Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
*Đo lường rủi ro tín dụng

*Đo lường rủi ro tín dụng

Tải bản đầy đủ - 0trang

21

PD (Probability of Default): Xác suất vỡ nợ của khách hàng/ngành

hàng đó là bao nhiêu.

LGD (Loss Given Default): Tỷ trọng % số dư rủi ro ngân hàng sẽ bị

tổn thất khi khách hàng không trả được nợ.

EAD (Exposure at Default): Số dư nợ vay (và tương đương) của khách

hàng/ngành hàng khi xảy ra vỡ nợ.

Với PD, LGD và EAD, hai yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu

tưởng chừng rất định tính, mà các ngân hàng thường xuyên nhắc đến

trong quyết định cấp tín dụng là khả năng trả nợ và mong muốn trả nợ của

khách hàng đã được lượng hóa cụ thể. Và cũng nhờ PD, LGD và EAD,

hàng trăm, hàng chục các nhân tố có tác động đến khách hàng cũng như

các khoản tín dụng cấp cho họ đã được tóm tắt, phản ánh chỉ qua ba cấu

phần rủi ro đó.

Mơ hình điểm số Z

Mơ hình này do E.I.Altman xây dựng để cho điểm tín dụng đối với các

công ty của Mỹ. Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với

người vay và phụ thuộc vào:

Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xј)

Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ

của người vay trong q khứ. Từ đó, Altman đi đến mơ hình cho điểm như sau:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + X5 (1.2)

Trong đó:

X1 = Tỷ số vốn lưu động ròng trên tổng tài sản

X2 = Tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản

X3 = Tỷ số lợi nhuận trước thuế, tiền lãi trên tổng tài sản

X4 = Tỷ số giá trị cổ phiếu trên giá trị ghi sổ nợ dài hạn

X5 = Tỷ số doanh thu trên tổng tài sản



22

Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp và ngược

lại (Trị số Z có thể âm). Theo mơ hình cho điểm của Altman bất cứ đơn vị nào

có điểm số Z thấp hơn 1,81 được xếp vào nhóm có nguy cơ RRTD cao. Căn

cứ vào kết luận này, ngân hàng sẽ khơng cấp tín dụng cho khách hàng hay

cho đến khi cải thiện được điểm số Z lớn hơn 1,81.

Mơ hình xếp hạng của Moody’s

Mơ hình này xếp hạng tình trạng hoạt động của doanh nghiệp dựa trên

tỷ lệ rủi ro hàng năm, chất lượng này thay đổi hàng năm. Các doanh nghiệp

được xếp hạng cao khi tỷ lệ rủi ro dưới 0,1%.

Bảng 1.1: Xếp hạng doanh nghiệp của Moody’s

Xếp hạng



Tình trạng



Tỷ lệ rủi ro hàng năm



Aaa



Chất lượng cao nhất



0,02



Aa



Chất lượng cao



0,04



A



Chất lượng khá



0,08



Baa



Chất lượng vừa



0,2



Ba



Nhiều yếu tố đầu cơ



1,8



B



Đầu cơ



8,3

(Nguồn: Theo Báo cáo của Moody's)



* Mơ hình xếp hạng tín dụng trong quản lý rủi ro tín dụng

Hệ thống XHTD giúp NHTM quản lý rủi ro tín dụng bằng phương

pháp tiên tiến, giúp kiểm soát mức độ tín nhiệm khách hàng, thiết lập mức lãi

suất cho vay phù hợp với dự báo khả năng thất bại của từng nhóm khách

hàng. NHTM có thể đánh giá hiệu quả danh mục cho vay thông qua giám sát

sự thay đổi dư nợ và phân loại nợ trong từng nhóm khách hàng đã được xếp

hạng, qua đó điều chỉnh nguồn lực vào nhóm khách hàng an tồn.

Mơ hình xếp hạng tín dụng: Mơ hình đơn giản nhất được sử dụng trong

XHTD là mơ hình một biến số. Chỉ tiêu đánh giá phải được thống nhất trong

mơ hình. Tỷ suất tài chính được sử dụng trong mơ hình bao gồm các chỉ tiêu

thanh khoản, các chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu cân nợ, chỉ tiêu lợi tức, chỉ tiêu



23

vay nợ và chi phí trả lãi. Các chỉ tiêu phi tài chính thường được sử dụng bao

gồm thời gian hoạt động của doanh nghiệp, số năm kinh nghiệm và trình độ

của nhà quản lý cao cấp, triển vọng ngành. Nhược điểm của mô hình một biến

số là kết quả dự báo khó chính xác nếu thực hiện phân tích và cho điểm các

chỉ tiêu đánh giá một cách riêng biệt, hơn nữa mỗi người có thể hiểu các chỉ

tiêu đánh giá theo cách khác nhau. Để khắc phục nhược điểm này các nhà

nghiên cứu đã xây dựng các mơ hình kết hợp nhiều biến số thành một giá trị

để đánh giá thất bại của doanh nghiệp như mơ hình phân tích hồi quy, phân

tích logic, phân tích xác suất có điều kiện, phân tích nhiều biến số (Báo cáo

tình hình kinh doanh và tín dụng của Chi nhánh NHCSXH Bắc Kạn, 2015,

2016, 2017).

NHTM áp dụng các mơ hình khác nhau tùy theo đối tượng xếp loại cá

nhân, doanh nghiệp hay tổ chức tín dụng. Các mơ hình này có thể được điều

chỉnh sau vài năm sử dụng khi thấy có nhiều sai sót lớn giữa xếp hạng với

thực tế.

Quy trình xếp hạng tín dụng: Căn cứ vào chính sách tín dụng và các

quy trình có liên quan của từng ngân hàng nhằm xác lập quy trình XHTD.

Một quy trình XHTD bao gồm các bước cơ bản sau:

- Thu thập thơng tin có liên quan đến các chỉ tiêu sử dụng trong phân

tích đánh giá, thơng tin xếp hạng của các tổ chức tín dụng khác có liên quan

đến đối tượng xếp hạng.

- Phân tích bằng mơ hình để kết luận về mức xếp hạng. Mức xếp hạng

cuối cùng được quyết định theo ý kiến của Hội đồng xếp hạng. Trong xếp

hạng tín dụng thì kết quả xếp hạng tín dụng khơng được cơng bố rộng rãi.

- Theo dõi tình trạng tín dụng của đối tượng xếp hạng để điều chỉnh

mức xếp hạng các thông tin điều chỉnh được lưu giữ. Tổng hợp kết quả xếp

hạng so với thực tế rủi ro xảy ra, và dựa trên tần suất phải điều chỉnh mức

xếp hạng đã thực hiện đối với khách hàng để xem xét điều chỉnh mơ hình

xếp hạng.



24

Phương pháp xếp hạng tín dụng theo mơ hình điểm số

Mục đích của XHTD là để dự đốn những khách hàng có rủi ro cao.

Các phương pháp XHTD hiện đại bao gồm phương pháp nghiên cứu thống kê

dựa trên sự hồi quy và cây phân loại hoặc các phương pháp vận trù học dựa

trên toán học để giải quyết các bài tốn tài chính bằng quy hoạch tuyến tính,

qua đó nhà quản lý có quyết định hợp lý cho các hành động trong hiện tại và

tương lai.

XHTD theo mơ hình điểm số là phương pháp khoa học kết hợp sử dụng

dữ liệu để nghiên cứu thống kê và áp dụng mơ hình thuật tốn để phân tích,

tính điểm cho các chỉ tiêu đánh giá trong mơ hình một biến hoặc đa biến. Các

chỉ tiêu sử dụng trong XHTD được xác lập theo nhóm bao gồm phân tích

ngành, phân tích hoạt động kinh doanh, phân tích hoạt động tài chính. Sau đó

đưa vào mơ hình để tính điểm theo trọng số và quy đổi điểm nhận được sang

biểu xếp hạng tương ứng.

*Quản lý và giảm thiêu rủi ro tín dụng

Tuân thủ các nguyên tắc quản lý rủi ro cẩn trọng như các thông lệ về

quản lý rủi ro và các nguyên tắc quản lý rủi ro của Basel. Thiết lập các chiến

lược, chính sách quản lý rủi ro như sau:

Một là, xây dựng mục tiêu, chiến lược đúng đắn, phù hợp

Một NHTM có thể hoạt động tốt trên thị trường được hay không phụ

thuộc rất nhiều vào các chính sách, mục tiêu, chiến lược mà ban lãnh đạo đưa

ra. Những yếu tố đó thể hiện tầm nhìn của ban lãnh đạo và cũng là kim chỉ

nam cho các hoạt động của NHTM. Muốn vậy, lãnh đạo NHTM phải là

những người thực sự hiểu về tiềm lực ngân hàng mình, vị thế ngân hàng

mình, và phải biết đánh giá đúng đối thủ cạnh tranh cũng như có thể dự báo

được xu hướng của thị trường để vạch ra được một chiến lược hay mục tiêu

đúng đắn và phù hợp với thực tế. Bên cạnh đó, khi đã có được một mục tiêu

cụ thể, thì Ban lãnh đạo cũng phải đưa ra được những quy trình chuẩn, những



25

giới hạn chuẩn, hướng dẫn thi hành bằng văn bản phù hợp với các quy định

của Nhà nước, phù hợp với bản thân ngân hàng và điều kiện thực tế của môi

trường kinh doanh để các cán bộ ngân hàng làm cơ sở thực hiện và cũng là

một trong những biện pháp hạn chế rủi ro hiệu quả.

Thêm vào đó, mỗi NHTM nên xây dựng một quy trình tín dụng chuẩn,

đảm bảo các mục tiêu của một chính sách tín dụng là lành mạnh, an toàn, phù

hợp với mục tiêu chiến lược của NHTM trong từng thời kì, quản lý được rủi

ro, đem lại lợi nhuận, sự phát triển cho ngân hàng và đề cao trách nhiệm cá

nhân, tuân thủ các bước trong quy trình tín dụng đó.

Hai là, xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả

Theo quy tắc về quản lý rủi ro tín dụng: đối với một hệ thống hoặc một

ngân hàng độc lập, Hội đồng quản lý của ngân hàng là phải có trách nhiệm

phê duyệt và định kỳ xem xét lại chiến lược quản lý RRTD của chính mình.

Thứ nhất, căn cứ vào các quy định của cơ quan quản lý: Để đảm bảo

tăng trưởng tín dụng an tồn, hiệu quả và bền vững, góp phần vào tăng trưởng

kinh tế, phù hợp với thơng lệ quốc tế, đáp ứng các yêu cầu của Uỷ ban Basel

về quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng, NHNN đã ban hành

một số văn bản liên quan đến cơng tác quản lý rủi ro tín dụng nhằm ngăn

ngừa và hạn chế tổn thất cho ngân hàng.

Thứ hai, căn cứ vào môi trường hoạt động kinh doanh: Bất kì một hoạt

động kinh doanh nào của ngân hàng cũng diễn ra trong một môi trường nhất

định. Do đó, khi xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tín dụng, ngân hàng cần

phải xem xét đến sự tác động của các yếu tố mơi trường: tình hình kinh tế, xã

hội trên địa bàn hoạt động của ngân hàng, tính chất lĩnh vực mà ngân hàng

cấp tín dụng, khả năng của các đối thủ cạnh tranh trong ngân hàng.

Thứ ba, căn cứ vào chính sách tín dụng của bản thân ngân hàng: Một

trong những biện pháp quan trọng để các khoản tín dụng ngân hàng đáp ứng

được các tiêu chuẩn pháp lý và bảo đảm an toàn là việc hình thành một



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

*Đo lường rủi ro tín dụng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×