trợ của các kênh thu thập, xử lý và

cung cấp thông tin một cách chuyên nghiệp để hỗ trợ cho hoạt động quản

lý của ngân hàng.

*Các yếu tố chủ quan

(i) Các yếu tố chủ quan từ phía ngân hàng

Thứ nhất, trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng các cấp



30

Đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả cơng tác quản lý rủi

ro tín dụng của ngân hàng, bởi mọi chính sách và việc thực thi các chính sách

đó điều phải thơng qua cán bộ ngân hàng các cấp.

Để cơng tác quản lý rủi ro tín dụng đạt hiệu quả cao đặt ra yêu cầu cao

về trình độ của các cấp cán bộ ngân hàng:

Đối với lãnh đạo cấp cao cần phải có khả năng quản lý, khả năng tổ

chức và phân cấp hoạt động, khả năng tổng hợp và phân tích để có thể hệ

thống các thông tin về mọi hoạt động của hệ thống. Từ đó đặt ra chiến lược

phát triển, đưa ra và tổ chức thực hiện các chính sách đó.

Đối với cán bộ ngân hàng trực tiếp quản lý hoạt động kinh doanh của

ngân hàng cần có khả năng tổ chức hoạt động, khả năng điều hành, khả năng

nhận biết, đánh giá các rủi ro trong hoạt động.

Đối với nhân viên ngân hàng và đặc biệt là cán bộ tín dụng ngân hàng

cần phải có khả năng đánh giá các rủi ro liên quan tới từng đối tượng khách

hàng. Cán bộ ngân hàng luôn phải đề cao đạo đức nghề nghiệp liên hàng đầu,

nếu điều này bị vi phạm gây nên rủi ro tác nghiệp và những hậu quả to lớn đối

với ngân hàng.

Thứ hai, tổ chức bộ máy quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng

Đối với hoạt động của NHTM, rủi ro nói chung và rủi ro tín dụng nói

riêng có liên quan đến mọi hoạt động của ngân hàng. Do đó đặt ra u cầu đối

với cơng tác quản lý rủi ro phải được tổ chức thật chặt chẽ và có hệ thống, có

sự phân cấp và phân quyền nhiệm vụ cũng như trách nhiệm cụ thể đối với các

cấp và các bộ phận trong ngân hàng.

Tổ chức bộ máy quản lý rủi ro tín dụng phải đảm bảo sự giám sát và

kiểm soát đối với mọi hoạt động trong tồn hệ thống cũng như có thể đánh giá

và nhận định những rủi ro tiềm ẩn trong tương lai.



31

Một ngân hàng có bộ máy quản lý rủi ro tín dụng khoa học, hệ thống và

có tính tổ chức cao giúp ngân hàng đánh giá và kiểm soát rủi ro tín dụng một

cách nhanh chóng, kịp thời cũng như đưa ra các giải pháp hạn chế và tài trợ

rủi ro tín dụng. Đó là cơ sở đảm bảo cho mọi hoạt động của ngân hàng có

hiệu quả.

Thứ ba, cơng nghệ ngân hàng trong quản lý rủi ro tín dụng

Cơng nghệ ngân hàng hiện đại là một trong những đòi hỏi quan trọng

hàng đầu để hỗ trợ hoạt động quản lý đạt hiệu quả. Với sự hỗ trợ của hệ thống

phần mềm hiện đại, khoa học thì mọi hoạt động thu thập và xử lý thơng tin có

thể được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác, từ đó giúp cho việc ra

quyết định của các cấp lãnh đạo kịp thời.

Thứ tư, chính sách tín dụng và quy trình tín dụng

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào việc ngân

hàng có đề xuất và thực thi một chính sách tín dụng và quy trình tín dụng chặt

chẽ, hợp lý hay khơng. Mọi bất hợp lý trong chính sách tín dụng và quy trình

tín dụng đều có thể dẫn tới những tổn thất cho ngân hàng và gây khó khăn cho

cơng tác quản lý ngân hàng. Hoạt động quản lý rủi ro tín dụng được cụ thể

hóa thơng qua chính sách tín dụng và quy trình tín dụng của ngân hàng.

(ii) Các nhân tố chủ quan từ phía khách hàng nhận tín dụng

Thứ nhất, nhu cầu tín dụng và thái độ trách nhiệm của khách hàng đối

với việc sử dụng và trả nợ ngân hàng

Nhu cầu tín dụng của khách hàng quyết định chính sách tín dụng của

ngân hàng. Đây là yếu tố quan trọng cần được xem xét trước tiên khi phân

tích tín dụng và đánh giá mức độ rủi ro tín dụng.

Thứ hai, các đặc điểm của khách hàng về lĩnh vực ngành nghề, quy mô,

năng lực tài chính,...



32

Tính chất đặc thù của từng lĩnh vực ngành nghề và thị trường hoạt động

cũng như các yếu tố về năng lực tài chính, năng lực quản lý của từng đối

tượng khách hàng quyết định mức độ rủi ro tín dụng của khoản tiền vay. Vì

vậy trong hoạt động quản lý rủi ro tín dụng, mỗi ngân hàng cần xem xét các

đặc điểm của khách hàng để đưa ra các chính sách quản lý phù hợp.

Thứ ba, trình độ và ý thức trách nhiệm của khách hàng trong việc cung

cấp và đảm bảo tính chính xác của các thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu

cầu

Công tác quản lý rủi ro tín dụng đòi hỏi phải đánh giá và giám sát hoạt

động sử dụng vốn của khách hàng thường xuyên, mà nguồn thông tin quan

trọng nhất là thông tin do chính khách hàng cung cấp. Tuy nhiên độ chính xác

và tin cậy của các thơng tin này lại phụ thuộc vào khả năng và ý thức trách

nhiệm của khách hàng trong việc cung cấp các thơng tin đó.

1.2.Cơ sở thực tiễn về quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng

1.2.1. Kinh nghiệm của một số chi nhánh ngân hàng thương mại trong nước

1.2.2.1. Kinh nghiệm quản lý rủi ro của BIDV tỉnh Vĩnh Phúc

Một số giải pháp xử lý rủi ro tại BIDV tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện

trong thời gian qua:

(i) Đối với những khoản nợ xấu đã phát sinh:

- BIDV tỉnh Vĩnh Phúc đã thành lập các ban, tổ triển khai thu hồi nợ

xấu từ tỉnh đến các Chi nhánh loại 3 trực thuộc. Hàng tháng họp và đánh giá

kết quả thực hiện của từng tổ lên kế hoạch thực hiện cho những tháng tiếp

theo. Đối với những Chi nhánh loại 3 có tỷ lệ nợ xấu cao hàng tháng

BIDV tỉnh Vĩnh Phúc yêu cầu Giám đốc các Chi nhánh loại 3 lên báo cáo

cụ thể từng trường hợp.

- Xây dựng lộ trình xử lý nợ xấu cụ thể từng thời kỳ và có tính chất lâu

dài. Phân loại nợ khách hàng theo đúng quy định, trích lập dự phòng rủi ro

đầy đủ theo ngun tắc tính đúng và tính đủ.



33

- Khơng ngừng tự kiểm tra, hoàn thiện hồ sơ vay vốn, hồ sơ bảo đảm

tiền vay và các hồ sơ khác có liên quan bảo đảm tính chất pháp lý nếu phải

đưa ra các cơ quan chức năng có liên quan để xử lý khoản nợ. Rà soát lại tài

sản bảo đảm của các doanh nghiệp, bổ sung tài sản thế chấp.

- Phân tích nguyên nhân nợ xấu của từng khoản nợ từ đó đánh giá phân

loại cụ thể từng khoản nợ để đưa ra giải pháp xử lý cụ thể:

+ Đối với những khách hàng còn khả năng sản xuất kinh doanh nếu cần

hỗ trợ về vốn để tiếp tục kinh doanh đem lại lợi nhuận để trả nợ cho ngân

hàng thì ngân hàng vẫn tiếp tục đầu tư vốn và bám sát vào nguồn vốn đã đầu

tư để thu hồi càng nhanh càng tốt ít nhất là khơng để vốn đầu tư thêm bị thất

thốt nhưng lại có thể thu hồi được nợ tồn đọng cũ, làm việc chặt chẽ với các

bên có liên quan đến khoản tiền đầu tư để có những giải pháp thu hồi chặt chẽ

mà trực tiếp ngân hàng sẽ là người cùng tham gia dự án.

+ Đối với những khách hàng khơng còn khả năng sản xuất kinh doanh,

tài chính suy giảm mạnh khơng thể phục hồi, nguồn thu từ sản xuất kinh

doanh khơng có thì chi nhánh đã động viên chủ doanh nghiệp và gia đình xử

lý các tài sản thế chấp để trả nợ tiền vay cho ngân hàng

+ Đối với những khách hàng có nhiều dự án sản xuất kinh doanh, chi

nhánh đã tổ chức họp với khách hàng rà soát lại kế hoạch sản xuất kinh

doanh, đối với những dự án nào khơng có hiệu quả cần phải thu hẹp và tập

trung vào những dự án mang lại hiệu quả cao trong ngắn hạn để bảo đảm tài

chính cho doanh nghiệp hoạt động cũng như kế hoạch trả nợ tiền vay.

+ Cùng chia sẻ khó khăn với khách hàng như: Cơ cấu lại thời gian trả

nợ cho phù hợp với nguồn thu của khách hàng, thu gốc trước lãi sau và đặc

biệt đối với những đơn vị sản xuất có hàng tồn kho nhiều không bán được Chi

nhánh đã giới thiệu các khách hàng của Ngân hàng tiêu thụ sản phẩm của

những doanh nghiệp.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.1: Xếp hạng doanh nghiệp của Moody’s

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×