Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NÓI CHUNG

3 GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NÓI CHUNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

75



Thực tế cho thấy, việc thắt chặt tín dụng phi sản xuất đã làm ảnh hưởng lớn đến

thị trường động sản. Các cơng trình đang xây dựng dỡ dang nay phải “trùm mền”

do các ngân hàng ngưng giải ngân các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Doanh nghiệp

kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản khơng hồn thành được cơng trình, khơng

có đầu ra dẫn đến khơng có nguồn thu sẽ không trả nợ được cho ngân hàng. Khi đó,

nợ quá hạn, nợ xấu là điều tất nhiên mà ngân hàng phải gánh chịu.

Một số ngân hàng cho biết, nợ xấu phát sinh không xuất phát từ thái độ dây

dưa, chây ỳ của khách hàng mà là do hoạt động kinh doanh khó khăn, khiến khách

hàng khó có khả năng trả nợ. Đặc biệt, với những khách hàng thân thiết, có quan hệ

giao dịch hai chiều lâu dài, có khoản vay lớn thì ngân hàng quả thật rất khó xử.

Nhiều ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu lên đến 2 – 2,5% tổng dư nợ. Mặc dù gần đây, các

ngân hàng ráo riết siết chặt tín dụng và thu hồi vốn bằng nhiều biện pháp, song

nhiều ý kiến vẫn e ngại nợ xấu sẽ gia tăng vào cuối năm.

Nợ xấu hiện phân bố không đều ở các ngân hàng. Chính điều này phản ánh

năng lực hoạt động của ngân hàng trong việc thẩm định, xét duyệt hồ sơ cho vay và

kiểm soát nguồn vốn vay, cũng như hỗ trợ khách hàng. Bởi trong nhiều trường hợp,

khi xét duyệt hồ sơ cho vay, các dấu hiệu xấu chưa xuất hiện, chỉ đến tháng thứ 3

hoặc tháng thứ 6 mới bắt đầu lộ diện. Lúc này, cần thiết phải có sự theo dõi, kiểm

soát và hỗ trợ lập tức của ngân hàng cho vay. Muốn vậy, các ngân hàng phải có hệ

thống phòng thủ, tức quỹ dự phòng khá chu đáo. Nếu khơng tn thủ điều này, thì

ngân hàng phải nhận lấy hậu quả. Điều đó là hồn tồn sòng phẳng trong kinh doanh.

Hiện nợ xấu của các ngân hàng vẫn đang trong tầm kiểm sốt (hơn 2,7% GDP).

Theo thơng lệ, khi tỷ lệ này tăng quá 5% GDP thì sẽ tác động xấu đến nền kinh tế.

Thế nhưng, với mức lãi suất cho vay lên đến 27 – 28% tại nhiều ngân hàng như

hiện nay, sẽ rất khó khăn cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh cũng như trả

nợ ngân hàng, và áp lực đó sẽ dồn về cuối năm. Mặt khác, cho đến nay, tình hình

các nền kinh tế lớn chi phối thế giới vẫn bộc lộ nhiều tín hiệu xấu. Do vậy, rất khó

để các doanh nghiệp Việt Nam lội ngược dòng, tạo cú đột phá ngoạn mục nào trong

kinh doanh để có doanh thu tốt và xoay sở trả nợ. Nợ xấu đe dọa hoạt động ngân

hàng là tất yếu. Tuy nhiên, ta không bi quan về vấn đề này vì bản chất của nền kinh



76



tế giai đoạn này rất khó khăn, cả người tiêu dùng, doanh nghiệp và ngân hàng cũng

không ngoại lệ. Nếu như người dân phải bươn chải với gánh nặng cuộc sống khi

giá tiêu dùng leo thang, doanh nghiệp phải chật vật cố sức trụ lại thì phía ngân hàng

cũng phải chấp nhận tình thế khó khăn chung. Đây là lúc thanh lọc các doanh

nghiệp yếu và ngân hàng cũng cần như vậy.

Để chất lượng tín dụng ngày càng tốt hơn, khơng chỉ riêng SGCTNH mà các

ngân hàng thương mại nói chung cần phải:

 Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý

Chính sách tín dụng của NHTM là một hệ thống các biện pháp nhằm mở rộng

hay thu hẹp hoạt động cho vay của một NHTM, nhằm mục tiêu chủ yếu là lợi

nhuận cao, đảm bảo an toàn, lành mạnh. Đây là cơ sở pháp lý cho vay, đảm bảo

hiệu quả vốn tín dụng, chính sách cho vay cần quy định cụ thể trong việc xem xét

đối tượng khách hàng cho vay, tiêu chuẩn ngân hàng có thể cho vay. Chính sách tín

dụng là kim chỉ nam bảo dảm cho hoạt động tín dụng đi đúng quỹ đạo. Do đó, khi

nhìn vào cơ cấu và chất lượng tín dụng của một ngân hàng có thể thấy được chính

sách tín dụng của ngân hàng đó như thế nào.

Nếu một ngân hàng quá quan tâm đến chính sách tăng trưởng tín dụng thì rủi ro

tín dụng sẽ cao vì khi đó mục tiêu an tồn tín dụng khơng được đặt lên hàng đầu, vì

mục tiêu tăng trưởng tín dụng sẽ nới lỏng điều kiện vay vốn, việc lựa chọn khách

hàng sẽ khơng còn chặt chẽ. Ngược lại, với chính sách tín dụng thắt chặt thì việc

lựa chọn khách hàng sẽ khắt khe và chỉ cho vay các khoản tín dụng an tồn, đảm

bảo chắc chắn.

Thơng qua chính sách tín dụng, các ngân hàng cũng định hướng cho mình lĩnh

vực khuyến khích cho vay và lĩnh vực hạn chế cho vay, đồng thời xây dựng cơ cấu

dư nợ một cách hợp lý để phát triển bền vững.

 Thực hiện đúng quy trình tín dụng

Thực hiện đúng quy trình tín dụng, đủ các bước trong quy trình sẽ giảm

được rủi ro về đạo đức, hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra. Việc thực hiện đúng quy

trình cho vay các cán bộ tín dụng có thể đánh giá được khả năng xảy ra rủi ro của

khách hàng và khoản vay đó, từ đó có biện pháp để lường trước khi rủi ro xảy ra.



77



 Phân tích tín dụng và đánh giá khả năng xảy ra rủi ro của mỗi khoản vay

trước khi ra quyết định cho vay

Trước khi quyết định cấp tín dụng, cán bộ tín dụng cần phân tích những rủi

ro có thể xảy ra nếu cho vay, những rủi ro cần phân tích như rủi ro về thị trường

đầu ra: do nhu cầu sản phẩm giảm, rủi ro do môi trường kinh doanh, rủi ro cạnh

tranh, rủi ro do người mua chậm hoặc khơng thanh tốn, rủi ro thiếu hụt ngun vật

liệu…từ đó đề ra các biện pháp phòng ngừa để giảm tổn thất nếu rủi ro xảy ra.

 Thường xuyên đánh giá, phân loại tín dụng, xếp loại khách hàng

Phân loại tín dụng là quá trình xác định cập độ rủi ro tín dụng theo một tiêu

thức nhất định.

Thơng qua việc phân loại tín dụng ngân hàng đánh giá được các khoản tín

dụng đủ tiêu chuẩn, có khả năng trả nợ. Các khoản tín dụng được theo dõi là các

khoản tín dụng tiềm ẩn rủi ro, cần được giám sát thường xuyên. Các khoản nợ có

khả năng mất vốn: khó thu hồi được vốn và phải theo dõi, bám sát, thậm chí kiện ra

tòa để có thể phát mãi tài sản, thu hồi nợ.

Xếp loại khách hàng: thông qua tiêu thức xếp loại khách hàng, ngân hàng có

chính sách tín dụng thích hợp. Đối với những khách hàng xếp loại cao, có uy tín

trong thanh tốn nợ gốc và lãi ngân hàng sẽ có chính sách ưu đãi về lãi suất, phí cấp

tín dụng, tài sản bảo đảm…Ngược lại, khách hàng xếp loại thấp ngân hàng cần thắt

chặt các điều kiện tín dụng.

 Trích lập quỹ dự phòng rủi ro đầy đủ

Trích lập quỹ dự phòng rủi ro được coi là một biện pháp quan trọng để hạn

chế rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng. Do rủi ro là điều tất yếu xảy ra trong kinh doanh

của các NHTM, các NHTM khơng thể giảm nó xuống bằng khơng, do vậy để giảm

bớt tổn thất do rủi ro xảy ra, các NHTM cần trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro trong

hoạt động ngân hàng. Hiện các NHTMVN đang trích lập dự phòng rủi ro chung và

dự phòng rủi ro cụ thể.



78



 Tăng cường việc kiểm sốt việc tăng trưởng tín dụng, tuân thủ đúng quy

trình, nguyên tắc

Trước mắt, các ngân hàng nên tăng cường hơn nữa việc kiểm soát các chỉ

tiêu tăng trưởng tín dụng, tăng cường kiểm tra, kiểm sốt trước trong và sau khi cho

vay để phát hiện, xử lý kịp thời những tình huống có dấu hiệu ảnh hưởng đến an

tồn vốn. Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 mà ngân hàng nhà nước quy định

đối với các tổ chức tín dụng là dưới 20%, đến nay một số ngân hàng đã gần đạt đến

mức quy định của NHNN vì vậy từ nay đến cuối năm các NH này chỉ tập trung

kiểm tra, kiểm soát các khoản đã cho vay ra và thu hồi nợ đúng hạn.

Nâng cao chất lượng thẩm định trên cơ sở thường xuyên bồi dưỡng nghiệp

vụ chuyên môn và các lĩnh vực nghiệp vụ khác. Trong quá trình thẩm định, phải

tuân thủ đúng quy trình, ngun tắc, tránh tùy tiện, cảm tính. Xem xét năng lực của

khách hàng trên nhiều phương diện: tài chính, pháp luật dân sự và hành vi dân sự,

hiệu quả của phương án sản xuất, kinh doanh, tính khả thi của phương án, nguồn trả

nợ cho ngân hàng, những lợi ích cũng như rủi ro mà dự án đem lại khi quyết định

tài trợ cho dự án.

Thực hiện chuyển đổi cán bộ quản lý hồ sơ với nhau nhằm đảm bảo cán bộ

tín dụng có thêm nhiều kinh nghiệm trong việc xử lý hồ sơ và các nghiệp vụ mới

phát sinh, tránh tiêu cực có thể xảy ra dẫn đến việc cán bộ tín dụng cấu kết với

khách hàng để rút tiền của ngân hàng.

Bố trí đúng và đủ số cán bộ tín dụng theo quy định xử lý nghiêm túc đối với

cán bộ có sai phạm. Việc bố trí hợp lý số lượng hồ sơ đối với từng cán bộ tín dụng

sẽ giúp họ sâu sát hơn tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mình đang quản lý,

giải quyết nhanh u cầu của khách hàng, khơng bố trí q nhiều hồ sơ cho một cán

bộ tín dụng vì như thế sẽ không quản lý hết các khách hàng, quá tải công việc dẫn

đến làm mất cơ hội kinh doanh của khách hàng, công việc bị tồn đọng.

Đối với các dự án lớn, khoản vay lớn có tổ thẩm định riêng. Phân định rõ

trách nhiệm của giám đốc, cán bộ thẩm định, cán bộ tín dụng… giúp nâng cao tinh

thần trách nhiệm của từng cấp trong quyết định cho vay hay từ chối cho vay của mình.



79



 Xây dựng và hồn thiện chiến lược chính sách quản trị rủi ro đúng đắn

Mỗi ngân hàng phải xây dựng và hoàn thiện chiến lược chính sách quản trị

rủi ro đúng đắn. Thực hiện cải tổ tồn diện các yếu tố có ảnh hưởng tác động đến

năng lực quản trị rủi ro, bao gồm hoạch định và xây dựng chiến lược và chính sách

quản trị rủi ro, tái cơ cấu bộ máy tổ chức, đẩy mạnh áp dụng các công cụ đo lường.

Nâng cao năng lực tự quản trị rủi ro của các ngân hàng chứ không phải là

khống chế từ trên ngân hàng trung ương xuống theo các tỷ lệ, chỉ tiêu nhất định, để

từ đó ngân hàng thương mại cố gắng làm mọi việc để đạt chỉ tiêu đó, kể cả chuyện

bóp méo số liệu. Việc đảm bảo an tồn chỉ có mỗi yêu cầu từ ngân hàng trung ương

dội xuống thì vơ cùng mỏng manh, bởi cơ chế đó do ngân hàng trung ương đưa ra

và rồi chính ngân hàng trung ương kiểm soát và đánh giá.

 Minh bạch và cơng khai hóa thơng tin

Thực hiện minh bạch và cơng khai hóa thơng tin. Chức năng này chính là cơ

sở, động lực để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro. Việc minh bạch và cơng khai

hóa thơng tin không chỉ được thực hiện giữa các NHTM với NHNN mà còn phải

thực hiện ngay trong nội bộ các ngân hàng thương mại.

3.3.2 Về phía nhà nước

Để giảm bớt rủi ro, khơng chỉ riêng các ngân hàng có thể làm được mà bên cạnh

đó cần có sự hỗ trợ từ phía nhà nước về các mặt:

 Sửa đổi văn bản pháp luật cụ thể, tránh chồng chéo

Trên thực tế cho thấy các văn bản hướng dẫn liên quan đến xử lý nợ còn

chưa cụ thể, chồng chéo do đó ngân hàng chưa chủ động xử lý được tài sản bảo đảm.

Xử lý tài sản là một trở ngại lớn đối với ngân hàng khi chưa được tự phát

mãi tài sản - nhất là khi khách hàng không hợp tác và các cơ quan chức năng nhiều

khi chưa hỗ trợ hiệu quả. Hay khi bán tài sản trên đất của doanh nghiệp nhà nước,

giá trị quyền sử dụng đất thường bị chính địa phương thu vào ngân sách nhà nước,

khơng dùng để trả ngân hàng. Có trường hợp ủy ban nhân dân tỉnh thu hồi đất đang

thế chấp ngân hàng cho đơn vị khác thuê, chỉ đền bù giá trị tài sản trên đất với mức

thấp. Việc bán tài sản công khai chưa có hướng dẫn cụ thể vì tổ chức đấu giá liên

quan đến giấy phép và quy định đấu giá.



80



 Nâng cao năng lực thanh tra, giám sát của ngân hàng nhà nước

Nâng cao năng lực thanh tra, giám sát của ngân hàng nhà nước đối với hoạt

động ngân hàng. Để làm tốt việc này, cần khẩn trương tiến hành cải cách thanh tra

ngân hàng theo hướng tập trung hóa, hình thành Tổng cục giám sát ngân hàng có

Chi cục ở một số khu vực, đồng thời thay đổi phương pháp tiếp cận, quy trình

nghiệp vụ thanh tra giám sát. Bởi vì: Thanh tra, giám sát hoạt động của ngân hàng

là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng trung ương nhằm phát hiện và

phòng ngừa những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, hệ thống

thanh tra, giám sát ngân hàng hiện nay đang tỏ ra yếu kém so với yêu cầu quản lý,

giám sát hệ thống ngân hàng hiện đại, không theo kịp đà phát triển” (Phó Chánh

Thanh Tra Ngân hàng nhà nước Nguyễn Đình Quang nhận định).

Hiện nay, hệ thống ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro và yếu kém về tài chính

và hoạt động. Tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh đi đôi với năng lực quản lý yếu

kém trong môi trường kinh doanh nhiều rủi ro (năng lực tài chính, khả năng cạnh

tranh, hiệu quả kinh doanh thấp). Trong khi đó, chức năng, nhiệm vụ giám sát an

tồn hoạt động ngân hàng còn bị phân tán ở nhiều đơn vị. Thanh tra ngân hàng nhà

nước còn hoạt động một cách thụ động theo kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh. Khả

năng giám sát toàn bộ thị trường tiền tệ, phát hiện cảnh báo sớm, ngăn chặn, phòng

ngừa và xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng còn yếu.

3.4 ỨNG DỤNG NGUYÊN TẮC BASEL VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU VÀ NHỮNG

ĐỊNH HƯỚNG TRONG XÂY DỰNG MƠ HÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TÍN

DỤNG HIỆN ĐẠI

Quan điểm của Ủy ban Basel là: sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của

một quốc gia, dù quốc gia phát triển hay đang phát triển, sẽ đe dọa đến sự ổn định

về tài chính trong cả nội bộ quốc gia đó. Vì vậy, nâng cao sức mạnh của hệ thống

tài chính là điều mà Ủy ban Basel quan tâm. Ủy ban Basel không chỉ bó hẹp trong

phạm vi các nước thành viên mà mở rộng mối liên hệ với các chuyên gia trên toàn

cầu. Ủy ban Basel đã đưa ra các nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo



81



tính hiệu quả và an tồn trong hoạt động cấp tín dụng. Các nguyên tắc này tập trung

vào các nội dung cơ bản sau đây:

- Xây dựng mơi trường tín dụng thích hợp: trong nội dung này, Ủy ban Basel

yêu cầu Hội đồng quản trị phải thực hiện phê duyệt định kỳ chính sách rủi ro tín

dụng, xem xét rủi ro tín dụng và xây dựng một chiến lược xuyên suốt trong hoạt

động của ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấp nhận rủi ro…). Trên cơ sở này, Ban

Tổng giám đốc có trách nhiệm thực thi các định hướng này và phát triển các chính

sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu trong mọi

hoạt động, ở cấp độ của từng khoản tín dụng và cả danh mục đầu tư. Các ngân hàng

cần xác định và quản lý rủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm và hoạt động của mình,

đặc biệt là các sản phẩm mới phải có sự phê duyệt của Hội đồng quản trị hoặc Ủy

ban của Hội đồng quản trị.

- Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh: các ngân hàng cần xác định rõ ràng các

tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (thị trường mục tiêu, đối tượng khách hàng, điều

khoản và điều kiện cấp tín dụng…). Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng

cho từng loại khách hàng vay vốn và nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra các loại

hình rủi ro tín dụng khác nhau nhưng có thể so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp

hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.

Ngân hàng phải có quy trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng, các sửa đổi tín dụng

với sự tham gia của các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê

duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia, đồng thời,

cần phát triển đội ngũ nhân viên quản lý rủi ro tín dụng có kinh nghiệm, kiến thức

nhằm đưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản lý rủi

ro tín dụng. Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch cơng bằng

giữa các bên, đặc biệt, cần có sự cẩn trọng và đánh giá hợp lý đối với các khoản tín

dụng cấp cho các khách hàng có quan hệ.

- Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp: Các

ngân hàng cần có hệ thống quản lý một cách cập nhật đối với các danh mục đầu tư

có rủi ro tín dụng, bao gồm cập nhật hồ sơ tín dụng, thu thập thơng tin tài chính

hiện hành, dự thảo các văn bản như hợp đồng vay… theo quy mô và mức độ phức



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NÓI CHUNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×