Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG

2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

71



 Có chế độ đào tạo, khen thưởng, kỷ luật rõ ràng

Bản thân ngân hàng cần phải quan tâm nhiều hơn đến việc đào tạo, bồi

dưỡng, nâng cao trình độ và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ công tác, đồng thời

phải căn cứ vào kết quả công tác của họ để có đãi ngộ, đối xử cơng bằng: Đối với

cán bộ có thành tích suất sắc, cần biểu dương, khen thưởng cả về vật chất lẫn tinh

thần tương xứng với kết quả họ mang lại, kể cả việc nâng lương trước hạn hoặc đề

bạt lên đảm nhiệm ở vị trí cao hơn. Đối với cán bộ có sai phạm, tùy theo tính chất,

mức độ mà có thể giáo dục thuyết phục hoặc phải xử lý kỷ luật. Khen thưởng và kỷ

luật rõ ràng sẽ khuyến khích nhân viên nỗ lực hồn thành tốt cơng việc của mình

đồng thời những nhân viên có ý định khơng lành mạnh phải cân nhắc trước hậu quả

việc mình làm, hạn chế bớt “những con sâu làm rầu nồi canh”. Có như vậy, khơng

những kỷ cương trong hoạt động tín dụng và uy tín của Ngân hàng sẽ ngày càng

nâng cao mà chất lượng tín dụng chắc chắn sẽ được cải thiện đáng kể.

 Sử dụng dự phòng rủi ro đúng lúc

SGTNH khơng nên vì chạy theo việc mở chi nhánh mà cố gắng sử dụng dự

phòng cụ thể để giảm tỷ lệ nợ xấu xuống. Làm như vậy vơ tình sẽ gây tâm lý ỷ lại

đối với CBTD không chịu đôn đốc thu hồi nợ. Bởi vì, khi khoản nợ đã được sử

dụng dự phòng thì dư nợ của KH đó sẽ được hạch toán ngoại bảng, trách nhiệm của

CBTD cũng nhẹ đi phần nào. Dẫn đến tình trạng, trong khi các khoản nợ cũ chưa

thu hồi được thì các khoản nợ q hạn mới lại phát sinh. Chính vì vậy, cần phải cân

nhắc kỹ thời điểm nào cần thiết sử dụng dự phòng rủi ro.

3.2.2 Đối với cán bộ tín dụng

 Tăng cường công tác kiểm tra sau cho vay

Sau khi cho giải ngân định kỳ 3 tháng/lần CBTD phải đến tận nơi sản xuất

kinh doanh của KH để kiểm tra tình hình thực tế. Ngồi việc kiểm tra KH có sử

dụng vốn vay đúng mục đích hay khơng, CBTD phải quan tâm đến tình hình pháp

lý, nhân sự của cơng ty đặc biệt là các thành viên thuộc Hội đồng quản trị/ Hội

đồng thành viên những người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp.

Nợ quá hạn của ngân hàng khơng chỉ phát sinh từ phía doanh nghiệp mà còn

phát sinh từ các KH cá nhân. Nên trong thời gian vay vốn cũng cần nắm bắt được



72



thông tin về công việc hiện tại của KH cá nhân đặc biệt đối với các KH mà nguồn

trả nợ chủ yếu bằng tiền lương. Bởi vì khi mới bắt đầu vay vốn KH có cơng việc ổn

định nhưng sau đó do u cầu công việc phải chuyển công tác hay nghỉ việc sẽ ảnh

hưởng lớn đến nguồn trả nợ của KH.

 Thực hiện bảo đảm tín dụng chặt chẽ

Trong q trình đi công chứng hay đăng ký giao dịch bảo đảm nhân viên tín

dụng phải trực tiếp đi cùng khách hàng, khơng được lơ là, chủ quan trong cơng

việc, tránh tình trạng hoán đổi sổ thật thành sổ giả (đã làm giả công chứng sẵn).

Tránh những trường hợp tương tự xảy ra tại chi nhánh, làm mất đi của ngân hàng 2

tỷ đồng mà từ đó cho đến nay vẫn chưa có khả năng thu hồi được.

Tại SGCTNH tất cả các khoản vay có thế chấp bằng tài sản đủ điều kiện thế

chấp thì hợp đồng thế chấp đều phải được cơng chứng đầy đủ trước mặt cơng

chứng viên và phải có biên nhận hoặc kết quả đăng ký giao dịch bảo đảm đầy đủ thì

khoản vay đó mới được giải ngân ra. Như vậy, phần nào cũng giảm được rủi ro cho

ngân hàng. Nên nhớ rằng, nếu một khách hàng có ý định lừa đảo ngân hàng thì họ

có thể giữ uy tín với ngân hàng đến lần thứ 1000 nhưng đến lần thứ 1001 sẽ là lần

lừa đảo lớn nhất của khách hàng. Là nhân viên tín dụng, việc tin tưởng khách hàng

là cơ sở để hai bên hợp tác với nhau nhưng người làm tín dụng cần phải tỉnh táo

trong mọi trường hợp, chỉ tin tưởng khách hàng ở một chừng mực nào đó mà thơi,

thậm chí đơi khi cần phải biết nghi ngờ.

- Tùy vào từng trường hợp cụ thể, có thể bỏ bớt một số thủ tục rườm rà,

không cần thiết (tất nhiên là không ảnh hưởng đến sự an toàn của ngân hàng) để

phục vụ khách hàng một cách nhanh nhất thơng qua việc tìm hiểu quy trình làm

việc của các ngân hàng bạn.

 Phân tích đúng xu hướng phát triển ngành

Tùy từng phương án sản xuất kinh doanh và dự án đầu tư cụ thể mà nhân

viên tín dụng phân tích một số nội dung để đánh giá tình hình và triển vọng tương

lai của khách hàng trong mối quan hệ với tình hình thị trường hiện tại như: Xu

hướng phát triển của ngành, các vấn đề liên quan đến cải tiến kỹ thuật, sản phẩm và

khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước, vị thế hiện



73



tại của khách hàng trong ngành, xu hướng giá cả và những triển vọng trong tương

lai của nguyên liệu đầu vào, sự thay đổi về số lượng và giá cả trong cung cầu sản phẩm…

- Tại các chi nhánh của SGCTNH - những nơi có nhiều doanh nghiệp kinh

doanh, vận tải bằng sà lan - đặc trưng của vùng sông nước thường đem lại rủi ro

cao. Thực tế là các khoản nợ quá hạn phát sinh tại chi nhánh đều có liên quan đến

việc cho vay mua sà lan và thế chấp bằng chính chiếc sà lan đó để vận chuyển cát,

đá trên sơng. Khi doanh nghiệp khơng có khả năng trả được nợ thì tài sản thế chấp

là chiếc sà lan cũng không biết bán cho ai, giá trị khấu hao tài sản cũng đã giảm

qua mỗi năm, trong khi đó khoản vay liên quan đến sà lan lên đến hàng chục tỷ

đồng. Chính vì có giai đoạn cho vay đầu tư sà lan kiếm được lợi nhuận nhiều nên

ai cũng muốn vay mua sà lan, đến khi thua lỗ thì ngân hàng là người gánh chịu, vì

vậy mới đây SGCTNH đã có thơng báo đến tồn bộ chi nhánh trong hệ thống phải

hạn chế, thậm chí khơng cho vay đối với các khoản vay đầu tư và thế chấp bằng

sà lan. SGCTNH cần rút ra bài học không cho vay tập trung vào một ngành quá

nhiều mà phải biết phân tán rủi ro.

Sắp tới đây SGCTNH sẽ đi vào áp dụng việc xếp hạng tín dụng nội bộ đối

với tồn bộ khách hàng cá nhân, doanh nghiệp tại SGCTNH. Để có thể áp dụng

được các tiêu chí trong cẩm nang xếp hạng tín dụng nội bộ đòi hỏi cán bộ tín dụng

phải nắm rõ từ các chỉ tiêu tài chính cũng như phi tài chính của khách hàng, các

chỉ tiêu phi tài chính gồm có: đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, trình độ

quản lý và mơi trường nội bộ, quan hệ với Ngân hàng, các nhân tố ảnh hưởng đến

ngành, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của Doanh nghiệp. Các chỉ tiêu tài

chính gồm có: chỉ tiêu thanh khoản, chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu cân nợ, chỉ tiêu

thu nhập... số liệu của các chỉ tiêu tài chính được lấy từ bảng cân đối kế tốn và

kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp cán bộ tín dụng sâu sát

hơn tình hình “sức khỏe” của các khách hàng mà mình đang quản lý, giảm rủi ro ở

mức tối đa cho ngân hàng.

 Kiểm tra tính chính xác của báo cáo tài chính

Một điều quan trọng là phải kiểm tra tính chính xác của báo cáo tài chính

của khách hàng vay vốn trước khi bắt đầu đi vào phân tích chúng. Các báo cáo tài



74



chính, kể cả những báo cáo đã kiểm tốn, nhiều khi khơng chỉ được mơ tả theo

hướng tích cực có dụng ý, mà còn có thể vơ tình sai lệch. Việc kiểm tra bao gồm

xem xét các nguồn dữ liệu, dữ liệu do doanh nghiệp lập, chế độ kế toán áp dụng.

Thông thường một doanh nghiệp tồn tại đến 3 báo cáo tài chính: 1 báo cáo với

doanh thu và lợi nhuận “như mơ” dành để vay vốn ngân hàng, 1 báo cáo với con số

lỗ hoặc lời rất ít dành để nộp thuế và 1 là báo cáo tài chính với con số thực tế để

doanh nghiệp biết mình đang đứng ở vị trí nào. Nhân viên tín dụng cần phải là

người sắc bén, có nhiều kinh nghiệm để có thể biết được báo cáo nào là cần thiết

cho mình để có thể đi đến quyết định cho vay.

 Nâng cao nhận thức của người vay

Nhân viên tín dụng phải phân tích cho người vay hiểu được rằng những bất

lợi của việc chậm trả hoặc không trả lớn hơn rất nhiều so với những lợi ích từ việc

họ chậm trả hoặc khơng trả. Từ đó, nhận thức của khách hàng được tốt hơn và hiểu

rõ họ cần phải làm thế nào để hồn thành nghĩa vụ của mình đối với ngân hàng.

Trên đây là một số giải pháp nhằm giúp cho hệ thống SGCTNH có thể phòng

ngừa và hạn chế được phần nào rủi ro tín dụng, góp phần nâng cao chất lượng tín

dụng và chủ động kiểm sốt được tình hình nợ xấu tại ngân hàng mình.

3.3 GIẢI PHÁP NHẰM PHỊNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI

CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NĨI CHUNG

3.3.1 Về phía các Ngân hàng thương mại

Theo nhận định của các chuyên gia tài chính, nợ xấu của các ngân hàng thương

mại sẽ bộc lộ rõ ở giai đoạn cuối năm, khi mà doanh nghiệp đã đuối sức với món

lãi vay quá cao. Thêm vào đó, dấu hiệu của nền kinh tế sẽ còn nhiều khó khăn, khó

lòng để các doanh nghiệp xoay trở trả nợ đúng hạn.

Để bảo đảm thanh khoản cũng như quy định tăng trưởng tín dụng đạt 20% dư

nợ cho vay, một mặt các ngân hàng triệt để “thắt” các khoản vay phi sản xuất, mặt

khác khẩn trương thu hồi vốn. Từ đây, nợ xấu dần lộ diện. Theo nhiều ngân hàng,

khơng ít doanh nghiệp có các khoản nợ thuộc diện “khó đòi” từ hàng chục đến

hàng trăm tỷ đồng.



75



Thực tế cho thấy, việc thắt chặt tín dụng phi sản xuất đã làm ảnh hưởng lớn đến

thị trường động sản. Các cơng trình đang xây dựng dỡ dang nay phải “trùm mền”

do các ngân hàng ngưng giải ngân các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Doanh nghiệp

kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản khơng hồn thành được cơng trình, khơng

có đầu ra dẫn đến khơng có nguồn thu sẽ không trả nợ được cho ngân hàng. Khi đó,

nợ quá hạn, nợ xấu là điều tất nhiên mà ngân hàng phải gánh chịu.

Một số ngân hàng cho biết, nợ xấu phát sinh không xuất phát từ thái độ dây

dưa, chây ỳ của khách hàng mà là do hoạt động kinh doanh khó khăn, khiến khách

hàng khó có khả năng trả nợ. Đặc biệt, với những khách hàng thân thiết, có quan hệ

giao dịch hai chiều lâu dài, có khoản vay lớn thì ngân hàng quả thật rất khó xử.

Nhiều ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu lên đến 2 – 2,5% tổng dư nợ. Mặc dù gần đây, các

ngân hàng ráo riết siết chặt tín dụng và thu hồi vốn bằng nhiều biện pháp, song

nhiều ý kiến vẫn e ngại nợ xấu sẽ gia tăng vào cuối năm.

Nợ xấu hiện phân bố không đều ở các ngân hàng. Chính điều này phản ánh

năng lực hoạt động của ngân hàng trong việc thẩm định, xét duyệt hồ sơ cho vay và

kiểm soát nguồn vốn vay, cũng như hỗ trợ khách hàng. Bởi trong nhiều trường hợp,

khi xét duyệt hồ sơ cho vay, các dấu hiệu xấu chưa xuất hiện, chỉ đến tháng thứ 3

hoặc tháng thứ 6 mới bắt đầu lộ diện. Lúc này, cần thiết phải có sự theo dõi, kiểm

soát và hỗ trợ lập tức của ngân hàng cho vay. Muốn vậy, các ngân hàng phải có hệ

thống phòng thủ, tức quỹ dự phòng khá chu đáo. Nếu khơng tn thủ điều này, thì

ngân hàng phải nhận lấy hậu quả. Điều đó là hồn tồn sòng phẳng trong kinh doanh.

Hiện nợ xấu của các ngân hàng vẫn đang trong tầm kiểm sốt (hơn 2,7% GDP).

Theo thơng lệ, khi tỷ lệ này tăng quá 5% GDP thì sẽ tác động xấu đến nền kinh tế.

Thế nhưng, với mức lãi suất cho vay lên đến 27 – 28% tại nhiều ngân hàng như

hiện nay, sẽ rất khó khăn cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh cũng như trả

nợ ngân hàng, và áp lực đó sẽ dồn về cuối năm. Mặt khác, cho đến nay, tình hình

các nền kinh tế lớn chi phối thế giới vẫn bộc lộ nhiều tín hiệu xấu. Do vậy, rất khó

để các doanh nghiệp Việt Nam lội ngược dòng, tạo cú đột phá ngoạn mục nào trong

kinh doanh để có doanh thu tốt và xoay sở trả nợ. Nợ xấu đe dọa hoạt động ngân

hàng là tất yếu. Tuy nhiên, ta không bi quan về vấn đề này vì bản chất của nền kinh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×