Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
MỤC TIÊU LỰA CHỌN CƠ CẤU VỐN

MỤC TIÊU LỰA CHỌN CƠ CẤU VỐN

Tải bản đầy đủ - 0trang

60

Cơ cấu vốn phải phù hợp với cơ cấu tài sản đầu tư được thể hiện qua nguyên tắc

cân bằng tài chính - thời gian luân chuyển giá trị của tài sản phải phù hợp với thời

hạn hoàn trả của các nguồn tài trợ, cụ thể là:

- Tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên cần được tài trợ bằng nguồn

vốn ổn định, bao gồm vay dài hạn, thuê tài chính, phát hành trái phiếu và vốn chủ

sở hữu.

- Tài sản lưu động thời vụ được tài trợ bằng các nguồn vốn ngắn hạn như các

khoản nợ chiếm dụng, nợ tích lũy và vay ngắn hạn. Tại một thời điểm bất kỳ,

trong cơ cấu tài chính, doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài

sản cố định hoặc tài sản lưu động thường xuyên thì rủi ro về khả năng thanh tốn

sẽ cao, tính ổn định của cơ cấu tài chính kém. Nếu sau khi chi trả các khoản nợ

ngắn hạn, doanh nghiệp không được tái tài trợ thì hoạt động kinh doanh sẽ gặp

khó khăn, thậm chí mất khả năng thanh tốn.

Thứ ba, nguyên tắc cân đối giữa lợi nhuận và rủi ro.

Nguyên tắc này đòi hỏi người ra quyết định huy động vốn phải cân nhắc đến mối

quan hệ giữa đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính, mức độ tác động của nợ đến

suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE).

Đòn bẩy hoạt động (OL) thể hiện mức độ sử dụng chi phí hoạt động cố định của

doanh nghiệp. Những doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy hoạt động cao sẽ có khả

năng gia tăng lợi nhuận rất nhanh khi doanh thu tăng, nhưng lợi nhuận cũng sẽ sụt

giảm nhanh hơn khi doanh thu giảm. Đòn bẩy hoạt động do đặc điểm ngành nghề

quyết định, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng, bất động sản và

luyện thép có đòn bẩy hoạt động cao trong khi doanh nghiệp hoạt động trong

ngành dịch vụ như tư vấn và du lịch có đòn bẩy hoạt động thấp. Ngồi những ràng

buộc do đặc điểm kinh doanh của từng ngành ảnh hưởng đến đòn bẩy hoạt động,

các điều kiện khác có thể ảnh hưởng đến đòn bẩy hoạt động đó là vấn đề lựa chọn

cơng nghệ và hình thức sở hữu tài sản. Một doanh nghiệp có đòn bẩy hoạt động

cao thì rủi ro trong hoạt động kinh doanh càng cao, đó là rủi ro phát sinh đối với

tài sản ngay cả khi doanh nghiệp không sử dụng nợ và độ bẩy hoạt động (DOL) sẽ



61

càng cao khi sản lượng hoặc doanh thu càng thấp. Như vậy, để đảm bảo sự cân

bằng giữa lợi nhuận và rủi ro thì những doanh nghiệp hoạt động trong ngành có

rủi ro cao thơng thường chỉ cho phép các chủ sở hữu lựa chọn đòn bẩy tài chính

thấp, tức hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu nhỏ và ngược lại, những ngành có rủi ro

kinh doanh thấp có thể sử dụng đòn bẩy tài chính cao hơn.

Vấn đề tiếp theo trong nguyên tắc thứ ba này cần phải xem xét đến là việc sử dụng

nợ có tác động tích cực đến ROE hay khơng? ROE cho biết một đồng vốn chủ sở

hữu đem lại cho bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh

nghiệp. Chủ sở hữu là người được phân phối lợi nhuận cuối cùng, sau chủ nợ và

Chính phủ, phần lợi nhuận mà chủ sở hữu nhận được có thể bao gồm: lợi nhuận

tạo ra từ chính vốn chủ sở hữu và phần lợi nhuận tạo ra từ sử dụng nợ khi chi phí

sử dụng nợ bình qn sau thuế thấp hơn suất sinh lời trên tài sản. Điều này được

thể hiện bằng công thức sau:

Vốn chủ sở hữu ROE ROA (ROA - R Nợ = + D).

trong đó: ROE là suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

ROA là suất sinh lời trên tài sản

RD là chi phí sử dụng nợ bình qn sau thuế

Khi doanh nghiệp khơng có nợ, ROE = ROA

Khi doanh nghiệp có nợ, nếu RD = ROA thì đòn bẩy tài chính khơng có tác dụng,

nhưng nếu có sự khác biệt giữa RD và ROA thì ROE có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn

ROA. Sự khác biệt giữa ROA và ROE chính là tác động của đòn bẩy tài chính.

Thứ tư, gia tăng khoản tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thông qua so sánh ROA và RD cho thấy việc sử dụng nợ có thể làm tăng hoặc

giảm ROE, từ đó sẽ ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Ngồi khả năng gia tăng

lợi ích do tác động của nợ, có thêm một khoản lợi ích khác khi sử dụng nợ cũng

góp phần làm gia tăng giá trị doanh nghiệp, đó là khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay

hay còn được gọi là lá chắn thuế từ lãi vay.



62

Thuế thu nhập doanh nghiệp xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế và thuế suất,

trong đó thu nhập chịu thuế bằng doanh thu trừ tất cả các khoản chi phí hợp lý

phục vụ cho hoạt động kinh doanh (kể cả chi phí lãi vay và khấu hao). Thuế thu

nhập doanh nghiệp là một khoản chi phí nên doanh nghiệp có xu hướng tìm kiếm

mọi cách để thiết lập những lá chắn thuế, ví dụ như trích khấu hao nhanh tài sản

cố định hoặc có thể gia tăng sử dụng nợ vay thay cho vốn chủ sở hữu, từ đó tối

thiểu hóa chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp và khoản tiết kiệm thuế này sẽ góp

phần làm gia tăng giá trị doanh nghiệp.

Thứ năm, kiểm sốt và hạn chế chi phí kiệt q̣ tài chính.

Kiệt quệ tài chính (financial distress) xảy ra khi doanh nghiệp không đủ khả năng

để thực hiện những lời hứa với chủ nợ hoặc có thể thực hiện nhưng rất khó khăn.

Tình trạng này có thể chỉ là tạm thời, gây ra một số rắc rối cho hoạt động kinh

doanh, các dự án khả thi bị trì hỗn hoặc hủy bỏ, năng suất lao động giảm, chủ nợ

không tiếp tục cho vay, nhà cung cấp thắt chặt chính sách bán chịu,…; nhưng

cũng có khi tình trạng kiệt quệ tài chính sẽ dẫn đến phá sản và doanh nghiệp phải

chi những khoản tiền lớn cho luật sư, tòa án, kiểm tốn viên, các nhà quản lý.

Thứ sáu, kiểm soát vấn đề người đại diện (agency problem)

Từ nguyên tắc thứ tư và nguyên tắc thứ năm, có thể kết luận: “vay nợ tạo ra lợi

ích từ tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng cũng gia tăng rủi ro kiệt quệ tài

chính nên doanh nghiệp cần thiết lập một cơ cấu vốn hợp lý dựa trên khả năng

quản trị của người điều hành, khả năng kiểm sốt những tổn thất có thể phát sinh

liên quan đến mối quan hệ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu, đó chính là vấn đề

người đại diện”.

Vấn đề người đại diện liên quan đến cơ cấu vốn được Jensen và Meckling nghiên

cứu với giả định quyết định đầu tư độc lập với cơ cấu vốn (1976), đề cập đến vấn

đề cổ đông của một doanh nghiệp vay nợ có thể chiếm hữu giá trị tài sản từ các

chủ nợ bằng việc gia tăng rủi ro đầu tư sau khi nhận các khoản vay và hành vi này

đã tạo ra các chi phí đại diện (agency costs). Ngồi ra, Myers (1977) còn gọi ý xa

hơn rằng sự hiện diện của nợ có thể khiến những dự án có giá trị hiện tại ròng



63

(NPV) dương bị từ chối; do khi chấp nhận dự án này thì rủi ro tài chính sẽ tăng

(rủi ro phá sản) và giá trị sẽ chuyển từ cổ đông sang trái chủ. Các cổ đơng là

người duy nhất nhận được cổ tức, vì vậy họ luôn muốn nhận được cổ tức càng cao

càng tốt, đặc biệt khi công ty đang đối mặt với rủi ro vỡ nợ thì ít ra các cổ đơng

cũng nhận được một phần lợi nhuận từ khoản đầu tư của họ vào doanh nghiệp

trước khi tuyên bố phá sản.

Chi phí đại diện khơng chỉ xuất hiện đối với nợ mà vốn cổ phần cũng có thể phát

sinh chi phí đại diện khi doanh nghiệp có dòng tiền vượt q mức cần thiết để

thực hiện tất cả các dự án có NPV dương và ơng Jensen gọi dòng tiền dơi ra này là

dòng tiền tự do. Điều này được thể hiện rất rõ nét ở công ty cổ phần, các cổ đông

lớn hoặc cổ đông tham gia điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh có thể hành

động tạo ra lợi ích cá nhân mà qua đó lại gây thiệt hại cho cổ đơng nhỏ hoặc cổ

đơng bên ngồi, ví dụ: họ góp tiền của doanh nghiệp vào mục đích từ thiện nhằm

tạo tiếng tăm cho cá nhân hay sử dụng dòng tiền tự do cho các khoản đầu tư hiệu

quả kém, đầu tư dàn trải ngoài khả năng kiểm sốt. Cổ đơng tham gia quản lý

doanh nghiệp thường nắm nhiều thông tin hơn các cổ đông khác và sự cân xứng

thông tin là động cơ để họ thực hiện những hành vi đem lại lợi ích cá nhân nhưng

gây thiệt hại cho doanh nghiệp hay các cổ đông nhỏ như che giấu thua lỗ , công bố

thông tin tài chính sai lệch, tạo lập “quỹ đen” khơng có mục đích rõ ràng.…

Từ những phân tích trên, yêu cầu nhà quản tri tài chính cần nhận diện và kiểm

sốt các chi phí đại diện có thể phát sinh, qua đó hạn chế những tổn thất ảnh

hưởng đến giá trị doanh nghiệp hoặc giá cổ phiếu trên thị trường.

Ngoài sáu nguyên tắc đã được đề cập, khi quyết định huy động vốn tài trợ cho

hoạt động kinh doanh đảm bảo thiết lập cơ cấu vốn hợp lý, gia tăng giá trị tài sản

cho chủ sở hữu doanh nghiệp, còn phải cân nhắc các vấn đề khác như: tính bảo

mật thơng tin liên quan đến cơ hội đầu tư, vị thế tín dụng của doanh nghiệp, chính

sách phân phối lợi nhuận, quyền kiểm sốt của chủ sở hữu hiện tại, tính linh hoạt

trong cơ cấu vốn, năng lực quản trị của người điều hành và mức độ phát triển của

thị trường tài chính,…



64

2. ĐỊNH HƯỚNG CÁC GIẢI PHÁP

Cơ cấu vốn của các công ty thuộc ngành xây dựng – BĐS bộc lộ nhiều bất cập.

Tuy nhiên, không thể xây dựng một cơ cấu vốn tối ưu cho ngành mà phải căn cứ

vào mục tiêu của công ty trong từng giai đoạn phát triển kinh doanh để lựa chọn

cơ cấu vốn phù hợp.

Các giải pháp khả thi để lựa chọn cơ cấu vốn tối ưu trong luận văn này sẽ được

xây dựng theo 2 hướng

a) Nhóm các giải pháp định tính

Dựa trên số liệu tổng hợp, thống kê, phân tích và so sánh để đề xuất cơ cấu vốn

mục tiêu cho các công ty XD và BĐS trong thời gian tới, giúp các doanh nghiệp

có thể căn cứ vào điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mình để lựa chọn cơ cấu vốn

tối ưu.

Thứ nhất: Cân đối tỷ trọng nợ ngắn hạn và nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu. Cần

giảm tỷ trọng nợ ngắn hạn trong cơ cấu vốn bằng cách chuyển nợ vay ngắn hạn

sang vay dài hạn, thay khoản vay ngắn hạn bằng khoản ứng trước từ khách hàng

Thứ hai: Tập trung khai thác các kênh huy động vốn do nhu cầu về vốn trong

ngành xây dựng – BĐS là rất lớn việc khai thác nhiều kênh huy động vốn nhầm

tìm kiếm nguồn tài trợ có chi phí thấp, cân bằng rủi ro và đảm bảo quá trình đầu tư

khơng bị gián đoạn.

b) Nhóm các giải pháp định lượng

Đề xuất mơ hình hồi quy tuyến tính bội dạng giản đơn để đo lường các nhân tố

ảnh hưởng đến cơ cấu vốn từ đó giúp các doanh nghiệp có thể lựa chọn được cơ

cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp mình

3. NHĨM CÁC GIẢI PHÁP ĐỊNH TÍNH



a) Đề xuất cơ cấu vốn mục tiêu trong giai đoạn trước mắt

Từ kết quả từ phân tích thực trang cơ cấu vốn của 130 công ty ngành xây dựng và

bất động sản niêm yết trên TTCK VN. Tác giả đề xuất cơ cấu vốn mục tiêu cho

giai đoạn tới của ngành xây dựng và bất động sản như sau:



65

Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên vốn chủ sở hữu không vượt quá 100%, nợ dài hạn trên vốn

chủ sở hữu từ 100% - 200%, tổng nợ trên vốn chủ sở hữu không vượt quá 300% .

Như vậy các thành phần vốn so với tổng nguồn vốn là:

Chiếm dụng vốn ngắn hạn : 15-20%

Vay ngắn hạn : 10-15%

Vay dài hạn : 25-50%

Vốn chủ sở hữu : 25-35%

Cơ cấu vốn đề ra như trên là hợp lý cho nhu cầu vốn của ngành xây dựng – BĐS.

Thứ nhất, khai thác tối đa nguồn vốn từ khách hàng ứng trước phù hợp với qui

định của pháp luật. Thứ hai, tỷ lệ nợ vay ngắn hạn từ 10-15% đảm bảo khả năng

thanh tốn hiện hành của cơng ty. Thứ ba, vay dài hạn chiếm tỷ trọng cao nhất từ

30-50% vì đây là nguồn tài trợ có chi phí thấp, ổn định công ty được hưởng lợi từ

tấm chắn thuế. Thứ tư, nguồn vốn CSH ở mức 25-35% đảm bảo yêu cầu của Luật

nhà ở và Luật kinh doanh BĐS qui định chủ đầu tư phải có vốn CSH không thấp

hơn 20% tổng mức đầu tư của dự án.

b) Điều tiết tỷ trọng các thành phần vốn

Từ phân tích thực trạng cơ cấu vốn của các doanh nghiệp xây dựng và bất động

sản ở chương 2, tỷ lệ nợ ngắn hạn tỷ lệ nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao hiện nay

thể hiện sự bất cập trong cơ chế huy động vốn của cơng ty đồng thời đó lại là khó

khăn chung của thị trường vốn tín dụng. Theo Thông tư số 15/2009/TTNHNN qui

định tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn của các tổ chức tín dụng được sử dụng cho

vay trung dài hạn là 30%. Như vậy khả năng tìm nguồn vốn vay dài hạn từ các tổ

chức tín dụng là rất khó, chính vì vậy cơng ty cứ vay ngắn hạn rồi liên tục đáo nợ

điều này tạo căng thẳng về khả năng thanh toán và tính bất ổn trong nguồn vốn

đầu tư.

Để giảm vốn vay ngắn hạn công ty cần thực hiện: Khai thác nguồn vốn khách

hàng ứng trước bằng cách đẩy nhanh tiến độ thi cơng phần nền móng, hạ tầng và

tìm nguồn tài trợ dài hạn để thay thế.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MỤC TIÊU LỰA CHỌN CƠ CẤU VỐN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×