Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro

Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



Cùng với quyết định 493, ngày 25/4/2007 NHNNVN ban hành nghị định số

18/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân

loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động tín

dụng nhằm giúp ngân hàng quản lý chặt chẽ hơn nữa tình hình chất lượng tín dụng

tại tổ chức mình.

Thực hiện phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín

dụng, đảm bảo tất cả chi nhánh trong hệ thống thực hiện đúng quy trình của Ngân

hàng nhà nước, triển khai việc xếp hạng tín dụng đối với khách hàng vay, nâng cấp,

đảm bảo chính xác và kịp thời hệ thống thông tin báo cáo và quản trị rủi ro.





Để có thể hiểu rõ hơn về tình hình từng nhóm nợ của các nhóm nợ ta có thể



xem bảng dưới đây:

Bảng 8: Dư nợ phân theo nhóm qua các năm

Chỉ tiêu

Nhóm 1



Năm 2008

96%



Năm 2009



Năm 2010



30/06/2011



1,8%



98,42%



96,82%



93,05%



0,34%



1,27%



4,32%



0,22%



0,21%



0,72%



1,01%



0,31%



0,41%



0,00%



1,4%



1,49%



Nhóm 2



0,34%



Nhóm 3



0,35%



Nhóm 4



1,51%



Nhóm 5



Nguồn: Báo cáo trích lập dự phòng rủi ro hàng q.

+ Qua bảng ta có thể dễ dàng nhận thấy tỷ lệ nợ nhóm 1 - nợ đủ tiêu tiêu

chuẩn ln luôn chiếm trên 90% tổng dư nợ qua các thời điểm. Đặc biệt, năm 2009

dư nợ nhóm 1 chiếm tới 98,42%. Thể hiện chất lượng tín dụng của các khoản nợ tại

SGCTNH là tương đối tốt.

+ Trong các khoản nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 thì dư nợ nhóm 2 - nợ cần chú

ý vẫn là chủ yếu, năm 2008 nhóm nợ này chiếm 1,8% tổng dư nợ, năm 2009 là

0,34%, năm 2010 tăng lên 1,27% đặc biệt đến 30/06/2011 thì tăng lên đến 4,32%.

Nguyên nhân là do chỉ cần 1 khách hàng có một khoản nợ bị chuyển nhóm 2 thì

tồn bộ dư nợ của KH đó tại SGCTNH sẽ chuyển hết qua nhóm 2, đối với 1 KH

lớn thì điều này sẽ rất đáng lo ngại vì nó sẽ làm cho tỷ lệ dư nợ nhóm 2 tăng lên



54



đáng kể. Tuy vậy, tổng dư nợ tăng lên thì nợ q hạn tăng là điều khó tránh khỏi,

thêm vào đó các khoản nợ nằm ở nhóm 2 đa số là các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn

nợ gốc hoặc lãi hoặc một số KH quá hạn trên 10 ngày ngay tại thời điểm chốt số

liệu trích lập dự phòng rủi ro hàng q nhưng ngay sau đó các KH này lại có tiền

nộp vào ngay để thanh tốn dứt khoản nợ quá hạn.

+ Nợ từ nhóm 3 đến nhóm 4 chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp so với tổng dư nợ

qua các thời điểm nhưng đây là các khoản nợ thật sự bị quá hạn, khả năng trả nợ

gặp khó khăn, phòng tín dụng đã tích cực đưa ra các giải pháp để thu hồi nợ như:

tiến hành khởi kiện tòa và tiếp tục đeo bám thu nợ; dùng quỹ dự phòng rủi ro để bù

đắp trong một vài trường hợp do tiến trình xử lý tài sản bị kéo dài (do nguyên nhân

từ các cơ quan cơng quyền).

+ Cuối năm 2009 khơng có nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn. Nhưng đến

năm 2010 tỷ lệ nợ nhóm 5 là 1,40%, đến thời điểm cuối 30/06/2011 dư nợ nhóm 5

chiếm 1,49% trên tổng dư nợ cho vay. Đa số đây là các khoản nợ đã quá hạn từ 360

ngày trở lên, việc thu hồi nợ đã trở nên khó khăn và phải mất nhiều thời gian mới

có thể thu hồi lại được vốn vay đối với những khoản có tài sản đảm bảo đầy đủ,

chưa kể đến các khoản vay khơng có tài sản bảo đảm hoặc tài sản hình thành từ vốn

vay (chưa có giấy tờ pháp lý đầy đủ để thế chấp cho ngân hàng).

Diễn biến dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 4 của tồn hệ thống SGCTNH:

Như chúng ta đã biết bất cứ Ngân hàng nào cũng không thể tránh khỏi những rủi

ro trong tín dụng và Saigon bank khơng phải là trường hợp ngoại lệ.

Bảng 9: Dư nợ cho vay từ nhóm 2 đến nhóm 4

Đơn vị: tỷ đồng

tăng/giảm

% tăng/giảm

30/06/2010 30/06/2011

so với

so với

30/06/2010

30/06/2010

334,89

Nhóm 2 (trích 5%)

137,35

472,24

243,82

42,8

Nhóm 3 (trích 20%)

36,44

79,24

117,45

-65,3

Nhóm 4 (trích 50%)

110,45

45,15

-59,12

Nguồn: Báo cáo trích lập dự phòng rủi ro hàng quý.



55



Biểu 6: Dư nợ cho vay từ nhóm 2 đến nhóm 4

Đơn vị: tỷ đồng

472,24



500

400

300

200



137,35

36,44



Nhóm 2 (trích 5%)

Nhóm 3 (trích 20%)

Nhóm 4 (trích 50%)



110,45

79,24



100



45,15



0

30/06/2010



30/06/2011



Nguồn: Báo cáo trích lập dự phòng rủi ro hàng q.





Dư nợ nhóm 2 đến cuối 30/6/2011 tăng 334,89 tỷ đồng, tương đương tăng



243,82% so với thời điểm 30/06/2010, nguyên nhân là do đến thời điểm

30/06/2011 có 1 khách hàng với dư nợ # 230 tỷ đồng bị chuyển sang nhóm 2, do

khơng thanh tốn được nợ lãi hàng tháng. Dư nợ thuộc nhóm 3 cũng tăng 42,8 tỷ

đồng # 117,45% so với 30/06/2010, các khoản nợ này bị chuyển từ nhóm 2 sang,

đa số là đã quá hạn từ từ 91 ngày đến 180 ngày. Dư nợ nhóm 4 giảm 65,3 tỷ đồng #

59,12% đây là các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, nguyên nhân giảm

là do một phần nợ quá hạn nhóm 4 đã thu được hoặc một phần đã bị chuyển sang

nhóm nợ có rủi ro cao hơn – nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn. Như vậy, trong các

khoản nợ từ nhóm 2 đến nhóm 4 thì dư nợ nhóm 2 ln chiếm nhiều nhất trong

tổng dư nợ.



56



Cụ thể, diễn biến dư nợ nhóm 2 từ năm 2008 đến 30/06/2011

Biểu 7: Dư nợ cho vay nhóm 2 qua các thời điểm

Đơn vị: tỷ đồng

472,24



500

400



Năm 2008



300

200

100

0



146



132,83

32,38



Năm 2009

Năm 2010

30/06/2011



Dư nợ nhóm 2



Nguồn: Báo cáo trích lập dự phòng rủi ro hàng q





Dư nợ nhóm 2 (nhóm nợ cần chú ý – trích 5%) tăng dần qua các năm, đặc



biệt đến 30/06/2011 dư nợ nhóm 2 tăng mạnh, tình hình kinh tế khó khăn đã trực

tiếp ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nợ quá

hạn ngày càng phát sinh theo chiều hướng tăng.





Mặc dù con số này tăng khá nhiều nhưng cũng khơng đáng lo ngại vì tổng



dư nợ của tồn hệ thống tăng lên thì dư nợ nhóm 2 tăng cũng là tất nhiên và nhóm

2 chỉ chiếm 4,32% trong tổng dư nợ đến 30/06/2011 của toàn hệ thống. Các khoản

nợ bị xếp vào nhóm 2 đa số là những khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày và các

khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu.

Diễn biến dư nợ nhóm 3 - nhóm 4 từ năm 2008 đến 30/06/2011:

Bảng 10: Dư nợ từ nhóm 3 đến nhóm 4 qua các thời điểm

Chỉ tiêu

Nhóm 3

Nhóm 4

Tổng cộng



Năm 2008

27,5

27,8

55,3



Năm 2009

21,68

97,90

119,58



Đơn vị: tỷ đồng

Năm 2010

30/06/2011

21,59

79,24

32,39

45,15

53,98

124,39



Nguồn: Báo cáo trích lập dự phòng rủi ro hàng quý



57



Biểu 8: Dư nợ từ nhóm 3 đến nhóm 4 qua các thời điểm

Đơn vị: tỷ đồng

97,9



100



79,24



80

45,15



60

40

20

0



27,5



21,68

21,59



Nhóm 3



27,8

32,39



Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

30/06/2011



Nhóm 4



Nguồn: Báo cáo trích lập dự phòng rủi ro hàng q





Dư nợ nhóm 3 và 4 từ 2009 đến 2010 có giảm 65,6 tỷ đồng. Nhưng đến



30/06/2011 con số này đã lên tới 124,39 tỷ đồng (bằng 130,4% năm 2010) và chiếm

1,13% trong tổng dư nợ tồn hệ thống, trong đó tăng chủ yếu ở nợ nhóm 3.





Như vậy, cùng với tốc độ tăng trưởng tín dụng thì SGCTNH cũng gặp phải



những rủi ro như những món nợ quá hạn của nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) với số

ngày quá hạn từ 91 đến 180 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu.

Nhóm 4 được gọi là nhóm nợ nghi ngờ, với những khoản nợ quá hạn từ 181 đến

360 ngày. Đây là những khoản nợ xấu, rất đáng quan tâm vì chỉ cần trên 360 ngày

là sẽ bị chuyển sang nhóm 5, nhóm nợ có khả năng mất vốn và lúc này bắt buộc

SGCTNH phải trích và sử dụng dự phòng cụ thể cho các khoản nợ thuộc nhóm này.



58



Diễn biến dư nợ nhóm 5 từ năm 2008 đến 30/06/2011:

Biểu 9: Dư nợ nhóm 5 qua các thời điểm

Đơn vị: tỷ đồng



200



146,02



150



Năm 2008

Năm 2009



83,7

100

50

0



163,44



0



Năm 2010

30/06/2011



Dư nợ nhóm 5



Nguồn: Báo cáo trích lập dự phòng rủi ro hàng q





Cuối năm 2008, dư nợ nhóm 5 tồn hệ thống là 83,7 tỷ đồng, năm 2009 SGCTNH



khơng có dư nợ nhóm 5, do các khoản nợ khi vào nhóm 5 đã được trích và sử dụng dự

phòng cụ thể. Khi đó các khoản nợ này sẽ được xuất ra khỏi nội bảng và theo dõi ngoại

bảng. Trong tương lai, nếu có thu hồi được các khoản nợ này thì sẽ được hạch toán vào

thu nhập bất thường của ngân hàng. Cuối năm 2010, dư nợ nhóm 5 của tồn hệ thống là

146,02 tỷ đồng, 30/06/2011 là 163,44 tỷ đồng, tăng 17,42 tỷ đồng so với năm 2010 và

chiếm 1,49%/tổng dư nợ tồn hệ thống.

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHỊNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN

DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GỊN CƠNG THƯƠNG

2.3.1 Những kết quả đạt được





Hệ thống Sài Gòn Cơng Thương Ngân hàng nhìn chung đã áp dụng lãi suất cạnh



tranh, ưu đãi để mở rộng thị phần cho vay và hỗ trợ khách hàng, nhất là đối với các

khách hàng truyền thống. Những khách hàng này thường là khách hàng có quan hệ tín

dụng, tiền gửi, thanh toán với SGCTNH trong một thời gian dài với doanh số cho vay,

thu nợ, doanh số xuất nhập khẩu, doanh số thanh toán tương đối lớn tại SCTNH. Nhờ



59



vậy mà DN có thể n tâm sản xuất, thanh tốn đầy đủ nợ gốc lãi, không phát sinh nợ

quá hạn.





SGCTNH luôn sát cánh bên doanh nghiệp ngay cả trong những lúc khó khăn nhất



vì vậy khách hàng ln gắn bó với Ngân hàng. Thực tế cho thấy, mặc dù lãi suất cho vay

của SGCTNH có phần cao hơn so với một số NH TMCP, đặc biệt là các Ngân hàng

trong khối quốc doanh nhưng khách hàng khơng vì thế mà bỏ đi. Bởi SGCTNH đã vực

Doanh nghiệp dậy, giúp họ đứng vững trong lúc tưởng chừng như không thể cứu vãn nỗi

tình thế. Đối với các doanh nghiệp có doanh số xuất khẩu lớn, đặc biệt là các doanh

nghiệp kinh doanh về hàng may mặc, chế biến thủy hải sản luôn được mời chào với mức

lãi suất ưu đãi nhất. Do đó, những doanh nghiệp có quan hệ lâu năm với SGCTNH, đa

số là các khách hàng lớn, có uy tín trong thanh tốn nợ ln gắn bó với ngân hàng. Điều

này tạo nên mối quan hệ tốt, KH có ý thức thanh toán gốc lãi đúng hạn cho NH.





Cán bộ tín dụng rà sốt, sàng lọc và lựa chọn khách hàng có uy tín để bảo đảm chất



lượng hoạt động tín dụng và an tồn hoạt động. Cho đến nay, mặc dù chỉ tiêu dư nợ của

năm 2011 do Hội đồng quản trị SGCT đặt ra cho phòng Tín dụng Hội sở và toàn hệ

thống vẫn chưa đạt được nhưng chủ trương của Ban Tổng Giám đốc là không chú trọng

vào tăng dư nợ, chạy theo chỉ tiêu mà kiểm soát chặt chẽ từng khoản vay, kiểm tra sau

khi giải ngân nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, khơng cho vay theo phong trào như

các ngân hàng khác. Định kỳ 2 - 3 tháng/lần, cán bộ tín dụng trực tiếp xuống cơ sở kinh

doanh của khách hàng để kiểm tra về tình hình hoạt động của đơn vị, số lượng lao động,

thành phần nhân sự chủ chốt sáng lập nên cơng ty có gì thay đổi nhằm kịp thời nắm bắt,

báo cáo lãnh đạo và có hướng xử lý sớm. Giữa kế tốn tín dụng và nhân viên tín dụng có

sự kiểm tra chéo về việc định kỳ kiểm tra sau nên hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng

có khách hàng đến 6 tháng hoặc 1 năm mới đi kiểm tra một lần. Hàng q, Phòng tín

dụng ln có báo cáo về chất lượng tín dụng để trình Ban Tổng Giám đốc và Hội đồng

quản trị. Kiểm soát được tình hình nợ q hạn, có biện pháp xử lý kịp thời khi khoản nợ

mới phát sinh ở nhóm nợ có rủi ro thấp.



60







Dư nợ tín dụng ln tăng đều qua các năm và toàn hệ thống vẫn hạn chế được mức



thấp nhất các khoản nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5, đặc biệt là các khoản nợ xấu (nhóm 3,

nhóm 4, nhóm 5).





Các khoản vay phần lớn có tài sản bảo đảm hợp pháp, thủ tục công chứng đầy đủ



nên góp phần bảo đảm chất lượng hoạt động tín dụng. Mặc dù, tài sản bảo đảm khơng

phải là điều kiện duy nhất để quyết định cho vay, không xem là phương tiện duy nhất để

đảm bảo an toàn vốn vay nhưng là cơ sở để xác lập trách nhiệm của người vay, giảm

thấp rủi ro tín dụng.





Một số khách hàng đề nghị vay vốn tại SGCTNH với tài sản bảo đảm đầy đủ điều



kiện thế chấp. Tuy nhiên, mục đích vay vốn khơng rõ ràng, những mục đích vay như

kinh doanh chứng khoán, bất động sản, đảo nợ đều bị ngân hàng từ chối vì SGCTNH

nhận thấy rằng ngân hàng không phải tiệm cầm đồ, số tiền cho vay ra phải đúng mục

đích, có chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn rõ ràng, minh bạch. Chỉ có như thế

mới hạn chế được những rủi ro tín dụng ở mức thấp nhất và đảm bảo an toàn cho

SGCTNH.





Quy trình tín dụng, quy trình nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, quy trình xử lý nghiệp



vụ thư tín dụng và các quy định về việc: phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi

ro trong hoạt động ngân hàng của SGCT, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, quy chế giảm, miễn

lãi vay đối với khách hàng vay vốn SGCTNH được quy định rõ ràng, chặt chẽ, thường

xuyên cập nhật những thay đổi, đảm bảo tuân thủ hoạt động theo quy định pháp luật

hiện hành. Góp phần phòng ngừa rủi ro tín dụng có thể xảy ra bất kỳ lúc nào.





Về cán bộ tín dụng: Ngân hàng đã chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng để nâng



cao trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ như: tổ chức cho cán bộ điều hành và nhân viên

thừa hành tham dự các khóa học về quản trị Ngân hàng, bồi dưỡng kiến thức pháp luật,

hội nhập kinh tế quốc tế...sau đó báo cáo và truyền đạt lại những gì đã được học cho mọi

người cùng nắm. Một CBTD được trang bị đầy đủ kiến thức sẽ biết nên cho vay hay từ

chối cho vay khoản vay nào để có thể hạn chế được rủi ro tín dụng.





Định kỳ 6 tháng một lần hoặc đột xuất, phòng Kiểm tốn nội bộ sẽ đề nghị kiểm tra



hồ sơ của nhân viên tín dụng một lần để kịp thời phát hiện ra những khâu còn thiếu hay



61



sai sót giúp nhân viên tín dụng kịp thời chỉnh sửa, bổ sung chứng từ còn thiếu, hồn

thiện lại hồ sơ. Phòng Kiểm tốn nội bộ phân chia trách nhiệm cho các nhân viên phụ

trách từng khu vực cụ thể trong toàn hệ thống từ miền Bắc, miền Trung, miền Nam, định

kỳ kiểm tra trực tiếp để chấn chỉnh lại toàn bộ hoạt động của các chi nhánh, đặc biệt là

hoạt động tín dụng.





Riêng tại Phòng Tín dụng Hội sở có phân cơng cho một nhân viên tín dụng chun



về việc tìm hiểu, cập nhật những văn bản pháp luật mới, thu thập những thông tin giá cả

thị trường của các ngành mà SGCTNH đã tham gia tài trợ và sắp tài trợ, mỗi sáng thứ 7

cuối tuần sẽ thông báo đến các anh em trong Phòng. Ngồi ra, có những vấn đề còn

vướng mắc, khó khăn trong nghiệp vụ tín dụng hàng ngày mọi người đều có thể đưa ra

để chia sẽ, trao đổi để mọi người có thể nắm bắt và cùng tháo gỡ trong công việc như

những rắc rối gặp phải trong q trình cơng chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm. Những

thông tin luôn được cập nhật mới sẽ giúp mọi người nắm bắt được những diễn biến của

thị trường đồng thời hiểu rõ hơn những văn bản pháp luật hiện hành nhằm đảm bảo đến

mức tối đa sự an toàn cho SGCTNH.





Bên cạnh phòng Pháp chế là phòng chuyên về soạn thảo các quy trình, hợp đồng tín



dụng, hợp đồng thế chấp hướng dẫn cho toàn hệ thống áp dụng, SGCTNH còn thuê

thêm một luật sư làm việc bán thời gian để tư vấn, góp ý những vấn đề mà ngân hàng

còn vướng mắc như chỉnh sửa nội dung trong biên bản họp Hội đồng thành viên, biên

bản họp Hội đồng quản trị, hợp đồng thế chấp để hoạt động tín dụng của SGCTNH được

an tồn hơn.

2.3.2 Những tồn tại trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng

TMCP Sài Gòn Cơng Thương

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, SGCTNH không tránh khỏi những tồn tại

việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng:





Trong năm 2010, SGCTNH đã thành lập phòng Thẩm định chuyên về vấn đề thẩm



định tài sản, tái thẩm định hồ sơ vượt mức phán quyết của các chi nhánh trong hệ thống

SGCTNH và Phòng Tín dụng Hội sở để trình lên Hội đồng tín dụng. Tuy nhiên, cán bộ

thẩm định đa phần là những nhân viên mới, chưa có kinh nghiệm trong tiếp xúc trực tiếp



62



khách hàng và phân tích hồ sơ nên phần nào còn nhiều lúng túng trong việc thẩm định lại

hồ sơ lớn. Kinh nghiệm chỉ dần tích lũy được khi giải quyết qua nhiều hồ sơ, từ hồ sơ

nhỏ đến hồ sơ lớn, từ dễ đến khó. Điều này khơng những khơng hạn chế được rủi ro có

thể phát sinh mà còn tiềm ẩn những rủi ro trong tương lai.





Công tác kiểm tra sau cho vay còn yếu chính là ngun nhân làm nợ q hạn ngày



một tăng cùng với những diễn biến bất lợi của nền kinh tế nên nợ nhóm 2 - 5 đang có xu

hướng tăng so với đầu năm, trong đó nợ nhóm 3 - 5 tuy dưới mức cho phép theo Nghị

quyết của Đại hội đồng cổ đông (dưới 3%) nhưng đã tăng 43,82% (87,62 tỷ đồng) so với

đầu năm và hiện chiếm 2,63% trên tổng dư nợ. SGCTNH vẫn chưa “hiện đại hóa” cơng

tác kiểm tra, giám sát nội bộ trong việc xây dựng chương trình phần mềm giám sát từ

xa để phát hiện kịp thời dấu hiệu các rủi ro, các sai phạm tại các đơn vị trong toàn hệ

thống. Với một hệ thống rộng lớn, trãi dài từ bắc vào nam thì việc kiểm tra, kiểm sốt

hoạt động tín dụng gặp nhiều khó khăn. Xây dựng một hệ thống họp trực tuyến qua

mạng từ Hội sở để chỉ đạo kịp thời tới các chi nhánh sẽ góp phần giảm thiểu được rủi ro.





Theo quy luật tự nhiên nếu có một ngành phát triển, làm ăn có lời thì sẽ có rất



nhiều người đổ xơ vào ngành đó để kinh doanh. Do thiếu sự dự đoán về xu thế ngành

trong tương lai cũng như sự non kém trong kinh nghiệm nên dẫn đến việc vì có q

nhiều người tập trung vào một ngành để kiếm lời nên dẫn đến sự dư thừa và tất nhiên là

những khách hàng được ngân hàng tài trợ bị thua lỗ, mất khả năng chi trả cho Ngân

hàng, dẫn đến nợ quá hạn rất nhiều.





Về tài sản bảo đảm: Trong một số trường hợp đặc biệt như khách hàng đã quan hệ



tín dụng lâu năm với SGCTNH, cần thanh toán ngay nếu trễ thì hợp đồng sẽ bị hủy, mất

cơ hội làm ăn của khách hàng. Mặc dù khi đó hợp đồng thế chấp chưa được đi công

chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đầy đủ như quy định nhưng SGCTNH vẫn linh

động cho khách hàng nhận tiền trước và công chứng sau. Nếu là khách hàng có uy tín thì

khơng có vấn đề gì xảy ra nhưng nếu trường hợp tài sản thế chấp không đủ điều kiện để

thế chấp, công chứng viên không chịu công chứng hoặc Bên bảo lãnh khơng chấp thuận

bảo lãnh cho bên vay vốn nữa thì khả năng mất vốn của ngân hàng là rất có thể xảy ra.

Đành rằng khi xét duyệt cho vay điều quan tâm nhất chính là số tiền vay, mục đích vay,



63



khả năng trả nợ của khách hàng. Tuy nhiên, dường như đó chỉ mới là điều kiện cần thơi

nhưng chưa đủ. Mặc dù tin tưởng khách hàng nhưng tài sản bảo đảm cũng là một yếu tố

hết sức quan trọng. Khi nhận tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản vay là tài sản mà

chưa có giấy tờ pháp lý rõ ràng, tài sản đang bị tranh chấp, tài sản là máy móc thiết bị,

hàng tồn kho... Đặc biệt, hàng tồn kho mặc dù đã thuê kho thứ 3 quản lý nhưng do bên

thứ 3 cấu kết với khách hàng nên bán hết hàng tồn kho, ngân hàng không quản lý được

đến khi phát sinh nợ quá hạn đem phát mãi để thu hồi nợ thì mới phát hiện hàng tồn kho

khơng còn.





Các báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp không phản ánh được đầy đủ những



số liệu trên thực tế, đôi khi những số liệu này chỉ mang tính đối phó. Do chỉ chú trọng

tính tốn những con số này mà khơng kiểm tra lại tính chính xác của nó nên nhân viên tín

dụng đã đưa ra những quyết định sai lầm.





Khi báo cáo tình hình hoạt động của khách hàng sau khi giải ngân thì số liệu không



được cập nhật liên tục, thường là lạc hậu so với hiện tại. Nếu có thì đó cũng chỉ là báo

cáo nhanh không phản ánh được thực chất vì các doanh nghiệp thường chỉ làm báo cáo

hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán vào dịp cuối năm.





Trong một tập thể lớn vẫn có một số “con sâu làm rầu nồi canh”, chỉ vì vụ lợi cá



nhân mà cấu kết với khách hàng rút tiền của Ngân hàng rồi chia phần trăm với nhau, mặc

dù chưa phát hiện trường hợp nào nhưng một số ít nhân viên khó có thể tránh khỏi cám

dỗ tiền bạc, gây nên sự thất thốt cho Ngân hàng. Đây chính là vấn đề rủi ro về đạo đức

và như thế nếu không diệt trừ tận gốc thì nợ khó đòi, nợ có khả năng mất vốn là điều khó

tránh khỏi.





Một số khoản vay khi bị xếp vào nhóm 5 - nhóm nợ có khả năng mất vốn thì mặc dù



trị giá tài sản đảm bảo theo đánh giá của nhân viên tín dụng có thể còn 30% đến 50%

nhưng do Lãnh đạo ngân hàng khơng muốn để nợ nhóm 5 (vì sẽ làm “xấu” bảng cân đối

và ảnh hưởng đến việc được phép mở chi nhánh mới) nên quyết định cho giá trị tài sản

bảo đảm là 0% để có thể trích và sử dụng toàn bộ số tiền bằng với dư nợ của nhóm 5.

Chính điều này khiến một số nhân viên tín dụng đã có tâm lý ỷ lại vào quỹ dự phòng cụ

thể như một cứu cánh, trốn tránh trách nhiệm trong việc đôn đốc khách hàng trả tiền, và



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×