Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
*Quản lý và giảm thiểu rủi ro tín dụng

*Quản lý và giảm thiểu rủi ro tín dụng

Tải bản đầy đủ - 0trang

25

giới hạn chuẩn, hướng dẫn thi hành bằng văn bản phù hợp với các quy định

của Nhà nước, phù hợp với bản thân ngân hàng và điều kiện thực tế của môi

trường kinh doanh để các cán bộ ngân hàng làm cơ sở thực hiện và cũng là

một trong những biện pháp hạn chế rủi ro hiệu quả.

Thêm vào đó, mỗi NHTM nên xây dựng một quy trình tín dụng chuẩn,

đảm bảo các mục tiêu của một chính sách tín dụng là lành mạnh, an toàn, phù

hợp với mục tiêu chiến lược của NHTM trong từng thời kì, quản lý được rủi

ro, đem lại lợi nhuận, sự phát triển cho ngân hàng và đề cao trách nhiệm cá

nhân, tuân thủ các bước trong quy trình tín dụng đó.

Hai là, xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả

Theo quy tắc về quản lý rủi ro tín dụng: đối với một hệ thống hoặc một

ngân hàng độc lập, Hội đồng quản lý của ngân hàng là phải có trách nhiệm

phê duyệt và định kỳ xem xét lại chiến lược quản lý RRTD của chính mình.

Thứ nhất, căn cứ vào các quy định của cơ quan quản lý: Để đảm bảo

tăng trưởng tín dụng an tồn, hiệu quả và bền vững, góp phần vào tăng trưởng

kinh tế, phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng các yêu cầu của Uỷ ban Basel

về quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng, NHNN đã ban hành

một số văn bản liên quan đến công tác quản lý rủi ro tín dụng nhằm ngăn

ngừa và hạn chế tổn thất cho ngân hàng.

Thứ hai, căn cứ vào môi trường hoạt động kinh doanh: Bất kì một hoạt

động kinh doanh nào của ngân hàng cũng diễn ra trong một môi trường nhất

định. Do đó, khi xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tín dụng, ngân hàng cần

phải xem xét đến sự tác động của các yếu tố mơi trường: tình hình kinh tế, xã

hội trên địa bàn hoạt động của ngân hàng, tính chất lĩnh vực mà ngân hàng

cấp tín dụng, khả năng của các đối thủ cạnh tranh trong ngân hàng.

Thứ ba, căn cứ vào chính sách tín dụng của bản thân ngân hàng: Một

trong những biện pháp quan trọng để các khoản tín dụng ngân hàng đáp ứng

được các tiêu chuẩn pháp lý và bảo đảm an toàn là việc hình thành một



26

“Chính sách tín dụng an tồn và hiệu quả”. Chính sách tín dụng cung cấp cho

cán bộ tín dụng và nhà quản lý một khung chỉ dẫn chi tiết để ra các quyết định

tín dụng và định hướng danh mục đầu tư tín dụng của ngân hàng như sau:

- Mục đích của danh mục tín dụng ngân hàng (bao gồm các đặc điểm

của một danh mục tín dụng tốt, xét theo các tiêu chí như: các loại tín dụng, kỳ

hạn tín dụng, chất lượng tín dụng...)

- Phân cấp thẩm quyền cho vay đối với từng cán bộ tín dụng và từng

hợp đồng tín dụng (quy định mức cho vay tối đa, các loại tín dụng được phép

và chữ kí của người có trách nhiệm).

- Phân cấp chịu trách nhiệm trong công việc và báo cáo thông tin trong

nội bộ phòng tín dụng; phân cấp chịu trách nhiệm trong nội bộ ngân hàng,

phân công cán bộ chịu trách nhiệm duy trì và kiểm tra hồ sơ tín dụng.

- Quy trình tiếp nhận, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định đối với đơn

xin vay của khách hàng, hồ sơ bắt buộc đối với từng đơn vị vay…

- Các chỉ dẫn, định giá và hoàn tất hồ sơ đảm bảo tín dụng.

- Quy định chính sách và quy trình ấn định mức lãi suất tín dụng, các

điều kiện hoàn trả nợ vay.

- Quy định những tiêu chuẩn áp dụng chung cho tất cả các loại tín

dụng, quy định giới hạn tín dụng tối đa.

- Quy định lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng, từ đó hướng tín

dụng vào những lĩnh vực này.

- Các phương pháp ưu tiên trong việc phát hiện, xử lý những khoản tín

dụng có vấn đề.

Thứ tư, căn cứ vào hệ thống nguyên tắc quản lý rủi ro

Chiến lược quản lý RRTD phải phù hợp với chiến lược phát triển,

chính sách tín dụng của ngân hàng và cán bộ tín dụng phải tuân thủ các quy

tắc tín dụng được đề ra. Ngân hàng cần có một bộ phận quản lý RRTD riêng,

hoạt động độc lập với các bộ phận kinh doanh khác trong ngân hàng, hay nói



27

cách khác là đảm bảo sự độc lập của nhà quản lý rủi ro trong việc nhìn nhận

các rủi ro riêng của từng bộ phận kinh doanh cũng như toàn cảnh rủi ro ngân

hàng gặp phải.

Thực hiện nguyên tắc “hai tay bốn mắt” trong hoạt động quản lý

RRTD, thực hiện phân cấp, phân quyền hợp lý, giải quyết mối quan hệ hài

hồ giữa lợi ích và trách nhiệm. Quản lý rủi ro được thực hiện trên toàn danh

mục cho vay cũng như đối với từng khoản vay riêng lẻ, và quản lý rủi ro tín

dụng được đặt trong mối quan hệ với các loại rủi ro khác (Ngân hàng nhà

nước Việt Nam, Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, 22/4/2005).

Bên cạnh đó, quản lý rủi ro còn đồng thời thực hiện dự phòng rủi ro đủ

để bù đắp tổn thất khi RRTD xảy ra. Nguyên tắc cân bằng giữa chi phí và lợi

ích thu về: chi phí quản lý RRTD phải thấp hơn thu nhập mang lại từ việc

thực hiện nó.

*Xử lý rủi ro tín dụng

Giám sát là việc theo dõi hoạt động quản lý RRTD để đảm bảo cho quá

trình quản lý RRTD được diễn ra thường xuyên, liên tục, xác định kịp thời

các loại rủi ro tín dụng, đo lường và theo dõi việc thực hiện đầy đủ các giải

pháp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro.

Kiểm sốt rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến

lược và các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh, giảm thiểu rủi ro.

Căn cứ vào mức độ rủi ro đã được tính tốn, các hệ số an tồn tài chính, và

khả năng chấp nhận rủi ro mà có những biện pháp phòng chống khác nhau

nhằm giảm mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra. Các biện pháp xử trị rủi ro

thường dựa vào nguồn trích lập dự phòng, hoặc có thể phối hợp xử lý tài sản

đảm bảo, nguồn dự phòng rủi ro tín dụng (cách sử dụng nguồn dự phòng),

đảm bảo vốn an tồn tối thiểu. Kiểm sốt theo quy trình tín dụng: trước, trong

và sau khi cho vay, cần có sự tham gia của cả kiểm sốt nội bộ và bên ngồi.

- Trích lập dự phòng rủi ro. Khi khách hàng có nợ q hạn, ngân hàng



28

phải thực hiện trích lập dự phòng rủi ro để dự phòng cho những tổn thất có

thể xảy ra do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết vay.

- Có bộ phận chuyên trách riêng xử lý nợ xấu:

+ Khai thác: cho vay, đầu tư thêm, hoãn hoặc giãn nợ, khoanh nợ, chỉ

định đại diện tham gia quản lý doanh nghiệp

+ Thanh lý: xử lý nợ tồn đọng, thanh lý doanh nghiệp, khởi kiện, bán nợ

1.1.2.6. Cơng cụ quản lý rủi ro tín dụng

- Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28 tháng 7 năm 2010 của Thủ

tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế xử lý nợ rủi ro tại Ngân hàng Chính

sách xã hội.

- Thông tư số 161/2010/TT-BTC ngày 20 tháng 10 năm 2010 của Bộ

trưởng Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện quy chế xử lý nợ rủi ro của Ngân

hàng Chính sách xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg

ngày 28 tháng 7 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.

- Quyết định số 15/QĐ-HĐQT ngày 27/01/2011 của Chủ tịch Hội đồng

quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội Ban hành Quy định xử lý nợ bị rủi ro

trong hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội.

1.1.2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng

*Các yếu tố khách quan

Thứ nhất, sự biến động không dự kiến của các yếu tố thuộc môi trường

vĩ mơ như chiến tranh, biến động chính trị, thiên tai,...

Các yếu tố thuộc mơi trường vĩ mơ có tác động hệ thống đến tất cả các

chủ thể trong nền kinh tế nên nó tác động tới hoạt động ngân hàng trên nhiều

phương diện và theo nhiều hướng khác nhau. Với đặc thù của ngành ngân hàng

mang tính nhạy cảm cao nên các biến động của mơi trường vĩ mơ có thể gây

nên những tác động to lớn. Vì vậy một ngân hàng hoạt động trong điều kiện

môi trường kinh doanh thường biến động nhiều thì yêu cầu đối với hoạt động

quản lý phải càng cao, đặc biệt là trong công tác phòng ngừa và tài trợ rủi ro

tín dụng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

*Quản lý và giảm thiểu rủi ro tín dụng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×