Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG VIỆC PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG

3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG VIỆC PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

26



tỷ lệ cho vay đầu tư bất động sản trong tổng dư nợ ngân hàng đã được khống chế ở

mức an tồn, khoảng 10-15%, thậm chí thấp hơn. Hơn nữa, có sự khác nhau đáng

kể trong kinh doanh trên thị trường bất động sản Việt Nam và Mỹ, cũng như so với

các thị trường kinh doanh các hàng hóa và dịch vụ thông thường khác, mà trước hết là:

- Việt Nam là nước đất chật, người đông, trong khi Mỹ thì ngược lại, dân số

của họ năm 2007 chỉ 275 triệu người (gấp 3,3 lần Việt Nam), nhưng diện tích của

đất nước này là 9.372.614 km2 (rộng gấp khoảng 28 lần nước ta); hơn nữa, nhu cầu

về nhà ở và mặt bằng kinh doanh của Việt Nam đang ngày càng tăng, nên đầu tư

vào bất động sản ở Việt Nam ít rủi ro hơn ở Mỹ vì độ an tồn về cung-cầu trong

triển vọng trung và dài hạn là rất cao;

- Kinh doanh bất động sản ở Việt Nam chủ yếu là “mua đứt - bán đoạn”,

thanh toán một lần, không phổ biến việc thu hồi nợ kiểu “trả chậm” tới hàng chục

năm như ở Mỹ; thị trường các công cụ nợ phái sinh trên thị trường bất động sản

Việt Nam lại chưa phát triển, nên các ngân hàng có thể thu hồi vốn vay và tăng khả

năng kiểm soát được rủi ro…

- Các nhà đầu tư bất động sản ở Việt Nam thường là các doanh nghiệp hoặc

tổ chức có chức năng hoặc khả năng độc quyền quan hệ “xin dự án” kinh doanh bất

động sản; hơn nữa, còn tồn tại chính sách “2 giá” trong các giao dịch bất động sản,

nên hầu hết các dự án kinh doanh bất động sản ở nước ta do các doanh nghiệp nhà

nước hoặc nước ngồi tiến hành thường có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với các

ngành kinh doanh khác…

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, về ngun tắc, khơng có sự chắc thắng

tuyệt đối trong kinh doanh. Rủi ro luôn tồn tại trên thương trường, nhất là khi hoạt

động kinh doanh bất chấp các nguyên tắc thị trường, cũng như các quy định luật

pháp hiện hành; khi nhà đầu tư là những người thiếu năng lực tài chính và kinh

nghiệm kinh doanh chuyên nghiệp, hoặc chạy theo những dự án có tính đầu cơ cao,

khơng thuộc lĩnh vực hoạt động sở trường của nhà đầu tư. Ngoài ra, cũng cần thấy

rằng, trong bất kỳ cuộc khủng hoảng kinh tế đủ loại nào trên thị trường, thì một

cuộc khủng hoảng tài chính bao giờ cũng có tính đặc thù và nguy hại nhất, vì nó

khó dự báo chính xác và khó chống đỡ hiệu quả nhất, do chúng thường gắn với



27



những bí mật kinh doanh và hiện tượng đầu cơ, cũng như do các phản ứng mang

tính tâm lý, dây chuyền với các động thái cực kỳ phức tạp, nhạy cảm và có gia tốc

cực nhanh. Trong xã hội mà sự phát triển thông tin và độ minh bạch càng cao, các

nguyên tắc phá sản càng nghiêm ngặt như nước Mỹ và các nền kinh tế thị trường

phát triển khác, thì các tính chất này càng đậm hơn. Điều này cũng lý giải vì sao

các đại gia ngân hàng của Mỹ và thế giới, với tổng giá trị tài sản khổng lồ hàng

trăm tỷ USD, nhưng có thể sụp đổ bất ngờ chỉ vì mất khả năng thanh khoản tại thời

điểm buộc phải thanh toán các khoản nợ vài chục tỷ USD, thậm chí chỉ có vài tỷ

USD như đã xẩy ra với một ngân hàng có lịch sử gần 300 năm danh tiếng của Anh

cách đây không lâu.

Ba bài học lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ hiện nay:

Thứ nhất, khơng có ngoại lệ và miễn dịch phá sản cho bất kỳ đại gia nào

trong cuộc chơi trên sân kinh tế thị trường. Nói cách khác, một doanh nghiệp dù

lớn đến đâu, thâm niên dài bao nhiêu và trước đó có thành cơng như thế nào, cũng

có thể sụp đổ nếu vi phạm luật chơi, mà cụ thể ở cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ

hiện nay là vi phạm chuẩn cho vay bất động sản có sự dung túng của chính phủ…

Thứ hai, vai trò của cơng tác thơng tin, dự báo và giám sát, cảnh báo an

tồn, nhất là an tồn hệ thống tài chính - ngân hàng là hết sức quan trọng và không

thể coi nhẹ trong bất luận trường hợp nào và vào thời điểm nào… ngồi ra, cần

ln tỉnh táo với các tác động lan tỏa, dây chuyền của các sự biến kinh tế trên thị

trường trong nước và quốc tế. Cần dập ngòi khủng hoảng từ khi nó còn nhen nhúm,

thay vì khi nó đã thành đám cháy mạnh và lan rộng, thì chi phí là khó đo lường,

nhất là với một nước còn nghèo và các thiết chế thị trường còn chưa phát triển,

hồn thiện.

Thứ ba, nhà nước có vai trò khơng thể thiếu được và ngày càng to lớn trong

cuộc chiến với các chấn động kinh tế chu kỳ hoặc bột phát, nhất là khủng hoảng tài

chính - ngân hàng, dù nó xảy ra khơng trực tiếp từ sai lầm của chính phủ hoặc trong

khu vực kinh tế nhà nước… Tuy nhiên, sự can thiệp này phải tuân thủ các yêu cầu

và lợi ích thị trường, khơng làm xấu đi sự ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm hài hòa

các lợi ích, nhất là khơng đổ gánh nặng khủng hoảng lên người dân, người tiêu



28



dùng. Sử dụng các công cụ nợ, biến nợ xấu thành chứng khốn có thể mua - bán

trên thị trường nợ là một trong các lựa chọn cần thiết và hiệu quả trong trường hợp

này và cho mục tiêu đó.

1.3.2 Kinh nghiệm của Ngân hàng Cơng Thương Việt Nam

Khơng chủ quan với nợ nhóm 2 mà phải sớm phân tích ngun nhân và có biện

pháp tín dụng ngay từ đầu, khơng để kéo dài thời gian quá hạn, dễ dẫn đến nguy cơ

nợ xấu.

Qui chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng theo quyết định

1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo

quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 3/2/2005 và hướng dẫn của NHCTVN

qui định việc xử lý nợ vay khi khách hàng không trả nợ đúng hạn là: "...Đến thời

điểm trả nợ gốc và/hoặc lãi đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng (HĐTD) hoặc

từng giấy nhận nợ, nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn, NHCV đánh gía là

khơng có khả năng trả nợ đúng hạn và không chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn

trả nợ gốc và/ hoặc lãi thì tồn bộ số dư nợ gốc của HĐTD đó là nợ quá hạn ..."

Rõ ràng, khách hàng chỉ cần quá hạn nợ gốc và/hoặc lãi vay một ngày thơi, cũng đủ

để tồn bộ dư nợ gốc của HĐTD bị chuyển sang nợ quá hạn, phân loại vào trạng

thái nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý). Ở NHCTVN, chính sách phân loại nợ trên được

thực hiện tự động hóa một cách minh bạch trên phần mềm quản lý nợ toàn hệ thống

khiến cho nợ quá hạn các nhóm tự động phát sinh trên hồ sơ quản lý món vay và

cân đối kế tốn. Trong khi đó, một số ít cán bộ tín dụng (CBTD) thiếu sâu sát món

vay, khi có nợ quá hạn chỉ kiểm tra qua loa, nghe theo khách hàng, để bảo vệ mình

trước sự thẩm tra của cấp trên thường giải trình nguyên nhân quá hạn nhóm 2 bằng

điệp khúc “quá hạn tạm thời do chậm kỳ lãi và /hoặc gốc, sẽ thu hồi vào

tháng……, trở về nợ trong hạn”. Giải trình này mới nghe qua xem chừng có thể

chấp nhận vì “chỉ q hạn tạm thời do khó khăn khách quan còn nói chung khách

hàng đang hoạt động kinh doanh tốt”. Tuy nhiên, nếu lãnh đạo tín dụng, phòng

Quản lý Rủi ro & Nợ có vấn đề khơng cảnh báo, đơn đốc CBTD điều tra ngay

khách hàng để xác định nguồn gốc sâu xa nguyên nhân “chậm trả tạm thời” thì dần

dần sẽ tạo nên tâm lý chủ quan, ỷ lại, không kiểm tra sâu sát khách hàng, đến khi



29



quá hạn nhiều ngày, phát hiện khách hàng thực sự suy giảm khả năng trả nợ thì nợ

xấu (nhóm 3 trở lên) là điều không thể tránh khỏi và mọi biện pháp xử lý lúc này là

qúa trễ và kém tác dụng. Cũng cần nói thêm, hiện nay tại các địa phương đã ngày

càng phát triển một dịch vụ tín dụng mới: “Dịch vụ đáo hạn nợ ngân hàng ”. Theo

đó, các chủ cho vay bên ngoài sẵn sàng nhận tài sản cầm cố, thế chấp để cho vay

nóng trả thay khoản tiền lãi /gốc đến hạn tại các ngân hàng thương, còn sau đó thì

người vay lại tiếp tục tìm nguồn để giải chấp món vay nóng này. Thủ thuật này đã

“bịt mắt” CBTD, khiến CBTD có niềm tin với người vay, chủ quan, khơng còn

nghi ngờ, thậm chí bỏ ý định kiểm tra món vay định kỳ. Trong những trường hợp

này, ngay cả nợ vay đang ở nhóm 1 nhưng thực chất năng lực tài chính đã suy

giảm, là mối đe dọa tiềm ẩn của NHCV.

Yêu cầu cảnh báo sớm nợ nhóm 2 đòi hỏi CBTD phải kiểm tra trực tiếp và

thu thập thông tin về khách hàng để giải đáp ngay câu hỏi: Nguyên nhân nào dẫn

đến chậm trả lãi và/hoặc gốc của khách hàng ? (Nguyên nhân trực tiếp: do lỗ một

phi vụ, do công nợ không thu được, do mất một phần thị trường, do lô sản phẩm

hỏng không bán được, do bị lừa đảo …; nguyên nhân sâu xa: do thiếu vốn chủ sở

hữu, lỗ kéo dài, dòng ngân qũy âm, đầu tư tràn lan, sử dụng vốn sai mục đích, dự

án kém hiệu qủa, mất thị trường đầu vào, đầu ra, năng lực quản lý yếu…). Để

phòng ngừa thủ thuật vay đáo hạn nợ như đã nêu thì kể cả trường hợp khách hàng

có nguồn trả nợ nhóm 2, CBTD cũng cần “viếng thăm” khách hàng để tìm hiểu

xem nguồn trả nợ từ đâu. Nếu khoản nợ nhóm 2 q hạn được khắc phục khơng

qúa 30 ngày, nguồn trả nợ thực chất từ chu chuyển vốn kinh doanh lành mạnh thì

có thể n tâm về tình hình tài chính người vay. Ngược lại nếu việc chậm lãi / gốc

được xác định là có dấu hiệu, nguyên nhân bất ổn trong kinh doanh thì rõ ràng

khơng còn là tình huống chậm trả lãi tạm thời mà CBTD phải báo cáo lãnh đạo tín

dụng và đề xuất xử lý. Lúc này việc phát hiện, cảnh báo sớm sẽ có tác động tích

cực cho cả hai bên (người vay lẫn NHCV) còn kịp thời gian toan tính khắc phục

hay chí ít ra là cả hai bên khơng tiếp tục dấn sâu vào những khó khăn nhiều hơn

nữa. Nếu quá hạn do một lô hàng thua lỗ, một khoản công nợ đọng … cũng còn lời

cảnh báo của NHCV để người vay tìm nguồn trả nợ, đồng thời sốt xét, sửa đổi



30



quyết định kinh doanh nhằm phòng tránh rủi ro. Nếu q hạn do những khó khăn

tài chính sâu xa thì kết qủa này giúp cả hai bên cùng thơng đạt lẫn nhau về giải

pháp trả nợ, thống nhất lộ trình xử lý nợ tồn diện. Riêng với NHCV, cần xây dựng

sẵn một ma trận xử lý tín dụng hợp lý tùy vào chuyển biến thực tế tình hình.

Với ý nghĩa là nợ cần chú ý, thời gian quá hạn dưới 90 ngày hoặc đánh giá

theo tỷ lệ tổn thất giá trị nợ gốc, mức độ suy giảm khả năng trả nợ, nợ nhóm 2 được

coi như chiếc nhiệt kế đo lường và cảnh báo sớm mức độ rủi ro tín dụng tại NHCV.

Cho dù là món vay lớn hay món vay nhỏ, cho vay doanh nghiệp nhà nước hay kinh

tế dân doanh, cho vay có hay khơng có tài sản bảo đảm thì khả năng phát sinh nợ

nhóm 2, nguy cơ chuyển từ nợ nhóm 2 sang nợ xấu là hết sức tiềm ẩn ở mọi chi

nhánh NHCV nếu CBTD còn tư tưởng chủ quan, kiểm tra hời hợt rồi đánh giá là

quá hạn tạm thời. Vì vậy, cần sớm phân tích ngun nhân nợ nhóm 2 và có biện

pháp tín dụng ngay từ đầu, khơng để kéo dài thời gian quá hạn, vì rất dễ dẫn đến hệ

lụy nợ xấu

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc

khách quan. Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các

NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng ngân

hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi, đang

định hướng mơ hình phát triển ở VN. Trong phạm vi tầm tay của các ngân hàng,

rủi ro tín dụng phụ thuộc vào năng lực của bộ phận tín dụng trong việc phát hiện và

hạn chế rủi ro từ lúc xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian vay.

Qua việc tìm hiểu về cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ cũng như kinh

nghiệm trong việc phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công Thương Việt

Nam, các NHTM Việt Nam nói chung và SGCTNH nói riêng cũng rút ra cho mình

bài học kinh nghiệm cho mình để hạn chể rủi ro một cách hiệu quả nhất.



31



Chương 2

THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG

TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GỊN CƠNG THƯƠNG

2.1 KHÁI QT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GỊN

CƠNG THƯƠNG

2.1.1 Vài nét về ngân hàng TMCP Sài Gòn Cơng Thương

Sài Gòn Cơng Thương ngân hàng (SGCTNH) là ngân hàng thương mại cổ

phần đầu tiên được thành lập trong hệ thống Ngân hàng cổ phần tại Việt Nam hiện

nay, ra đời ngày 16 tháng 10 năm 1987, trước khi có luật cơng ty và Pháp lệnh

Ngân hàng với vốn điều lệ ban đầu là 650 triệu đồng và thời gian hoạt động là 50 năm.

Sự ra đời của SGCTNH là một bước đột phá của Thành Ủy, Ủy Ban Nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh về việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng về đổi

mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh

doanh xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong hoạt động ngân hàng.

 Ngành nghề kinh doanh

SGCTNH hoạt động trong ngành tài chánh ngân hàng, trong đó các nghiệp vụ kinh

doanh chính như sau:

Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn với các hình thức tiền gởi có kỳ

hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gởi. Tiếp nhận vốn đầu tư và phát triển, vay vốn

các tổ chức tín dụng khác. Cho vay ngắn, trung và dài hạn. Chiết khấu thương

phiếu, cổ phiếu và giấy tờ có giá. Hùn vốn và liên doanh. Làm dịch vụ thanh toán

giữa các khách hàng. Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, thanh toán quốc tế. Huy động

vốn từ nước ngoài và dịch vụ ngân hàng khác trong quan hệ với nước ngoài khi

được Ngân hàng Nhà nước cho phép. Mua bán chế tác, gia công vàng. Dịch vụ cầm

đồ. Phát hành thẻ nội địa Saigonbank Card.

 Tình hình hoạt động

Qua những diễn biến của tình hình kinh tế xã hội và ngành ngân hàng Việt Nam

năm 2010, tình hình hoạt động của ngân hàng trong năm 2010 như sau:



32



Vốn điều lệ: Ðã phát hành cổ phần tăng vốn điều lệ từ 1.500 tỷ đồng lên

2.460 tỷ đồng và được Sở Kế hoạch – đầu tư TP. HCM công nhận vốn điều lệ mới

vào ngày 29/12/2010.

Mạng lưới hoạt động: đến nay, SGCTNH đã có tổng cộng 91 chi nhánh và

phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, nâng tổng số địa điểm giao dịch của SGCTNH lên

91 đơn vị giao dịch.

Trãi qua 20 năm hoạt động, ngồi việc đưa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng

có chất lượng, phù hợp với nhu cầu khách hàng, mở rộng mạng lưới hoạt động...

với đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, SGCTNH còn quan tâm

và mở rộng các hoạt động đến các đối tượng khách hàng là cá nhân, công ty liên

doanh, doanh nghiệp nước ngồi... hoạt động trong các khu chế xuất, khu cơng

nghiệp, hỗ trợ sự phát triển các ngành nghề nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thu công

nghiệp và các ngành nghề truyền thống tại địa phương trong cả nước.

Trong thời gian tới, theo xu thế phát triển - hội nhập của hệ thống NHTM

Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới, NH TMCP Sài gòn cơng thương sẽ

liên tục đổi mới hoạt động: cung ứng thêm nhiều sản phẩm dịch vụ, ưu đãi các

khách hàng giao dịch thường xuyên, mở rộng mạng lưới hoạt động, hướng tới phục

vụ khách hàng bằng những sản phẩm dịch vụ Ngân hàng hiện đại với chất lượng

dựa trên nền tảng công nghệ NH tiên tiến... nhằm thực hiện thành công mục tiêu là

một trong những ngân hàng TMCP lớn mạnh hàng đầu trong hệ thống NHTM cổ phần.

Bằng chứng là trong năm 2010, SGCTNH đã sử dụng phần mềm Symbol

trong quản lý hoạt động ngân hàng. Với công nghệ hiện đại này, việc quản lý,

kiểm sốt và trao đổi thơng tin giữa Hội sở chính và các đơn vị được đảm bảo.

Cơng tác ghi chép, lưu trữ chứng từ và lập sổ kế tốn, báo cáo tài chính của

ngân hàng vẫn tn thủ đầy đủ các quy định và chế độ kế toán ngành ngân hàng

và hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam.

Cuối năm 2011, khách hàng của SGCTNH có thể sử dụng dịch vụ Ngân

hàng trực tuyến, cho phép khách hàng có thể có thể truy vấn thơng tin về khoản

vay: ngày đáo hạn, trạng thái của khoản vay, các tài sản đảm bảo và các loại phí

gắn với khoản vay, cung cấp thông tin tổng số tiền: lãi phạt, lãi, vốn đã đến hạn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG VIỆC PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×