Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TRANG CƠ CẤU VỐN CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH XD & BĐS NIÊM YẾT TRÊN TTCK VN

THỰC TRANG CƠ CẤU VỐN CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH XD & BĐS NIÊM YẾT TRÊN TTCK VN

Tải bản đầy đủ - 0trang

47

Bên cạnh đó cũng có thể thấy tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản của một cơng ty

điển hình qua các năm 2007, 2008, 2009, 2010 tương ứng là 70%, 69%, 71% và

65,5%.

Một kết quả đáng quan tâm là trong 130 cơng ty khảo sát, có cơng ty có tỷ

lệ tổng nợ trên tổng tài sản lên tới trên 95%.

Nhận xét: Kết quả tính tốn tỷ số tổng nợ trên tổng nguồn vốn trung bình

ngành khoảng 65%, cơ cấu vốn nghiêng về nợ vay là phù hợp đặc thù của ngành

XD và BĐS của nước ta hiện nay. Kết quả này xét về mặt lý thuyết cho thấy cả

mặt tích cực và mặt tiêu cực của vay nợ. Bên cạnh đó, một số cơng ty có tỷ số nợ

q cao (trên 90%) thể hiện khả năng mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu vốn

và tiềm ẩn các khả năng kiệt quệ tài chính, phá sản.

3.2. Tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng nguồn vốn

Tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản trung bình của 130 cơng ty qua các năm

2007, 2008, 2009, 2010 lần lượt là 53,96%, 55,16%, 53,93% và 49,7%.

Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản của một cơng ty điển hình qua các năm

2007, 2008, 2009, 2010 tương ứng là 57%, 59,5%, 56% và 52%.

Nhận xét: Tỷ số tổng nợ trên tổng nguồn vốn trung bình ngành xấp xỉ 65%,

tuy nhiên tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng nợ lại quá cao, lên tới khoảng trên 50%.

Điều này cho thấy các công ty chủ yếu hoạt động bằng nợ ngắn hạn, trong khi

đó ngày xây dựng và bất động sản có đặc thù là đầu tư bất động sản, xây dựng kéo

dài, biểu hiện của sự mất cân đối trong cơ cấu đầu tư và cơ cấu vốn. Vốn ngắn hạn

chiếm tỷ trọng lớn sẽ hạn chế khả năng đầu tư dài hạn của cơng ty, khơng những

thế còn chứa đựng rủi ro tiềm ẩn về khả năng thanh tốn của doanh nghiệp.

Có thể khẳng định, phần lớn các công ty xây dựng và bất động sản niêm yết

trên TTCK phụ thuộc quá nhiều vào nợ ngắn hạn và đang tiềm ẩn rủi ro về khả

năng thanh tốn. Nhận định này là hồn toàn phù hợp với diễn biến trong giai

đoạn từ 2010 đến nay, khi các doanh nghiệp xây dựng và bất động sản đang lao

đao vì dòng vốn vay ngắn hạn do bị siết chặt vay vốn ngắn hạn từ ngân hàng, hàng



48

hóa bất động sản ứ đọng vì thị trường đóng băng khiến khơng thể thu hồi vốn

cũng như các khoản ứng trước từ người mua bất động sản.

Trong 130 cơng ty khảo sát, có những cơng ty có tỷ lệ nợ ngắn trên tổng tài

sản lên tới trên 90%. Thể hiện một khả năng mất cân đối nghiêm trọng trong cơ

cấu vốn, và rủi ro rất cao cho hoạt động kinh doanh của công ty.

Bảng 3.2: Thống kê mô tả tỷ số nợ ngắn hạn của các công ty



Nguồn: Số liệu thống kê từ Báo cáo tài chính của các cơng ty và tính tốn của tác

giả theo chương trình Eviews 4.0

3.3. Tỷ số nợ dài hạn trên tởng nguồn vốn

Kết quả tính tốn cho thấy: Tỷ số nợ dài hạn trên tổng tài sản trung bình của

130 cơng ty qua các năm 2007, 2008, 2009, 2010 lần lượt là 11,53%, 11,08%,

13,26% và 15,15%.

Tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản của một cơng ty điển hình qua các năm

2007, 2008, 2009, 2010 tương ứng là 6%, 5,5%, 8% và 10%.



49

Bảng 3.3: Thống kê mô tả tỷ số nợ dài hạn của các công ty



Nguồn: Số liệu thống kê từ Báo cáo tài chính của các cơng ty và tính tốn của tác

giả theo chương trình Eviews 4.0

Ngược lại với tỷ lệ nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ dài hạn của các công ty XD và

BĐS rất thấp cho thấy phần lớn các công ty này đang mất cân đối trong cơ cấu

vốn khi không huy động được vốn vay dài hạn. Dễ hiểu khi thiếu vốn dài hạn các

cơng ty phải tìm cách huy động các khoản nợ ngắn hạn để tài trợ cho các hoạt

động. Tuy nhiên, sự lạm dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn sẽ tiềm ẩn

rủi ro trong cơ cấu đầu tư cũng như cơ cấu vốn của cơng ty.

3.4. Tỷ số thanh tốn lãi vay (Times-Interest-Earned)

Tỷ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả

năng trả lãi như thế nào. Hệ số này giúp đánh giá cơ cấu vốn của doanh nghiệp có

tối ưu hay khơng thơng qua đánh giá kết cấu lợi nhuận cho Trái chủ (người cho

vay), chính phủ (thuế) và Cổ đơng. Từ đó đánh giá xem nên vay thêm, giảm tỷ

trọng nợ hay tỷ trọng nợ đã là tối ưu cần duy trì.



50

Từ số liệu tính toán ta thấy. Tỷ số thanh toán lãi vay của một cơng ty điển hình

qua các năm 2007, 2008, 2009, 2010 tương ứng là 2,55; 3,68; 2,76 và 6,13.

(Ngoài ra một số cơng ty khơng có vay nợ do đó số quan sát ở trên chỉ là 99 cho

thấy có tới 31 cơng ty ko có vay nợ) Các tỷ số này đếu lớn hơn 2, do đó các cơng

ty hồn tồn có thể trả được lãi vay. Như vậy nhìn chung các cơng ty khơng bị áp

lực lớn về chi phí lãi vay. Điều này có thể giải thích là các công ty xây dựng và bất

động sản hiện nay thường áp dụng các biện pháp chiếm dụng vốn với các khoản

phải trả ngắn hạn, các khoản tín dụng của nhà cung cấp, các khoản trả trước, ứng

trước của khách hàng nhằm giảm các chi phí về lãi vay.

Bảng 3.4: Thớng kê mơ tả tỷ sớ thanh tốn lãi vay của các công ty



Nguồn: Số liệu thống kê từ Báo cáo tài chính của các cơng ty và tính tốn của tác

giả theo chương trình Eviews 4.0

Qua việc phân tích tỷ số thanh tốn lãi vay TIE của 130 cơng ty ngành xây

dựng và bất động sản, có thể nhận thấy nhìn chung các cơng ty còn có thể gia tăng

được tỷ trọng vay nợ trên tổng nguồn vốn.



51

3.5. Tỷ số thanh toán nợ ngắn hạn (Liquidity Ratio)

Tỷ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài

sản có thể chuyển đổi thành tiền để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.

Do đó, nó đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp.

Từ số liệu tính tốn ta thấy. Tỷ số thanh tốn nợ ngắn hạn của một cơng ty điển

hình qua các năm 2007, 2008, 2009, 2010 tương ứng là 1,255; 1,175; 1,215 và

1,315. Các tỷ số này lớn hơn 1 cho thấy khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh

nghiệp.

Bảng 3.5: Thớng kê mơ tả tỷ sớ thanh tốn nợ ngắn hạn



Nguồn: Số liệu thống kê từ Báo cáo tài chính của các cơng ty và tính tốn của tác

giả theo chương trình Eviews 4.0

Một số cơng ty có tỷ số này nhỏ hơn 1 cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng nợ ngắn

hạn để tài trợ cho các loại tài sản cố định. Chiến lược tài trợ này sẽ đặt cơng ty

trước nguy cơ phá sản vì khơng có sự phù hợp về thời gian đáo hạn giữa nợ ngắn

hạn và tài sản cố định.



52

3.6. Tình hình huy động vốn của các công ty ngành XD và BĐS

Huy động vốn với quy mô tối đa luôn là mục tiêu đầu tiên của chính sách quản lý

vốn của bất kỳ doanh nghiệp nào. Do đó, để làm rõ hơn về thực trạng cơ cấu vốn

của các doanh nghiệp ngành XD và BĐS niêm yết trên TTCK VN, cần phân tích

về tình hình hiện nay các kênh huy động vốn của các công ty trong ngành.

a) Nguồn lợi nhuận giữ lại: Đa số các công ty chưa chú trọng lợi nhuận giữ lại để

tái đầu tư do: thứ nhất, lợi nhuận chưa cao nguồn vốn này nhỏ đáp ứng không

đáng kể nhu cầu vốn của công ty. Thứ hai, trong những năm qua các cơng ty

lựa chọn chính sách chi cổ tức bằng tiền mặt như là một liệu pháp để đánh

bóng thương hiệu cơng ty vì nó thơng tin cơng ty có lợi nhuận cao, sức khỏe tài

chính tốt đến nhà đầu tư. Như báo cáo tài chính nửa đầu năm 2009 đưa tin

nhiều cơng ty đã hào phóng đưa ra mức cổ tức hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Rõ

ràng cả công ty và nhà đầu tư chỉ xem xét mục tiêu ngắn hạn mà bỏ qua triển

vọng phát triển bền vững.

b) Vay ngân hàng: Hiện nay, NHNN áp dụng nhiều biện pháp để kiềm chế tăng

trưởng tín dụng đẩy lãi suất trần cho vay, các cơng ty gặp khó khăn trong vay

vốn ngân hàng, nhiều cơng ty ngưng triển khai dự án do thiếu vốn và giá vật tư

tăng cao. Từ quí 4 năm 2008 đến hết q 2 năm 2009 tình trạng giảm phát

nhanh, thị trường BĐS mất tính thanh khoản, các khoản nợ vay trở thành gánh

nặng cho cơng ty. Với chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho các khoản vay trung

dài hạn với thời hạn vay 2 năm, giải ngân trong khoảng thời gian từ

01/04/2009 đến 31/12/2009 làm giảm bớt khó khăn về vốn của các công ty.

Tuy nhiên, không phải công ty nào trong ngành xây dựng, bất động sản cũng

tiếp cận được với nguồn vốn vay ngân hàng do các điều kiện vay của ngân

hàng quá nghiêm ngặt, điển hình ngân hàng chỉ xét duyệt cho vay các dự án ở

nội đô, ngân hàng yêu cầu công ty chứng minh dự án đã có khách hàng hỏi

mua… Về phía ngân hàng lý giải việc này như sau: “các dự án bất động sản

được hình thành trong tương lai nên khó kiểm tra tính rủi ro, chỉ những dự án

mang tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn nhanh mới xét duyệt cho vay”.



53

c) Trái phiếu doanh nghiệp: Quy mô của thị trường trái phiếu Việt Nam hiện chỉ ở

mức 17% GDP, trong khi tỷ lệ này ở Thái Lan là 58%, Malaysia 82%,

Singapore 74% và Trung Quốc là 53%. Trong đó trái phiếu DN chỉ chiếm một

tỷ lệ rất nhỏ trong cơ cấu: trái phiếu DN chỉ 10%, VDB (Ngân hàng phát triển

VN) chiếm 33% còn lại là trái phiếu Chính phủ và các địa phương.

Trước năm 2009 chủ yếu là DN nhà nước phát hành trái phiếu DN như

Vinashin, Sơng Đà, Vinaconex, Lilama... thì sang năm 2009, khối doanh

nghiệp ngoài quốc doanh đã chứng minh được sức hút của họ với các đợt phát

hành thành công của Kinh Bắc, Vincom, Hoàng Anh Gia Lai... Năm 2009 được

coi là năm bùng nổ và thành công của trái phiếu DN về khối lượng có 15 đợt

các DN phát hành trái phiếu với tổng giá trị xấp xỉ 20.000 tỷ đồng, tăng gấp 3

lần so với năm 2008. Đáng kể nhất về phát hành trái phiếu thành công là

Vincom đã phát hành thành công trái phiếu chuyển đổi quốc tế mệnh giá 1 tỷ

đồng/ trái phiếu với tổng trị giá lên đến 100 triệu USD trên thị trường

Singapore. Thành công của trái phiếu DN năm 2009 tạo cho DN một kênh huy

động vốn đầy triển vọng. Các đợt phát hành trái phiếu thành công trong năm

2009 cho thấy các sản phẩm trái phiếu này thu hút được sự quan tâm rất lớn

của nhà đầu tư: Hoàng Anh Gia Lai phát hành 1.450 tỉ đồng trái phiếu kỳ hạn

một năm với lãi suất 0% gắn với quyền mua cổ phiếu. Công ty cổ phần Vincom

tạo bước khởi đầu thật ấn tượng với 100 triệu USD trái phiếu chuyển đổi quốc

tế phát hành vào giữa tháng 11 năm 2009 và niêm yết trái phiếu trên sàn giao

dịch chứng khoán Singapore. Đây cũng là đợt vay nợ quốc tế đầu tiên thông

qua phát hành trái phiếu được một doanh nghiệp VN thực hiện. Trái phiếu

được phát hành bằng USD, có kỳ hạn 5 năm và lãi suất 6%/năm, thanh toán 6

tháng một lần vào cuối kỳ. Tuy nhiên, xét về qui mô trái phiếu DN vẫn chiếm

tỷ trọng thấp và hơn nữa nhà đầu tư mua trái phiếu DN chủ yếu vẫn là các tổ

chức, DN có quan hệ làm ăn với nhau hoặc ngân hàng nên không đạt mục tiêu

huy động vốn xã hội.



54

4. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CƠ CẤU VỐN CỦA CÁC CÔNG TY XÂY

DỰNG VÀ BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN TTCK VN

4.1. Về mặt ưu điểm

Cùng với sự phát triển của TTCK Việt Nam trong 11 năm qua, các công ty

ngành XD và BĐS đã huy động được lượng vốn lớn thông qua phát hành cổ phiếu

nhằm tăng quy mô, đầu tư mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần

khơng nhỏ vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.

Nhận thức được các lợi ích của nợ từ lá chắn thuế, hầu hết các công ty

trong ngành sử dụng nợ như một đòn bảy tài chính trong các hoạt động sản xuất

kinh doanh. Cơ cấu vốn nghiêng về nợ sẽ cho chi phí sử dụng vốn thấp hơn so với

cơ cấu vốn nghiêng về vốn chủ sở hữu.

Một số công ty đã thiết lập được cơ cấu vốn biểu hiện ở tỷ số nợ dài hạn

trên vốn chủ sở hữu hay tỷ số nợ dài hạn trên tổng nguồn vốn. Trong khi hầu hết

các công ty sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh

vốn có thời gian đầu tư dài hạn thì một số ít các cơng ty đã có chiến lược huy động

nợ dài hạn là một kết quả tốt. Điều này cũng chứng tỏ các công ty này đã nhận

thức được tầm quan trọng trong việc hoạch định cơ cấu vốn và sử dụng cơ cấu vốn

phù hợp với đặc thù ngành sản xuất kinh doanh của mình.

Tỷ số nợ của các cơng ty trong ngành bình qn có thể coi là cao tuy nhiên

dựa trên các số liệu về cơ cấu vốn quan sát từ các nước trong khu vực thì tỷ số nợ

này thấp hơn ở các công ty ngành bất động sản ở Trung Quốc nơi mà các điều kiện

về sự phát triển của thị trường vốn, năng lực huy động nợ của các doanh

nghiệp...có ưu thế hơn Việt Nam.

Mặc dù tỷ số nợ ngắn hạn cao do nợ vay ngắn hạn có chi phí thấp hơn nợ

vay dài hạn, cho nên, cơ cấu vốn nghiêng về các khoản vốn ngắn hạn có chi phí

thấp hơn so với cơ cấu vốn nghiêng về các khoản vốn dài hạn nhưng các chỉ tiêu

về thanh toán lãi vay và tỷ số thanh tốn ngắn hạn trung bình của ngành vẫn trong

khoảng cho phép. Điều này cho thấy các doanh nghiệp đã chiếm dụng được các



55

khoản vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt tỷ trọng lớn là từ các nhà

cung cấp vật tư, vật liệu; các khoản ứng trước của khách hàng.

Bên cạnh đó tỷ số nợ dài hạn thấp, cho thấy rủi ro thanh tốn thấp, các cơng

ty khá thận trọng khi huy động vốn dài hạn, cũng có nghĩa là vẫn còn nhiều cơ hội

để cơng ty có thể từng bước tăng khả năng huy động vốn dài hạn cho các giai đoạn

phát triển sản xuất kinh doanh trong tương lai.

4.2. Các vấn đề tồn tại

Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên cơ cấu vốn của các

công ty ngành XD và BĐS vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế tồn tại. Đa số các cơng

ty chưa có kế hoạch chủ động xây dựng cơ cấu vốn tối ưu hay cơ cấu vốn mục tiêu

mà hoàn toàn bị động vào vốn tự có và các kế hoạch huy động vốn ngắn hạn,

mang tính chất thời điểm.

Một hạn chế dễ thấy ở các công ty ngành XD và BĐS là nợ ngắn hạn chiếm

tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn (cao hơn cả vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn).

Nguồn vốn ngắn hạn, chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các khoản

phải trả nhà cung cấp, các khoản ứng trước của người mua, các khoản phải nộp cơ

quan quản lý nhà nước.... Khi các công ty quá nghiêng về các khoản nợ ngắn hạn

để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, trong khi đó đặc thù cơ

bản của ngành xây dựng và bất động sản là đầu tư dài hạn chiếm tỷ trọng lớn, do

đó sẽ dẫn đến mất cơ cấu đầu tư và cơ cấu vốn. Mặt khác các khoản nợ này tiềm

ẩn nhiều vấn đề về khả năng thanh tốn.

Qua phân tích đánh giá cơ cấu vốn của các công ty ngành XD và BĐS niêm

yết trên TTCK thì có thể nhận thấy các cơng ty hạn chế trong khả năng huy động

nợ dài hạn bằng phát hành trái phiếu. Trong tổng số 130 công ty trong ngành thì

chỉ có một vài cơng ty phát hành trái phiếu dài hạn để huy động nợ. So với việc

huy động nợ từ vay các ngân hàng thì huy động nợ bằng trái phiếu có ưu thế vượt

trội: khơng bị áp lực giám sát, kiểm tra của bên cho vay; khối lượng và thời gian

huy động hoàn toàn chủ động, không cần tài sản thế chấp. Tuy nhiên, hầu hết các

cơng ty trong ngành còn rất bỡ ngỡ trong các nghiệp vụ này.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TRANG CƠ CẤU VỐN CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH XD & BĐS NIÊM YẾT TRÊN TTCK VN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×