Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG

GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

68







Hoạt động tín dụng: 12.500 tỷ đồng, tăng 19,55% (2.044 tỷ đồng) so với

năm 2010. Nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5): dưới 03% trên tổng dư nợ cho vay.







Thanh toán đối ngoại: 400 triệu USD, tăng 25% so với năm 2010.







Phát hành thẻ SGCTNH: 50.000 thẻ, tăng 140% (29.120 thẻ) so với

năm 2010.







Mạng lưới hoạt động: thành lập các chi nhánh tại các tỉnh/ thành phố lớn

trên toàn quốc sau khi đáp ứng đủ các điều kiện thành lập theo quy định

của NHNN. Lợi nhuận trước thuế: 350 tỷ đồng, tăng 9,03% (29 tỷ đồng)

so với năm 2010. Cổ tức chia cổ đông: 11%/năm (bao gồm cổ phiếu thưởng).



Bên cạnh những chỉ tiêu cần đạt được trong năm 2011, SGCTNH xác định chiến

lược quan trọng luôn luôn phải hướng đến từ năm 2011 -2015 đó là:

− Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tiện ích và hiện đại. Hướng tới việc phát

triển các mảng dịch vụ phi tín dụng nhằm thu về cho ngân hàng các nguồn

lợi nhuận ít rủi ro hơn. Tăng cường quản trị rủi ro để tránh khủng hoảng, đa

dạng hóa các hoạt động kinh doanh theo xu hướng mở rộng phạm vi sang

nhiều lĩnh vực, thơng qua các hình thức thành lập nhiều cơng ty con vệ tinh

hoặc liên doanh liên kết nhằm phân tán rủi ro, phát triển theo xu hướng

chun mơn hóa cao, góp phần tăng thu nhập.

− Chuẩn hóa mơ hình tổ chức, cơ chế quản trị, điều hành hệ thống phù hợp với

xu hướng phát triển của thị trường và chuẩn mực quốc tế. Lựa chọn và áp

dụng các thông lệ quốc tế tốt nhất vào mơ hình tổ chức, quản trị, điều hành

kinh doanh, quản lý và kiểm soát rủi ro, quy trình nghiệp vụ.

− Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, cải thiện căn bản chất lượng

nguồn nhân lực. SGCTNH sẽ tiếp tục cơ cấu lại nguồn nhân lực một cách

mạnh mẽ, không tăng mà giảm số lượng, tăng chất lượng nguồn nhân lực,

xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chun mơn cao, tạo điều kiện cho

nhân viên có thể tham gia các khóa đào tạo do Hiệp hội ngân hàng và các tổ

chức trong và ngoài nước giảng dạy.



69



− Đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin: Ưu tiên tập trung

phát triển mạnh công nghệ thông tin đồng bộ, hiện đại trong lĩnh vực quản

trị ngân hàng, kiểm soát rủi ro, phát triển dịch vụ mới.

− Tăng vốn chủ sở hữu và nâng cao năng lực tài chính. Đây là một trong

những mục tiêu hàng đầu của SGCTNH.

− Đối với hoạt động huy động vốn: trong điều kiện nền kinh tế dự báo còn

nhiều khó khăn, cạnh tranh trên thị trường tài chính ngân hàng ngày càng

cao, SGCTNH xác định cơng tác phát triển nguồn vốn là nhiệm vụ trọng

tâm hàng đầu, là yếu tố quyết định quy mô tài sản ngân hàng. Để tăng khả

năng huy động vốn, toàn hệ thống của SGCTNH tích cực triển khai cơng tác

tiếp thị, thường xuyên bám sát thị trường. Đặc biệt, đối với những khách

hàng lớn, lượng tiền mặt luôn dồi dào, SGCTNH luôn giành những ưu đãi

đặc biệt đối với những khách hàng này: ưu đãi về lãi suất cho vay, lãi suất

tiền gửi, giải quyết các hồ sơ liên quan đến KH một cách nhanh chóng...

− Đối với hoạt động sử dụng vốn: tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tín dụng và đầu

tư theo nguyên tắc tăng trưởng an toàn và hiệu quả. Tiếp tục duy trì cơ cấu tín

dụng phù hợp với quy định của NHNN trong từng thời kỳ như: tỷ lệ cho vay

giữa nguồn vốn ngắn hạn với những khoản vay trung dài hạn, tỷ lệ cho vay

đối với lĩnh vực phi sản xuất nói chung và bất động sản nói riêng so với tổng

dư nợ của tồn hệ thống... Có chính sách cho vay ưu đãi đối với lĩnh vực sản

xuất kinh doanh và đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu (đem về lượng ngoại tệ

lớn cho SGCTNH).

− Nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ, tái cấu trúc thu nhập của ngân hàng,

theo đó tăng mạnh thu nhập từ hoạt động dịch vụ, phi tín dụng. Chú trọng

nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng khai thác dịch vụ bán hàng, thái độ

phục vụ, tư vấn, chăm sóc khách hàng đối với đội ngũ tiếp xúc khách hàng

trực tiếp. Bởi vì, khi tiếp xúc với khách hàng mỗi nhân viên của SGCTNH

đang đại diện cho cả một ngân hàng, qua quá trình tiếp xúc KH sẽ có những

nhận xét, đánh giá về thái độ, cung cách phục vụ của SGCTNH.



70



− Phát triển ngân hàng bán lẽ. Tập trung nghiên cứu chiến lược phát triển và

triển khai mơ hình ngân hàng bán lẽ, phối hợp với các chi nhánh, phòng giao

dịch trên cả nước để bán chéo sản phẩm, đem lại lợi ích tối đa cho khách

hàng, giúp tăng thu nhập từ dịch vụ.





Giới thiệu đến khách hàng những ứng dụng mới của SGCTNH trong việc

tra cứu số dư tiền gửi, chuyển tiền, trả tiền trực tuyến thơng qua chương

trình hiện đại, tiên tiến Internet Banking, Home Banking, Phone Banking...



3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TẠI

NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CƠNG THƯƠNG

3.2.1 Đối với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Cơng Thương

Giữa phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng và xử lý rủi ro thì SGCT NH chú trọng việc

phòng ngừa hạn chế rủi ro tín dụng vì “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Từ những mặt còn chưa đạt được, tồn hệ thống SGCTNH cần phải rút ra

cho mình những bài học kinh nghiệm, những giải pháp nhằm khắc phục những mặt

còn thiếu sót, để ngày càng hồn thiện mình hơn, đó là:

 Đào tạo, tuyển chọn cán bộ có năng lực giải quyết cơng việc

Nhân viên phòng Thẩm định phải là những người đã được đào tạo qua

nghiệp vụ cho vay thực tế, tiếp xúc và thẩm định trực tiếp khách hàng, có như vậy

mới tích lũy dần được kinh nghiệm. Từ đây sẽ chọn lọc ra những cán bộ thực sự đủ

năng lực để tái thẩm định hồ sơ vượt mức phán quyết mà nhân viên tín dụng của

phòng tín dụng Hội sở và nhân viên tại phòng kinh doanh của các chi nhánh gửi

lên. Việc này có ý nghĩa hết sức quan trọng vì đây hầu hết là các hồ sơ lớn có số

tiền vay từ hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng, tiềm ẩn nhiều rủi ro mà ngân hàng

không thể lường trước được, vượt quá thẩm quyền của Trưởng phòng Tín dụng Hội

sở và Giám đốc các chi nhánh. Vì vậy, trách nhiệm của những người tái thẩm định

hồ sơ là rất lớn, tương ứng với trách nhiệm ấy ngân hàng cần có chế độ lương sao

cho phù hợp để khuyến khích họ gắn bó với cơng việc.



71



 Có chế độ đào tạo, khen thưởng, kỷ luật rõ ràng

Bản thân ngân hàng cần phải quan tâm nhiều hơn đến việc đào tạo, bồi

dưỡng, nâng cao trình độ và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ công tác, đồng thời

phải căn cứ vào kết quả công tác của họ để có đãi ngộ, đối xử cơng bằng: Đối với

cán bộ có thành tích suất sắc, cần biểu dương, khen thưởng cả về vật chất lẫn tinh

thần tương xứng với kết quả họ mang lại, kể cả việc nâng lương trước hạn hoặc đề

bạt lên đảm nhiệm ở vị trí cao hơn. Đối với cán bộ có sai phạm, tùy theo tính chất,

mức độ mà có thể giáo dục thuyết phục hoặc phải xử lý kỷ luật. Khen thưởng và kỷ

luật rõ ràng sẽ khuyến khích nhân viên nỗ lực hồn thành tốt cơng việc của mình

đồng thời những nhân viên có ý định khơng lành mạnh phải cân nhắc trước hậu quả

việc mình làm, hạn chế bớt “những con sâu làm rầu nồi canh”. Có như vậy, khơng

những kỷ cương trong hoạt động tín dụng và uy tín của Ngân hàng sẽ ngày càng

nâng cao mà chất lượng tín dụng chắc chắn sẽ được cải thiện đáng kể.

 Sử dụng dự phòng rủi ro đúng lúc

SGTNH khơng nên vì chạy theo việc mở chi nhánh mà cố gắng sử dụng dự

phòng cụ thể để giảm tỷ lệ nợ xấu xuống. Làm như vậy vơ tình sẽ gây tâm lý ỷ lại

đối với CBTD không chịu đôn đốc thu hồi nợ. Bởi vì, khi khoản nợ đã được sử

dụng dự phòng thì dư nợ của KH đó sẽ được hạch toán ngoại bảng, trách nhiệm của

CBTD cũng nhẹ đi phần nào. Dẫn đến tình trạng, trong khi các khoản nợ cũ chưa

thu hồi được thì các khoản nợ q hạn mới lại phát sinh. Chính vì vậy, cần phải cân

nhắc kỹ thời điểm nào cần thiết sử dụng dự phòng rủi ro.

3.2.2 Đối với cán bộ tín dụng

 Tăng cường công tác kiểm tra sau cho vay

Sau khi cho giải ngân định kỳ 3 tháng/lần CBTD phải đến tận nơi sản xuất

kinh doanh của KH để kiểm tra tình hình thực tế. Ngồi việc kiểm tra KH có sử

dụng vốn vay đúng mục đích hay khơng, CBTD phải quan tâm đến tình hình pháp

lý, nhân sự của công ty đặc biệt là các thành viên thuộc Hội đồng quản trị/ Hội

đồng thành viên những người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp.

Nợ quá hạn của ngân hàng khơng chỉ phát sinh từ phía doanh nghiệp mà còn

phát sinh từ các KH cá nhân. Nên trong thời gian vay vốn cũng cần nắm bắt được



72



thông tin về công việc hiện tại của KH cá nhân đặc biệt đối với các KH mà nguồn

trả nợ chủ yếu bằng tiền lương. Bởi vì khi mới bắt đầu vay vốn KH có cơng việc ổn

định nhưng sau đó do yêu cầu công việc phải chuyển công tác hay nghỉ việc sẽ ảnh

hưởng lớn đến nguồn trả nợ của KH.

 Thực hiện bảo đảm tín dụng chặt chẽ

Trong q trình đi công chứng hay đăng ký giao dịch bảo đảm nhân viên tín

dụng phải trực tiếp đi cùng khách hàng, khơng được lơ là, chủ quan trong cơng

việc, tránh tình trạng hoán đổi sổ thật thành sổ giả (đã làm giả công chứng sẵn).

Tránh những trường hợp tương tự xảy ra tại chi nhánh, làm mất đi của ngân hàng 2

tỷ đồng mà từ đó cho đến nay vẫn chưa có khả năng thu hồi được.

Tại SGCTNH tất cả các khoản vay có thế chấp bằng tài sản đủ điều kiện thế

chấp thì hợp đồng thế chấp đều phải được công chứng đầy đủ trước mặt công

chứng viên và phải có biên nhận hoặc kết quả đăng ký giao dịch bảo đảm đầy đủ thì

khoản vay đó mới được giải ngân ra. Như vậy, phần nào cũng giảm được rủi ro cho

ngân hàng. Nên nhớ rằng, nếu một khách hàng có ý định lừa đảo ngân hàng thì họ

có thể giữ uy tín với ngân hàng đến lần thứ 1000 nhưng đến lần thứ 1001 sẽ là lần

lừa đảo lớn nhất của khách hàng. Là nhân viên tín dụng, việc tin tưởng khách hàng

là cơ sở để hai bên hợp tác với nhau nhưng người làm tín dụng cần phải tỉnh táo

trong mọi trường hợp, chỉ tin tưởng khách hàng ở một chừng mực nào đó mà thơi,

thậm chí đơi khi cần phải biết nghi ngờ.

- Tùy vào từng trường hợp cụ thể, có thể bỏ bớt một số thủ tục rườm rà,

không cần thiết (tất nhiên là không ảnh hưởng đến sự an toàn của ngân hàng) để

phục vụ khách hàng một cách nhanh nhất thơng qua việc tìm hiểu quy trình làm

việc của các ngân hàng bạn.

 Phân tích đúng xu hướng phát triển ngành

Tùy từng phương án sản xuất kinh doanh và dự án đầu tư cụ thể mà nhân

viên tín dụng phân tích một số nội dung để đánh giá tình hình và triển vọng tương

lai của khách hàng trong mối quan hệ với tình hình thị trường hiện tại như: Xu

hướng phát triển của ngành, các vấn đề liên quan đến cải tiến kỹ thuật, sản phẩm và

khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước, vị thế hiện



73



tại của khách hàng trong ngành, xu hướng giá cả và những triển vọng trong tương

lai của nguyên liệu đầu vào, sự thay đổi về số lượng và giá cả trong cung cầu sản phẩm…

- Tại các chi nhánh của SGCTNH - những nơi có nhiều doanh nghiệp kinh

doanh, vận tải bằng sà lan - đặc trưng của vùng sông nước thường đem lại rủi ro

cao. Thực tế là các khoản nợ quá hạn phát sinh tại chi nhánh đều có liên quan đến

việc cho vay mua sà lan và thế chấp bằng chính chiếc sà lan đó để vận chuyển cát,

đá trên sơng. Khi doanh nghiệp khơng có khả năng trả được nợ thì tài sản thế chấp

là chiếc sà lan cũng không biết bán cho ai, giá trị khấu hao tài sản cũng đã giảm

qua mỗi năm, trong khi đó khoản vay liên quan đến sà lan lên đến hàng chục tỷ

đồng. Chính vì có giai đoạn cho vay đầu tư sà lan kiếm được lợi nhuận nhiều nên

ai cũng muốn vay mua sà lan, đến khi thua lỗ thì ngân hàng là người gánh chịu, vì

vậy mới đây SGCTNH đã có thơng báo đến tồn bộ chi nhánh trong hệ thống phải

hạn chế, thậm chí khơng cho vay đối với các khoản vay đầu tư và thế chấp bằng

sà lan. SGCTNH cần rút ra bài học không cho vay tập trung vào một ngành quá

nhiều mà phải biết phân tán rủi ro.

Sắp tới đây SGCTNH sẽ đi vào áp dụng việc xếp hạng tín dụng nội bộ đối

với tồn bộ khách hàng cá nhân, doanh nghiệp tại SGCTNH. Để có thể áp dụng

được các tiêu chí trong cẩm nang xếp hạng tín dụng nội bộ đòi hỏi cán bộ tín dụng

phải nắm rõ từ các chỉ tiêu tài chính cũng như phi tài chính của khách hàng, các

chỉ tiêu phi tài chính gồm có: đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, trình độ

quản lý và mơi trường nội bộ, quan hệ với Ngân hàng, các nhân tố ảnh hưởng đến

ngành, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của Doanh nghiệp. Các chỉ tiêu tài

chính gồm có: chỉ tiêu thanh khoản, chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu cân nợ, chỉ tiêu

thu nhập... số liệu của các chỉ tiêu tài chính được lấy từ bảng cân đối kế toán và

kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp cán bộ tín dụng sâu sát

hơn tình hình “sức khỏe” của các khách hàng mà mình đang quản lý, giảm rủi ro ở

mức tối đa cho ngân hàng.

 Kiểm tra tính chính xác của báo cáo tài chính

Một điều quan trọng là phải kiểm tra tính chính xác của báo cáo tài chính

của khách hàng vay vốn trước khi bắt đầu đi vào phân tích chúng. Các báo cáo tài



74



chính, kể cả những báo cáo đã kiểm tốn, nhiều khi khơng chỉ được mơ tả theo

hướng tích cực có dụng ý, mà còn có thể vơ tình sai lệch. Việc kiểm tra bao gồm

xem xét các nguồn dữ liệu, dữ liệu do doanh nghiệp lập, chế độ kế tốn áp dụng.

Thơng thường một doanh nghiệp tồn tại đến 3 báo cáo tài chính: 1 báo cáo với

doanh thu và lợi nhuận “như mơ” dành để vay vốn ngân hàng, 1 báo cáo với con số

lỗ hoặc lời rất ít dành để nộp thuế và 1 là báo cáo tài chính với con số thực tế để

doanh nghiệp biết mình đang đứng ở vị trí nào. Nhân viên tín dụng cần phải là

người sắc bén, có nhiều kinh nghiệm để có thể biết được báo cáo nào là cần thiết

cho mình để có thể đi đến quyết định cho vay.

 Nâng cao nhận thức của người vay

Nhân viên tín dụng phải phân tích cho người vay hiểu được rằng những bất

lợi của việc chậm trả hoặc không trả lớn hơn rất nhiều so với những lợi ích từ việc

họ chậm trả hoặc khơng trả. Từ đó, nhận thức của khách hàng được tốt hơn và hiểu

rõ họ cần phải làm thế nào để hồn thành nghĩa vụ của mình đối với ngân hàng.

Trên đây là một số giải pháp nhằm giúp cho hệ thống SGCTNH có thể phòng

ngừa và hạn chế được phần nào rủi ro tín dụng, góp phần nâng cao chất lượng tín

dụng và chủ động kiểm sốt được tình hình nợ xấu tại ngân hàng mình.

3.3 GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI

CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NĨI CHUNG

3.3.1 Về phía các Ngân hàng thương mại

Theo nhận định của các chuyên gia tài chính, nợ xấu của các ngân hàng thương

mại sẽ bộc lộ rõ ở giai đoạn cuối năm, khi mà doanh nghiệp đã đuối sức với món

lãi vay quá cao. Thêm vào đó, dấu hiệu của nền kinh tế sẽ còn nhiều khó khăn, khó

lòng để các doanh nghiệp xoay trở trả nợ đúng hạn.

Để bảo đảm thanh khoản cũng như quy định tăng trưởng tín dụng đạt 20% dư

nợ cho vay, một mặt các ngân hàng triệt để “thắt” các khoản vay phi sản xuất, mặt

khác khẩn trương thu hồi vốn. Từ đây, nợ xấu dần lộ diện. Theo nhiều ngân hàng,

khơng ít doanh nghiệp có các khoản nợ thuộc diện “khó đòi” từ hàng chục đến

hàng trăm tỷ đồng.



75



Thực tế cho thấy, việc thắt chặt tín dụng phi sản xuất đã làm ảnh hưởng lớn đến

thị trường động sản. Các cơng trình đang xây dựng dỡ dang nay phải “trùm mền”

do các ngân hàng ngưng giải ngân các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Doanh nghiệp

kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản khơng hồn thành được cơng trình, khơng

có đầu ra dẫn đến khơng có nguồn thu sẽ khơng trả nợ được cho ngân hàng. Khi đó,

nợ quá hạn, nợ xấu là điều tất nhiên mà ngân hàng phải gánh chịu.

Một số ngân hàng cho biết, nợ xấu phát sinh không xuất phát từ thái độ dây

dưa, chây ỳ của khách hàng mà là do hoạt động kinh doanh khó khăn, khiến khách

hàng khó có khả năng trả nợ. Đặc biệt, với những khách hàng thân thiết, có quan hệ

giao dịch hai chiều lâu dài, có khoản vay lớn thì ngân hàng quả thật rất khó xử.

Nhiều ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu lên đến 2 – 2,5% tổng dư nợ. Mặc dù gần đây, các

ngân hàng ráo riết siết chặt tín dụng và thu hồi vốn bằng nhiều biện pháp, song

nhiều ý kiến vẫn e ngại nợ xấu sẽ gia tăng vào cuối năm.

Nợ xấu hiện phân bố không đều ở các ngân hàng. Chính điều này phản ánh

năng lực hoạt động của ngân hàng trong việc thẩm định, xét duyệt hồ sơ cho vay và

kiểm soát nguồn vốn vay, cũng như hỗ trợ khách hàng. Bởi trong nhiều trường hợp,

khi xét duyệt hồ sơ cho vay, các dấu hiệu xấu chưa xuất hiện, chỉ đến tháng thứ 3

hoặc tháng thứ 6 mới bắt đầu lộ diện. Lúc này, cần thiết phải có sự theo dõi, kiểm

sốt và hỗ trợ lập tức của ngân hàng cho vay. Muốn vậy, các ngân hàng phải có hệ

thống phòng thủ, tức quỹ dự phòng khá chu đáo. Nếu khơng tn thủ điều này, thì

ngân hàng phải nhận lấy hậu quả. Điều đó là hồn tồn sòng phẳng trong kinh doanh.

Hiện nợ xấu của các ngân hàng vẫn đang trong tầm kiểm soát (hơn 2,7% GDP).

Theo thông lệ, khi tỷ lệ này tăng quá 5% GDP thì sẽ tác động xấu đến nền kinh tế.

Thế nhưng, với mức lãi suất cho vay lên đến 27 – 28% tại nhiều ngân hàng như

hiện nay, sẽ rất khó khăn cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh cũng như trả

nợ ngân hàng, và áp lực đó sẽ dồn về cuối năm. Mặt khác, cho đến nay, tình hình

các nền kinh tế lớn chi phối thế giới vẫn bộc lộ nhiều tín hiệu xấu. Do vậy, rất khó

để các doanh nghiệp Việt Nam lội ngược dòng, tạo cú đột phá ngoạn mục nào trong

kinh doanh để có doanh thu tốt và xoay sở trả nợ. Nợ xấu đe dọa hoạt động ngân

hàng là tất yếu. Tuy nhiên, ta không bi quan về vấn đề này vì bản chất của nền kinh



76



tế giai đoạn này rất khó khăn, cả người tiêu dùng, doanh nghiệp và ngân hàng cũng

không ngoại lệ. Nếu như người dân phải bươn chải với gánh nặng cuộc sống khi

giá tiêu dùng leo thang, doanh nghiệp phải chật vật cố sức trụ lại thì phía ngân hàng

cũng phải chấp nhận tình thế khó khăn chung. Đây là lúc thanh lọc các doanh

nghiệp yếu và ngân hàng cũng cần như vậy.

Để chất lượng tín dụng ngày càng tốt hơn, không chỉ riêng SGCTNH mà các

ngân hàng thương mại nói chung cần phải:

 Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý

Chính sách tín dụng của NHTM là một hệ thống các biện pháp nhằm mở rộng

hay thu hẹp hoạt động cho vay của một NHTM, nhằm mục tiêu chủ yếu là lợi

nhuận cao, đảm bảo an toàn, lành mạnh. Đây là cơ sở pháp lý cho vay, đảm bảo

hiệu quả vốn tín dụng, chính sách cho vay cần quy định cụ thể trong việc xem xét

đối tượng khách hàng cho vay, tiêu chuẩn ngân hàng có thể cho vay. Chính sách tín

dụng là kim chỉ nam bảo dảm cho hoạt động tín dụng đi đúng quỹ đạo. Do đó, khi

nhìn vào cơ cấu và chất lượng tín dụng của một ngân hàng có thể thấy được chính

sách tín dụng của ngân hàng đó như thế nào.

Nếu một ngân hàng quá quan tâm đến chính sách tăng trưởng tín dụng thì rủi ro

tín dụng sẽ cao vì khi đó mục tiêu an tồn tín dụng khơng được đặt lên hàng đầu, vì

mục tiêu tăng trưởng tín dụng sẽ nới lỏng điều kiện vay vốn, việc lựa chọn khách

hàng sẽ không còn chặt chẽ. Ngược lại, với chính sách tín dụng thắt chặt thì việc

lựa chọn khách hàng sẽ khắt khe và chỉ cho vay các khoản tín dụng an tồn, đảm

bảo chắc chắn.

Thơng qua chính sách tín dụng, các ngân hàng cũng định hướng cho mình lĩnh

vực khuyến khích cho vay và lĩnh vực hạn chế cho vay, đồng thời xây dựng cơ cấu

dư nợ một cách hợp lý để phát triển bền vững.

 Thực hiện đúng quy trình tín dụng

Thực hiện đúng quy trình tín dụng, đủ các bước trong quy trình sẽ giảm

được rủi ro về đạo đức, hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra. Việc thực hiện đúng quy

trình cho vay các cán bộ tín dụng có thể đánh giá được khả năng xảy ra rủi ro của

khách hàng và khoản vay đó, từ đó có biện pháp để lường trước khi rủi ro xảy ra.



77



 Phân tích tín dụng và đánh giá khả năng xảy ra rủi ro của mỗi khoản vay

trước khi ra quyết định cho vay

Trước khi quyết định cấp tín dụng, cán bộ tín dụng cần phân tích những rủi

ro có thể xảy ra nếu cho vay, những rủi ro cần phân tích như rủi ro về thị trường

đầu ra: do nhu cầu sản phẩm giảm, rủi ro do môi trường kinh doanh, rủi ro cạnh

tranh, rủi ro do người mua chậm hoặc khơng thanh tốn, rủi ro thiếu hụt ngun vật

liệu…từ đó đề ra các biện pháp phòng ngừa để giảm tổn thất nếu rủi ro xảy ra.

 Thường xuyên đánh giá, phân loại tín dụng, xếp loại khách hàng

Phân loại tín dụng là q trình xác định cập độ rủi ro tín dụng theo một tiêu

thức nhất định.

Thơng qua việc phân loại tín dụng ngân hàng đánh giá được các khoản tín

dụng đủ tiêu chuẩn, có khả năng trả nợ. Các khoản tín dụng được theo dõi là các

khoản tín dụng tiềm ẩn rủi ro, cần được giám sát thường xuyên. Các khoản nợ có

khả năng mất vốn: khó thu hồi được vốn và phải theo dõi, bám sát, thậm chí kiện ra

tòa để có thể phát mãi tài sản, thu hồi nợ.

Xếp loại khách hàng: thông qua tiêu thức xếp loại khách hàng, ngân hàng có

chính sách tín dụng thích hợp. Đối với những khách hàng xếp loại cao, có uy tín

trong thanh tốn nợ gốc và lãi ngân hàng sẽ có chính sách ưu đãi về lãi suất, phí cấp

tín dụng, tài sản bảo đảm…Ngược lại, khách hàng xếp loại thấp ngân hàng cần thắt

chặt các điều kiện tín dụng.

 Trích lập quỹ dự phòng rủi ro đầy đủ

Trích lập quỹ dự phòng rủi ro được coi là một biện pháp quan trọng để hạn

chế rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng. Do rủi ro là điều tất yếu xảy ra trong kinh doanh

của các NHTM, các NHTM khơng thể giảm nó xuống bằng khơng, do vậy để giảm

bớt tổn thất do rủi ro xảy ra, các NHTM cần trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro trong

hoạt động ngân hàng. Hiện các NHTMVN đang trích lập dự phòng rủi ro chung và

dự phòng rủi ro cụ thể.



78



 Tăng cường việc kiểm soát việc tăng trưởng tín dụng, tn thủ đúng quy

trình, ngun tắc

Trước mắt, các ngân hàng nên tăng cường hơn nữa việc kiểm soát các chỉ

tiêu tăng trưởng tín dụng, tăng cường kiểm tra, kiểm soát trước trong và sau khi cho

vay để phát hiện, xử lý kịp thời những tình huống có dấu hiệu ảnh hưởng đến an

toàn vốn. Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 mà ngân hàng nhà nước quy định

đối với các tổ chức tín dụng là dưới 20%, đến nay một số ngân hàng đã gần đạt đến

mức quy định của NHNN vì vậy từ nay đến cuối năm các NH này chỉ tập trung

kiểm tra, kiểm soát các khoản đã cho vay ra và thu hồi nợ đúng hạn.

Nâng cao chất lượng thẩm định trên cơ sở thường xuyên bồi dưỡng nghiệp

vụ chuyên môn và các lĩnh vực nghiệp vụ khác. Trong quá trình thẩm định, phải

tuân thủ đúng quy trình, nguyên tắc, tránh tùy tiện, cảm tính. Xem xét năng lực của

khách hàng trên nhiều phương diện: tài chính, pháp luật dân sự và hành vi dân sự,

hiệu quả của phương án sản xuất, kinh doanh, tính khả thi của phương án, nguồn trả

nợ cho ngân hàng, những lợi ích cũng như rủi ro mà dự án đem lại khi quyết định

tài trợ cho dự án.

Thực hiện chuyển đổi cán bộ quản lý hồ sơ với nhau nhằm đảm bảo cán bộ

tín dụng có thêm nhiều kinh nghiệm trong việc xử lý hồ sơ và các nghiệp vụ mới

phát sinh, tránh tiêu cực có thể xảy ra dẫn đến việc cán bộ tín dụng cấu kết với

khách hàng để rút tiền của ngân hàng.

Bố trí đúng và đủ số cán bộ tín dụng theo quy định xử lý nghiêm túc đối với

cán bộ có sai phạm. Việc bố trí hợp lý số lượng hồ sơ đối với từng cán bộ tín dụng

sẽ giúp họ sâu sát hơn tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mình đang quản lý,

giải quyết nhanh yêu cầu của khách hàng, không bố trí quá nhiều hồ sơ cho một cán

bộ tín dụng vì như thế sẽ khơng quản lý hết các khách hàng, quá tải công việc dẫn

đến làm mất cơ hội kinh doanh của khách hàng, công việc bị tồn đọng.

Đối với các dự án lớn, khoản vay lớn có tổ thẩm định riêng. Phân định rõ

trách nhiệm của giám đốc, cán bộ thẩm định, cán bộ tín dụng… giúp nâng cao tinh

thần trách nhiệm của từng cấp trong quyết định cho vay hay từ chối cho vay của mình.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×