Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CƠ CẤU VỐN CỦA CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN TTCK VN

ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CƠ CẤU VỐN CỦA CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN TTCK VN

Tải bản đầy đủ - 0trang

55

khoản vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt tỷ trọng lớn là từ các nhà

cung cấp vật tư, vật liệu; các khoản ứng trước của khách hàng.

Bên cạnh đó tỷ số nợ dài hạn thấp, cho thấy rủi ro thanh tốn thấp, các cơng

ty khá thận trọng khi huy động vốn dài hạn, cũng có nghĩa là vẫn còn nhiều cơ hội

để cơng ty có thể từng bước tăng khả năng huy động vốn dài hạn cho các giai đoạn

phát triển sản xuất kinh doanh trong tương lai.

4.2. Các vấn đề tồn tại

Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên cơ cấu vốn của các

cơng ty ngành XD và BĐS vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế tồn tại. Đa số các cơng

ty chưa có kế hoạch chủ động xây dựng cơ cấu vốn tối ưu hay cơ cấu vốn mục tiêu

mà hồn tồn bị động vào vốn tự có và các kế hoạch huy động vốn ngắn hạn,

mang tính chất thời điểm.

Một hạn chế dễ thấy ở các công ty ngành XD và BĐS là nợ ngắn hạn chiếm

tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn (cao hơn cả vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn).

Nguồn vốn ngắn hạn, chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các khoản

phải trả nhà cung cấp, các khoản ứng trước của người mua, các khoản phải nộp cơ

quan quản lý nhà nước.... Khi các công ty quá nghiêng về các khoản nợ ngắn hạn

để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, trong khi đó đặc thù cơ

bản của ngành xây dựng và bất động sản là đầu tư dài hạn chiếm tỷ trọng lớn, do

đó sẽ dẫn đến mất cơ cấu đầu tư và cơ cấu vốn. Mặt khác các khoản nợ này tiềm

ẩn nhiều vấn đề về khả năng thanh tốn.

Qua phân tích đánh giá cơ cấu vốn của các công ty ngành XD và BĐS niêm

yết trên TTCK thì có thể nhận thấy các công ty hạn chế trong khả năng huy động

nợ dài hạn bằng phát hành trái phiếu. Trong tổng số 130 cơng ty trong ngành thì

chỉ có một vài cơng ty phát hành trái phiếu dài hạn để huy động nợ. So với việc

huy động nợ từ vay các ngân hàng thì huy động nợ bằng trái phiếu có ưu thế vượt

trội: không bị áp lực giám sát, kiểm tra của bên cho vay; khối lượng và thời gian

huy động hoàn tồn chủ động, khơng cần tài sản thế chấp. Tuy nhiên, hầu hết các

cơng ty trong ngành còn rất bỡ ngỡ trong các nghiệp vụ này.



56

Mặc dù các công ty trong ngành có tỷ số nợ khá cao nhưng lại khơng tạo ra

tác động tích cực của việc sử dụng nợ. Nhiều công ty sử dụng tỷ số nợ cao nhưng

tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) thấp. Để vận dụng được đòn bảy tài

chính có hiệu quả, các cơng ty phải có cơng tác dự báo thực sự mang lại kết quả

tốt, trong đó các thơng tin chung về chính sách điều hành vĩ mơ của nhà nước, các

thông tin ngành trên thị trường phải đạt được mức hiệu quả tối đa, như: chính sách

tài khóa, chính sách tiền tệ, lãi suất, giá cả nguyên vật liệu đầu vào, lạm phát.... Từ

đó, các cơng ty mới hoạch định cơ cấu vốn, có sử dụng nhiều nợ vay hay không.

Việc sử dụng nợ vay như con dao 2 lưỡi, nếu đòn bảy tốt sẽ làm tăng tỷ suất sinh

lợi trên vốn chủ sở hữu. Ngược lại, tác động tiêu cực của đòn bảy là gây ảnh

hưởng đến khả năng thanh tốn của cơng ty.

Quan sát các hoạt động tái cơ cấu vốn của các doanh nghiệp trong những

năm gần đây cho thấy các cơng ty đang có xu hướng đi ngược lý thuyết trật tự

phân hạng: các doanh nghiệp đua nhau phát hành cổ phần mới, kế đến là nguồn

vốn vay từ các tổ chức tín dụng chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn. Nguyên nhân

là do sự tăng trưởng quá nóng của thị trường chứng khốn từ năm 2006 đến đầu

năm 2007, nhiều cơng ty tìm mọi cách để tăng vốn, phát hành cổ phiếu để được

hưởng giá trị chênh lệch từ việc giá tăng cao. Hậu quả từ việc làm khơng ‘nhìn xa

trơng rộng’ này là giá trị cổ phiếu bị pha loảng, giá cổ phiếu tụt giảm 70-80%,

VN-Index ở mức đáy 234,66 điểm vào ngày24/2/2009, ảnh hưởng từ việc phát

hành ồ ạt cổ phần mới dẫn đến mặt trái của tình trạng thừa thải tài chính là các

cơng ty đã đầu tư tràn lan, đặc biệt vốn huy động được đem quay ngược lại đầu tư

tài chính đó là lĩnh vực mà cơng ty khơng có chun mơn sâu dẫn đến thua lỗ

nặng. Như vậy việc ứng dụng lý thuyết trật tự phân hạng sẽ giúp công ty xây dựng

được một cơ cấu vốn hợp lý, phòng ngừa rủi ro tài chính.

4.3. Ngun nhân dẫn đến hạn chế

4.3.1.



Nguyên nhân bên trong doanh nghiệp



Nhận thức của các nhà quản trị công ty về cơ cấu vốn và tầm quan trọng của việc

hoạch định cơ cấu vốn trong quản lý doanh nghiệp là còn hạn chế.



57

Các cơng ty chưa có chiến lược huy động nợ dài hạn. Có thể thấy các cơng ty chưa

có sự chủ động trong chiến lược kinh doanh dài hạn, công tác điều hành vẫn mang

tính chất thời điểm

Khả năng tìm kiềm, xây dựng dự án khả thi, chiến lược kinh doanh còn yếu dẫn

đến khả năng huy động nợ vay dài hạn thấp. Trên góc độ của người cho vay, ngân

hàng ln cân nhắc, tính tốn sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi ích. Quyết định cho

vay nợ dài hạn của ngân hàng sẽ dựa trên tính khả thi, thành cơng của dự án, hay

cũng chính là từ khả năng trả nợ, lãi vay của chính dự án vay vốn. Điều đò cho

thấy, vai trò của chính cơng ty là phải tự chứng tỏ khả năng thực hiện dự án và trả

nợ của mình. Tuy nhiên, trình độ quản lý có hạn chế, cộng với các thơng tin khơng

đầy đủ, các cơng ty còn gặp khó khăn trong việc hoạch định một chiến lược kinh

doanh dài hạn, mà chủ yếu kinh doanh với tính chất đầu cơ, “thời vụ”, theo “tâm

lý đám đông”. Do vậy, các ngân hàng luôn kiểm soát chặt chẽ đối với các khoản

vay từ các công ty này.

Hầu hết các công ty trong ngành chưa đủ uy tín để phát hành trái phiếu trên thị

trường và chính các cơng ty này còn rất bỡ ngỡ về kênh huy động vốn nhiều ưu

thế này.

4.3.2.



Nguyên nhân bên ngồi doanh nghiệp



Thứ nhất, chính sách điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước

Thứ hai, hiện sự sụt giảm của thị trường chứng khốn, cũng như là tính thanh

khoản của chứng khoán trên thị trường rất thấp. Đây là ngun nhân gây khó khăn

cho các cơng ty trong việc huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu và đặc biệt

là trái phiếu. Các trái phiếu của doanh nghiệp trên thị trường có tính thanh khoản

rất thấp nên không hấp dẫn được các nhà đầu tư.

Thứ ba, sự tham gia thiếu tích cực của các tổ chức trên thị trường chứng khoán.

Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, các ngân hàng thương mại, các cơng ty tài

chính, bảo hiểm và quỹ đầu tư là các tổ chức tiềm năng, tuy nhiên, chỉ có số ít các

tổ chức này là nắm giữ trái phiếu doanh nghiệp, còn các ngân hàng thương mại chỉ



58

nắm giữ trái phiếu chính phủ. Do vậy, thị trường trái phiếu doanh nghiệp khơng có

tính thanh khoản cao.

Thứ tư, các thơng tin trên thị trường còn thiếu và khơng hiệu quả, vai trò của các

đơn vị cung cấp thơng tin trên thị trường còn hạn chế. Đây là nguyên nhân chính

dẫn tới thiếu các căn cứ, số liệu tin cậy để xây dựng cơ cấu vốn tối ưu cho các

công ty. Trong bối cảnh các thông tin trên thị trường còn chưa minh bạch, đáng tin

cậy thì còn làm hạn chế sự tham gia của các thành viên trên thị trường, qua đó

doanh nghiệp chính là người bị ảnh hưởng gián tiếp khi không thể tiếp cận các

nguồn vốn trên thị trường. Chất lượng thông tin cũng như hiệu quả hoạt động của

các tổ chức cung cấp thông tin sẽ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và cơng sức và

sẽ giúp cho phân bổ các nguồn lực trong xã hội được hiệu quả hơn.



CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP KHẢ THI ĐỂ LỰA CHỌN CƠ CẤU VỐN

TỐI ƯU CHO CÁC CÔNG TY NGÀNH XD & BĐS NIÊM YẾT TRÊN

TTCK VN



59

1. MỤC TIÊU LỰA CHỌN CƠ CẤU VỐN

Hoạch định cơ cấu vốn tối ưu là một yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp, nó

ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của hoạt động kinh doanh. Từ những lợi

ích mà doanh nghiệp có thể đạt được khi xác định được cơ cấu vốn tối ưu cũng

như xem xét mối quan hệ giữa quyết định đầu tư và quyết định tài trợ, nhà quản trị

tài chính cần quan tâm các mục tiêu sau đây khi xem xét cơ cấu vốn:

Thứ nhất, cơ cấu vốn phải đảm bảo tiết kiệm chi phí sử dụng vốn của doanh

nghiệp.

Khi xuất hiện nhu cầu vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh

nghiệp có thể huy động nợ hoặc vốn chủ sở hữu. Cũng như bất kỳ các yếu tố đầu

vào khác, doanh nghiệp phải trả một khoản chi phí nhất định cho việc sử dụng

vốn, được gọi là chi phí sử dụng vốn. Như vậy, chi phí sử dụng vốn là cái giá mà

doanh nghiệp phải trả cho việc sử dụng nguồn tài trợ (lợi nhuận giữ lại, nợ vay

hay vốn góp của chủ sở hữu). Nếu đứng trên góc độ người cung cấp nguồn vốn thì

đó chính là thu nhập mà họ đòi hỏi doanh nghiệp phải chi trả, do đó, chi phí sử

dụng vốn được đo lường bằng tỷ suất sinh lời đòi hỏi của người sở hữu vốn. Tỷ

suất sinh lời đòi hỏi của người sở hữu vốn lại phụ thuộc mức độ rủi ro, những tài

sản hiện có và cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Mỗi nguồn vốn mà doanh nghiệp sử

dụng đòi hỏi một mức chi phí khác nhau, chẳng hạn như nợ vay ngắn hạn có chi

phí thấp hơn nợ vay dài hạn, nợ vay có chi phí thấp hơn vốn chủ sở hữu; cho nên,

cơ cấu vốn nghiêng về các khoản vốn ngắn hạn có chi phí thấp hơn so với cơ cấu

vốn nghiêng về các khoản vốn dài hạn; hoặc cơ cấu vốn nghiêng về nợ sẽ cho chi

phí thấp hơn so với cơ cấu vốn nghiêng về vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, cơ cấu

nghiêng về các khoản vốn ngắn hạn hoặc cơ cấu vốn nghiêng về nợ sẽ tiềm ẩn rủi

ro khả năng thanh toán cao hơn, tính ổn định của cơ cấu tài chính kém hơn. Điều

này đỏi hỏi nhà quản trị tài chính cần xem xét đến sự phù hợp giữa cơ cấu vốn và

cơ cấu tài sản.

Thứ hai, cơ cấu vốn phải phù hợp cơ cấu tài sản.



60

Cơ cấu vốn phải phù hợp với cơ cấu tài sản đầu tư được thể hiện qua nguyên tắc

cân bằng tài chính - thời gian luân chuyển giá trị của tài sản phải phù hợp với thời

hạn hoàn trả của các nguồn tài trợ, cụ thể là:

- Tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên cần được tài trợ bằng nguồn

vốn ổn định, bao gồm vay dài hạn, thuê tài chính, phát hành trái phiếu và vốn chủ

sở hữu.

- Tài sản lưu động thời vụ được tài trợ bằng các nguồn vốn ngắn hạn như các

khoản nợ chiếm dụng, nợ tích lũy và vay ngắn hạn. Tại một thời điểm bất kỳ,

trong cơ cấu tài chính, doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài

sản cố định hoặc tài sản lưu động thường xuyên thì rủi ro về khả năng thanh tốn

sẽ cao, tính ổn định của cơ cấu tài chính kém. Nếu sau khi chi trả các khoản nợ

ngắn hạn, doanh nghiệp khơng được tái tài trợ thì hoạt động kinh doanh sẽ gặp

khó khăn, thậm chí mất khả năng thanh toán.

Thứ ba, nguyên tắc cân đối giữa lợi nhuận và rủi ro.

Nguyên tắc này đòi hỏi người ra quyết định huy động vốn phải cân nhắc đến mối

quan hệ giữa đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính, mức độ tác động của nợ đến

suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE).

Đòn bẩy hoạt động (OL) thể hiện mức độ sử dụng chi phí hoạt động cố định của

doanh nghiệp. Những doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy hoạt động cao sẽ có khả

năng gia tăng lợi nhuận rất nhanh khi doanh thu tăng, nhưng lợi nhuận cũng sẽ sụt

giảm nhanh hơn khi doanh thu giảm. Đòn bẩy hoạt động do đặc điểm ngành nghề

quyết định, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng, bất động sản và

luyện thép có đòn bẩy hoạt động cao trong khi doanh nghiệp hoạt động trong

ngành dịch vụ như tư vấn và du lịch có đòn bẩy hoạt động thấp. Ngồi những ràng

buộc do đặc điểm kinh doanh của từng ngành ảnh hưởng đến đòn bẩy hoạt động,

các điều kiện khác có thể ảnh hưởng đến đòn bẩy hoạt động đó là vấn đề lựa chọn

cơng nghệ và hình thức sở hữu tài sản. Một doanh nghiệp có đòn bẩy hoạt động

cao thì rủi ro trong hoạt động kinh doanh càng cao, đó là rủi ro phát sinh đối với

tài sản ngay cả khi doanh nghiệp không sử dụng nợ và độ bẩy hoạt động (DOL) sẽ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CƠ CẤU VỐN CỦA CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN TTCK VN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×