Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Xuất phát từ phía khách hàng

Xuất phát từ phía khách hàng

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



trả hết nợ cho ngân hàng, nếu NH không cho vay nữa họ sẽ khơng có vốn để tiếp

tục làm ăn nên mặc dù có tiền nhưng họ nhất định khơng trả, cố tình để cho

khoản nợ bị q hạn ln. Trong trường hợp này ý chí trả nợ của khách hàng là

rất kém, khơng có thiện chí trả nợ cho Ngân hàng.

Ngoài ra, một thực tế hiện nay đã cho thấy phần lớn các doanh nghiệp khi

vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, chủ yếu tập trung vốn đầu tư

vào tài sản vật chất chứ ít có doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản

lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế tốn theo đúng chuẩn mực.

Một quy mơ kinh doanh phình ra q to so với tư duy quản lý thì những rủi ro dẫn

đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi là rất lớn, mà lẽ ra nó

phải thành cơng trên thực tế.

Bên cạnh đó, sự minh bạch về sổ sách kế tốn của doanh nghiệp vẫn còn là

một khó khăn rất lớn đối với cán bộ ngân hàng trong công tác thẩm định năng lực

tài chính của khách hàng vay vốn. Độ tin cậy về năng lực tài chính, tính đúng đắn

của các báo cáo tài chính cũng như “lý lịch” về quan hệ tín dụng của DN mới chính

là “thước đo” mang tính thủ tục, khơng thể thiếu khi tiếp cận vốn của các DN. Tuy

nhiên, các báo cáo tài chính của doanh nghiệp đơi khi chỉ thể hiện tính hình thức

hơn là thực chất. Đây cũng là ngun nhân vì sao ngân hàng vẫn ln chú trọng

phần tài sản bảo đảm như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.

1.1.3.3 Ngun nhân khác

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng như tính khơng ổn định

ngày càng tăng của thị trường tài chính, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các

ngân hàng, sự can thiệp của chính quyền địa phương... nhưng thêm vào đó một vài

ngun nhân khác cũng khơng kém phần quan trọng đó là:

 Nguyên nhân từ quan hệ sở hữu nhà nước:

Cho đến nay, NHTM nhà nước vẫn là người cho vay doanh nghiệp nhà nước

(DNNN) lớn nhất. Có nhiều lý do: Mối quan hệ truyền thống, cùng hình thức sở

hữu, nhu cầu vay lớn và khả năng cho vay lớn (NHTM cổ phần khó đáp ứng), nếu

có chuyện gì thì cùng Nhà nước xử lý.



14



NHTMNN VN do Nhà nước sở hữu duy nhất. Nhà nước với chức năng quản lý

toàn bộ hoạt động kinh doanh tiền tệ - tín dụng của NHTM.

Việc cho vay của NHTMNN là cho vay theo “chỉ thị”. Chính vì vậy mà có nơi

chính quyền nhận thức vai trò của NH trong phát triển kinh tế địa phương, như tạo

công ăn việc làm, nâng cao thu nhập. Do đó, họ cùng NH tháo gỡ khó khăn, thúc

đẩy người vay trả nợ NH. Nhưng một số cấp chính quyền lại coi NH như kênh tài

trợ quan trọng khi kênh ngân sách có khó khăn. Họ gây áp lực cho NH bỏ qua kỷ

luật tín dụng để tài trợ cho những dự án tài chính yếu kém song kỳ vọng lại lớn.

Một số cán bộ NH lợi dụng để chia chác kiếm lợi, làm hại NH. Quan hệ tiêu cực

này dựa trên nhận thức coi NH “là người dưới quyền”, tiền kiểu gì cũng là của Nhà nước...

 Thêm một nguyên nhân nữa là: theo các cam kết của Việt Nam khi gia nhập

WTO, khu vực dịch vụ tài chính - ngân hàng là khu vực được mở cửa rất đáng kể

cho các đối tác nước ngoài vào đầu tư kinh doanh. Ngân hàng nước ngoài được huy

động Việt Nam đồng với mức độ lớn hơn và đặc biệt là các ngân hàng này sẽ có

nhiều cơ hội tiếp cận các doanh nghiệp trong nước để cho vay. Với chiến lược kinh

doanh chắc chắn, rất có thể các ngân hàng nước ngồi chỉ chọn khách hàng tốt để

cho vay và qua đó “đẩy” khách hàng rủi ro tới các ngân hàng trong nước.

Tình trạng này thường phổ biến ở các nước kém phát triển khi đó ngân hàng

nước ngồi chỉ chọn những khách hàng làm ăn có lãi, rủi ro thấp nhất và đẩy các

doanh nghiệp còn lại (rủi ro cao hơn) cho ngân hàng trong nước. Lựa chọn khách

hàng tốt là phản ứng thường thấy của các ngân hàng nước ngoài khi mới thâm nhập

vào nền kinh tế mà thị trường tài chính còn kém phát triển, môi trường kinh doanh

thiếu minh bạch, hệ thống thơng tin khơng đầy đủ. Để khuyến khích các ngân hàng

nước ngoài cho vay những doanh nghiệp nhỏ, những khu vực có mức rủi ro cao thì

nhà nước cần có giải pháp cải thiện về mơi trường kinh doanh theo hướng minh

bạch, ổn định, bản thân các doanh nghiệp có mức tín nhiệm thấp, khó tiếp cận vốn

ngân hàng cũng cần có chính sách cải thiện uy tín của chính mình, các ngân hàng

trong nước cũng cần cải thiện năng lực thẩm định cho vay và cố gắng phát huy

những lợi thế của mình đối với các doanh nghiệp trong nước.



15



1.2 PHỊNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI

1.2.1 Khái niệm về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng

Trên quan điểm quản lý, rủi ro tín dụng là khơng thể tránh khỏi, có thể đề

phòng, hạn chế, chứ khơng thể loại trừ. Do vậy, ngày nay việc tìm ra các giải pháp

nhằm hạn chế rủi ro tín dụng ln trở thành vấn đề mang tính sống còn, là mối

quan tâm hàng đầu của bất kỳ ngân hàng nào.

Vậy thế nào là phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng?

Trước khi đi tìm hiểu phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là gì chúng ta

cần nhắc lại khái niệm rủi ro là gì và rủi ro tín dụng là gì?

Trước hết, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy

hiểm. Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến. Đó là sự

tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Rủi

ro còn được hiểu là những bất trắc ngồi ý muốn xảy ra trong q trình kinh doanh,

sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh

nghiệp. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp

phòng ngừa, hạn chế những rủi ro một cách hiệu quả nhất.

Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận

khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân

hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng khơng trả, khơng trả

đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi ngân hàng.

Hiện các NHTM đang gặp phải rất nhiều rủi ro trong hoạt động cho vay mà

biểu hiện rõ rệt nhất là tình trạng nợ quá hạn có xu hướng gia tăng. Những khoản

rủi ro này đang đe dọa tới sự phát triển bền vững của các Ngân hàng cũng như sự

phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Vậy phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, theo tác giả chính là việc nghiên

cứu và đề ra các giải pháp nhằm ngăn chặn đến mức tối đa việc phát sinh những rủi

ro có thể xảy ra như việc khách hàng nhận vốn vay mà không thực hiện hoặc thực

hiện nhưng không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng,



16



khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi ngân hàng.

Làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của một ngân hàng thể hiện qua một số chỉ

tiêu như tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ nợ đã xóa, đã xử lý trên tổng dư nợ, chi

phí dự phòng tín dụng hay số dư dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ…

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu vốn cho nền kinh tế ngày

càng tăng, dẫn đến mức độ tăng trưởng tín dụng cũng tăng lên tương ứng. Sự tăng

trưởng tín dụng của các NHTM phù hợp với sự tăng trưởng của nền kinh tế cả

nước nói chung và của kinh tế thành phố nói riêng. Tuy nhiên sự tăng trưởng tín

dụng cũng kéo theo sự gia tăng rủi ro tín dụng, điều này làm ảnh hưởng rất nhiều

đến hiệu quả sử dụng vốn và làm hạn chế việc mở rộng tín dụng của các NHTM.

Do đó việc phát triển tín dụng phải đi đơi với chất lượng tín dụng.

Vì vậy các giải pháp tốt trong quản lý rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm

hàng đầu của các ngân hàng nhằm tạo ra sự tăng trưởng tín dụng một cách ổn định,

bền vững.

1.2.2 Xây dựng chương trình quản trị rủi ro nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro

tại ngân hàng thương mại

Hoạt động kinh doanh của các NHTM rủi ro là như thế và ta nhận thấy

một điều rằng ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh

chịu là hợp lý và kiểm sốt được chứ khơng thể chối bỏ rủi ro. Như vậy, quản trị

rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh

của NHTM. Những nhà quản trị NHTM cần được trang bị các kiến thức về quản

trị rủi ro, cung cấp những thông tin kinh tế cập nhật, có đội ngũ tham mưu

chuyên nghiệp và bộ máy kiểm tra, kiểm soát và kiểm tốn nội bộ hiệu quả là

điều cần thiết để phòng ngừa, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Chính vì vậy mà đã có nhiều ý kiến khẳng định: “quản trị rủi ro là nghiệp vụ

chủ đạo và là thước đo năng lực “sống” hay là “chết” của một NHTM.

Một chương trình quản trị rủi ro tồn diện bao gồm 4 yếu tố: Xác định hạn mức

rủi ro (đưa ra mức rủi ro chấp nhận được), đánh giá rủi ro, theo dõi tổng thể rủi ro

và quá trình quản trị rủi ro.



17



Xác định hạn mức rủi ro

Các bộ phận nghiệp vụ quản trị rủi ro phải xác định hạn mức rủi ro cho bộ phận

mình, là mức rủi ro nhất định mà TCTD có thể chấp nhận được trong nỗ lực để có

được lợi nhuận, trên cơ sở sự sẵn sàng chịu đựng rủi ro và sức mạnh tài chính của

TCTD. Hội đồng quản trị (HĐQT) theo định kỳ có trách nhiệm xem xét lại và

thơng qua hạn mức đó. Các mức này sau đó được thơng báo tới toàn bộ nhân viên

các bộ phận nghiệp vụ và ban điều hành, ban điều hành chịu trách nhiệm đảm bảo

các bộ phận nghiệp vụ tuân thủ các hạn mức này. Có tỷ lệ thưởng phạt trên tổng số

thấp hơn và lớn hơn tổng số vượt hạn mức đó.

Đánh giá rủi ro

Việc đánh giá rủi ro đòi hỏi phải xác định được những rủi ro lớn liên quan đến

các sản phẩm, dịch vụ hay hoạt động của TCTD, phải có các chốt kiểm tra nằm

trong các quy trình nghiệp vụ (hệ thống kiểm soát nội bộ - KSNB) để kiềm chế rủi

ro trong các hạn mức đã được đề ra cùng với các biện pháp để theo dõi các trường

hợp ngoại lệ vượt hạn mức rủi ro.

Quy trình đánh giá rủi ro tín dụng có 4 yếu tố: nhận biết rủi ro, đo lường rủi ro,

theo dõi rủi ro và kiểm soát rủi ro.

Nhận biết rủi ro: Bước đầu tiên để có một chương trình quản trị rủi ro hiệu quả là

phải nhận biết và xác định được các loại rủi ro mà TCTD có thể gặp phải thơng qua

phân tích đặc thù của các sản phẩm, dịch vụ và các quy trình hoạt động.

Dấu hiệu liên quan đến ngân hàng:

 Giảm sút mạnh số dư tiền gửi.

 Công nợ gia tăng.

 Mức độ vay thường xuyên.

 Yêu cầu khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến.

 Chấp nhận sử dụng nguồn tài trợ lãi suất cao.

 Chậm thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàng.

Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý với KH:

 Xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống điều hành.

 Ít kinh nghiệm, xuất hiện nhiều hành động nhất thời.



18



 Thuyên chuyển nhân viên quá thường xuyên.

 Tranh chấp trong quá trình quản lý.

 Chi phí quản lý bất hợp pháp.

 Quản lý có tính gia đình.

Dấu hiệu vấn đề kỹ thuật và thương mại:

 Khó khăn trong phát triển sản phẩm mới, hoặc khơng có sản phẩm thay thế.

 Những thay đổi chính sách của nhà nước.

 Sản phẩm có tính thời vụ cao.

 Có biểu hiện cắt giảm chi phí.

 Thay đổi trên thị trường về lãi suất, tỷ giá, mất KH lớn, vấn đề thị hiếu.

Dấu hiệu về xử lý thơng tin tài chính:

 Sự gia tăng tỷ lệ khơng cân đối nợ.

 Chuẩn bị số liệu tài chính khơng đủ, trì hỗn nộp báo cáo.

 Khả năng tiền mặt giảm.

 Phải thu tăng nhanh và thời hạn thanh toán nợ kéo dài.

 Kết quả kinh doanh lỗ.

 Cố tình làm đẹp Bảng cân đối tài sản bằng tài sản vơ hình.

Dấu hiệu phi tài chính khác:

 Có sự xuống cấp của cơ sở kinh doanh.

 Hàng tồn kho tăng do khơng bán được, hư hỏng, lạc hậu.

 Có sự kỷ luật với cán bộ chủ chốt.

Đo lường rủi ro: là điều mà tất cả những nhà quản lý ngân hàng rất quan tâm, vì

nếu đo lường được thì việc phòng ngừa trở nên dễ dàng hơn. Đo lường rủi ro trong

hoạt động ngân hàng được thể hiện trên 2 phương diện:

Một là, đo lường hay xác định số thiệt hại do rủi ro gây ra, phản ánh hậu quả rủi

ro được xác định khi rủi ro đã xảy ra. Số này có thể là số tuyệt đối, hoặc số tương

đối theo các tiêu thức khác nhau như giá trị thiệt hại, số lần bị rủi ro, tỷ lệ tài sản bị

rủi ro…



19



Hai là, đo lường khả năng bị rủi ro (xác suất bị rủi ro) dựa vào công thức tính

xác suất của một biến cố ngẫu nhiên theo quan điểm thống kê, xác định xác suất rủi

ro tín dụng ngân hàng như sau:

Số món cho vay bị rủi ro



Xác

suất



=



rủi ro



trong kỳ báo cáo

Tổng số lần cho vay



x100%



trong kỳ báo cáo



hoặc

Tổng gi trị tài sản bị



Xác

suất

rủi ro



=



rủi ro



x100%



Tổng giá trị các món

cho vay trong kỳ



Đồng thời, theo Basel còn có thể tính xác suất rủi ro dự kiến, hay tổn thất dự

kiến EL (Expected Loss) theo khả năng vỡ nợ PD (Probability of Default) với mức

độ tổn thất khi vỡ nợ LGD (Loss Given Default) theo công thức sau:

EL = Giá trị các khoản vay x PD x LGD

Theo dõi rủi ro: Là việc thực hiện đầy đủ các hệ thống, các thủ tục kiểm sốt, nhờ

đó ban điều hành có thể theo dõi được mức rủi ro của từng lĩnh vực kinh doanh.

Kiểm soát rủi ro: Rủi ro được kiểm soát bằng việc thực hiện các thủ tục nằm trong

hệ thống KSNB trong các quy trình kinh doanh và hoạt động nhằm giảm thiểu rủi

ro. Chi phí cho các thủ tục kiểm sốt cao có thể giảm thiểu rủi ro tối đa nhưng hiệu

quả lại thấp, ngược lại chi phí cho các thủ tục kiểm sốt thấp có thể đem lại lợi

nhuận cao nhưng rủi ro cũng có thể cao. Ban điều hành phải tìm sự cân bằng tối ưu

giữa chi phí cho thủ tục kiểm sốt và lợi ích đem lại từ các thủ tục đó, từ đó lựa

chọn các thủ tục kiểm soát rủi ro phù hợp.



20



1.2.3 Đánh giá việc tuân thủ các nguyên tắc giám sát ngân hàng theo tiêu

chuẩn Basel 2 của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong 25 nguyên tắc giám sát ngân hàng theo Basel 2 tác giả chỉ đề cập ở đây

những nguyên tắc trọng yếu nhất liên quan đến hoạt động tín dụng tại các ngân

hàng thương mại. Mức độ đánh giá là tuân thủ, tuân thủ một phần hoặc chưa tuân thủ.

Nguyên tắc: An toàn vốn tối thiểu: tuân thủ một phần

Về phía các NHTM, việc cơng bố tỷ lệ an tồn vốn khơng bắt buộc, do vậy,

khơng có đầy đủ dữ liệu về tỷ lệ này. Trong số 24 báo cáo của các ngân hàng, chỉ

có Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT) là

chưa đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn theo Quyết định 457. Năm ngân hàng đã đảm bảo

tỷ lệ an toàn vốn theo Quyết định 457 cần phải điều chỉnh để đảm bảo tỷ lệ này

theo Thông tư 13/TT-NHNN là NH TMCP Công thương Việt Nam (8,06%), NH

TMCP Ngoại thương Việt Nam (8,11%), NH TMCP Quốc tế (8,67%), NH TMCP

Nam Việt (8,87%) và NH TMCP Hàng hải (8,93).

Một số vấn đề cần lưu ý là, tỷ lệ an toàn vốn hiện thời vẫn chưa được tính theo tiêu

chuẩn quốc tế, mà chỉ dừng lại theo tiêu chuẩn kế toán Việt Nam, chỉ một vài ngân

hàng, ví dụ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

NHNN cần tiếp tục nâng dần yêu cầu về tỷ lệ đủ vốn để đảm bảo an toàn

hoạt động khi ngày càng nhiều ngân hàng hoạt động theo hướng công ty mẹ, con và

nền kinh tế, thị trường tài chính Việt Nam ngày càng mở, hoạt động ngân hàng

ngày càng trở nên rủi ro hơn và so với các nước trên thế giới, tỷ lệ này đã đạt được

mức phổ biến 12%.

Nguyên tắc: Rủi ro tín dụng: tuân thủ một phần

Để đảm bảo nguyên tắc này, NHNN đã ban hành Quyết định số

493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và bổ sung bằng Quyết định 18/2007/QĐNHNN ngày 25/04/2007 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý

rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD.

Quyết định này đã ban hành 5 năm nhưng tới thời điểm này, chỉ mới có 3

ngân hàng đã trình và được NHNN chấp thuận cho áp dụng phân loại nợ định tính

theo quy định tại Điều 7, Quyết định 493 là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt



21



Nam, NHNo&PTNT Việt Nam, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam [13].

Hai nguyên nhân chính khiến các ngân hàng ngại thực hiện phân loại này là: (i)

tăng tỷ lệ nợ xấu: nợ xấu của NHTMCP Ngoại thương sẽ tăng từ 2,47% trong năm

2009 lên 3,5% vào năm 2010 nếu áp dụng phân loại định tính từ tháng 4/2010 hoặc

tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam sẽ là 3,9% thay vì

1,56% theo cách tính định lượng; (ii) phải xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội

bộ để hỗ trợ việc phân loại nợ và quản lý chất lượng tín dụng.

Như vậy, việc phân loại nợ chưa theo chuẩn kế toán quốc tế chưa cho các cơ

quan giám sát thấy hết thực chất của vấn đề rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng cũng

như mức độ cải thiện để có hướng quản trị cho phù hợp.

Nguyên tắc: Tài sản có rủi ro, dự phòng và dự trữ: tuân thủ một phần

Ngân hàng đã có Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng

để xử lý rủi ro trong Quyết định 493.

Trên báo cáo kết quả kinh doanh đều cho thấy các khoản mục dự phòng, tuy

nhiên, chỉ có các dự phòng chính. Việc các ngân hàng thực hiện đánh giá rủi ro và

xác định đầy đủ mức dự phòng như u cầu cần phải có thêm thời gian để các ngân

hàng nhận thức tầm quan trọng của quản trị rủi ro, bổ sung nhân sự, công nghệ cho

công tác này.

Nguyên tắc: Giới hạn mức cho vay: tuân thủ một phần

Điều 8, Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về giới hạn cho vay, trong

đó có một số nội dung đáng lưu ý như: TCTD khơng được cấp tín dụng cho công ty

trực thuộc là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khốn; TCTD khơng được

cho vay khơng có bảo đảm để đầu tư, kinh doanh chứng khoán; tổng dư nợ cho vay

và chiết khấu giấy tờ có giá đối với tất cả khách hàng nhằm đầu tư, kinh doanh

chứng khốn khơng vượt q 20% vốn điều lệ của TCTD. Các Quyết định

1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001, Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN ngày

03/2/2005 về quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, Quyết định

783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 cũng đã quy định đầy đủ những giới hạn vay.

Thực tế triển khai các văn bản trên còn khơng ít lỗ hổng, ảnh hưởng trực

tiếp đến rủi ro tín dụng của hệ thống NHTM: Chính sách cho vay hiện nay chưa



22



hoàn toàn theo nguyên tắc thị trường biểu hiện qua việc các NHTM, đặc biệt là

NHTM có cổ phần chi phối của Nhà nước thường hướng theo các chính sách cho

vay như đánh bắt xa bờ, mía đường, cà phê Arabica... mà số liệu thống kê lại cho

thấy các chính sách này khơng hiệu quả, dẫn đến rủi ro cao cho ngân hàng. Ngoài

ra, các ngân hàng còn được NHNN cho phép cho vay vượt quá 15% vốn tự có như

NHTMCP Đơng Nam Á cho vay đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn chế biến và

kinh doanh sản phẩm khí năm 2009; Ngân hàng liên doanh Việt Nga cho vay đối

với Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam; NHTMCP Ngoại thương Việt Nam cho vay

đối với Tổng công ty Lương thực miền Nam; NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam và

NHTMCP Ngoại thương Việt Nam cho vay đối với Tổng công ty Điện lực Việt Nam...

Trong tương lai, thay vì xét duyệt cho vay theo dự án với mức vốn vượt quá

15% vốn tự có của ngân hàng, NHNN nên khuyến khích các NHTM thực hiện

nghiệp vụ cho vay hợp vốn.

Nguyên tắc: Rủi ro đối với nhóm khách hàng có liên quan: tuân thủ một phần

Điều 7, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 đã quy định về xác

định nhóm khách hàng có liên quan và việc xác định nhóm khách hàng liên quan sẽ

do các ngân hàng tự xác định và báo cáo cho NHNN.

Trên thực tế, phần lớn các ngân hàng tuân thủ nguyên tắc này, tuy nhiên,

vẫn còn một số ngân hàng đã vì lợi nhuận mà bỏ qua các nguyên tắc quản trị rủi ro,

dẫn đến việc cho vay các nhóm khách hàng có liên quan vượt hạn mức quy định.

Ngồi ra, các ngân hàng cũng có xu hướng cho các thành viên của cùng tập đoàn

nhà nước vay với dư nợ lớn hoặc cho vay cùng nhóm khách hàng kinh doanh bất

động sản, kinh doanh chứng khoán với mức dư nợ cao.

1.2.4 Basel 3 và lộ trình áp dụng

Basel 3 với những quy định mới về khái niệm và các tiêu chuẩn tối thiểu

cao hơn cùng với phương pháp giám sát an tồn vĩ mơ là sự thay đổi lịch sử

trong quy định về hoạt động ngân hàng. Ủy ban Basel cùng các nhà lãnh đạo của

các nước G20 đã thống nhất rằng cuộc cải tổ này sẽ được triển khai sao cho

không ảnh hưởng tới tốc độ phục hồi kinh tế của các nước. Ngồi ra, sẽ cần có

thời gian để đưa những tiêu chuẩn quốc tế mới vào những quy định riêng của



23



các quốc gia. Theo tinh thần như vậy, Ủy Ban Giám sát ngân hàng Basel (BIS) đã

đưa ra một lộ trình để thực hiện bất đầu từ tháng 1/2013 và hồn thành vào cuối năm 2018.

Lộ trình cụ thể:

 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% vẫn được giữ nguyên.

 Tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 tối thiểu được bắt đầu áp dụng vào 1/1/2013 với

mức 4,5%, và phải đạt được mức 6% trước 1/1/2019.

 Tỷ lệ an toàn vốn cổ phần thường tối thiểu cũng được bắt đầu áp dụng từ

1/1/2013 với mức 3,5%, và phải đạt được mức 4,5% trước 1/1/2019.

 Tỷ lệ dự phòng bảo tồn vốn được bắt đầu tính từ 01/01/2016 với mức

0,625%, và hoàn thành mức 2,5% trước 1/1/2019.

 Lộ trình loại bỏ các khoản giảm trừ khỏi vốn cấp 1 được áp dụng từ

1/1/2014 với mức 20%, và đến trước 1/1/2019 sẽ loại bỏ được 100%.

 Tỷ lệ đòn bẩy được thử nghiệm áp dụng trong khoảng thời gian từ 1/1/2013

đến 31/12/2016 với tỷ lệ 3%.

1.2.5 Những điểm mới của Basel 3 so với Basel 1 và Basel 2

Theo bài phát biểu của Ông Stefan Walter, Tổng thư ký Ủy ban Basel trong

hội thảo lần thứ năm về Giám sát và quản lý rủi ro tại Basel, Basel 3 có những

điểm mới cơ bản của Basel 3 so với Basel 1 và Basel 2:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng vốn. Trước hết, Basel 3 sẽ giúp nâng cao chất

lượng vốn của các ngân hàng một cách đáng kể. Đây là đặc điểm chính của Basel

3. Theo BIS, nội dung của định nghĩa về vốn rất quan trọng và cần phải được

định nghĩa đầy đủ trước khi xác định mức vốn phù hợp. Chất lượng vốn tốt hơn

đồng nghĩa với việc khả năng bù đắp các khoản lỗ tốt hơn, điều này giúp cho

ngân hàng “khỏe” hơn, do đó có khả năng chống đỡ tốt hơn trong thời kỳ khó khăn.

Theo quy định này, vốn cổ phần thơng thường được quy định chặt chẽ hơn.

Theo quy định hiện tại, những tài sản có chất lượng kém sẽ phải khấu trừ vào vốn

(vốn cấp 1 + vốn cấp 2). Theo Basel 3, việc khấu trừ sẽ nghiêm ngặt hơn, khấu

trừ thẳng vào vốn cổ phần thông thường. Hơn nữa, định nghĩa vốn cấp 1 cũng

quy định chặt chẽ hơn bao gồm vốn thường và các cơng cụ tài chính có chất

lượng theo những tiêu chuẩn chặt chẽ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Xuất phát từ phía khách hàng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×