Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN NGÀNH XÂY DỰNG VÀ BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM

TỔNG QUAN NGÀNH XÂY DỰNG VÀ BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

39



Nguồn: Tổng cục thống kê và tính tốn của tác giả

Cũng theo số liệu thống kê từ bộ kế hoạch và đầu tư, tỷ trọng nguồn vốn FDI

đầu tư vào thị trường bất động sản chiếm khoảng 33% và 36%, 37% vào năm

2008, 2009 và 2010.

Điều này cho thấy thị trường bất động sản Việt Nam đã và đang thu hút được

sự quan tâm và một nguồn vốn đầu tư lớn của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong

bối cảnh thắt chặt tiền tệ và hạn chế tín dụng hiện nay, đặc biệt là dòng vốn tín

dụng và thị trường bất động sản đã sụt giảm mạnh. Dòng vốn FDI được coi là liều

thuốc kích thích sự hồi phục của thị trường bất động sản trong nước.



40



Hình 2.3: Giá trị vốn FDI vào lĩnh vực BĐS trong giai đoạn 2004 -2011

Nguồn Tổng cục thống kê



Mặc dù trong giai đoạn hiện nay, ngành xây dựng và bất động sản đang gặp

một số khó khăn, tuy nhiên, trong trung và dài hạn đây vẫn là ngành có mức tăng

trưởng cao khi các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế đi vào ổn định do đây là ngành có

vai trò quan trọng, có sức lan tỏa đến sự phát triển của các ngành khác và đóng

góp tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng GDP của nền kinh tế.

1.2. Đặc thù ngành XD và BĐS Việt Nam

Ngành xây dựng và bất động sản là ngành có đặc thù sử dụng lượng vốn rất

lớn và dài hạn do chính đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành. Lượng vốn đầu tư,

bỏ ra ban đầu thường rất lớn do bất động sản là tài sản có giá trị lớn, bao gồm cả

giá trị quyền sử dụng đất. Thời gian đầu tư, xây dựng thường kéo dài từ 2 đến 3

năm, nguyên nhân là do các thủ tục thực hiện dự án đầu tư xây dựng ở Việt Nam

rất cồng kềnh, bị chi phối bởi nhiều cơ quan quản lý khác nhau, đặc biệt trong giai

đoạn chuẩn bị dự án như xin phê duyệt quy hoạch, đền bù giải phóng mặt bằng.

Tiến độ xây dựng thường chậm hơn so với tiến độ đề ra và phải điều chỉnh nhiều

lần do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như biến động giá cả nguyên

vật liệu đầu vào, năng lực đơn vị thi cơng còn hạn chế cả về công nghệ xây dựng

cũng như tiềm lực tài chính.



41

Bảng 2.1: Tỷ số Nợ trên Tởng nguồn vốn của một số ngành



Nguồn: Trần Thị Thanh Tú, Phân tích tác động của cơ cấu vốn đến khả năng sinh

lời của các công ty niêm yết trên TTCK VN, Tạp chí Phát triển Kinh tế, 5/2010

Bên cạnh đó thị trường bất động sản ở Việt Nam hiện nay phụ thuộc rất

nhiều vào các dòng vốn tín dụng thương mại, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

Bất cứ các điều chỉnh nào trong chính sách tiền tệ và tài khóa đều có tác động

mạnh mẽ đến thị trường bất động sản. Do đó có thể thấy thị trường xây dựng và

bất động sản có mối quan hệ mật thiết với thị trường vốn và tài chính khi nó

khơng chỉ là đầu ra quan trọng của thị trường vốn mà còn là cơ sở tốt để huy động

nguồn tài chính lớn cho phát triển kinh tế thông qua hoạt động thế chấp và giải

chấp khi phần lớn lượng tiền ngân hàng cho vay qua thế chấp bằng bất động sản

chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng vốn cho vay.

Ngồi ra, còn phải thừa nhận rằng hiện nay thị trường bất động sản vẫn

thuộc về giới đầu tư chứ chưa hướng đến người tiêu dùng có nhu cầu sử dụng thực

sự. Do thị trường được thao túng bởi giới đầu tư, đầu cơ nên các hiện tượng đầu

cơ, thổi giá, đầu tư theo phong trào, tạo cơn sốt ảo diễn ra phổ biến, càng khiến

cho thị trường không minh bạch và lành mạnh.



42

2. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY XÂY

DỰNG & BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN TTCK VN

2.1. Số lượng công ty trong ngành và quy mơ vốn hóa thị trường

Hiện nay, số lượng các cơng ty thuộc nhóm ngành xây dựng và bất động

sản niêm yết trên cả 2 sàn HOSE và HASTC là trên 130 công ty trên tổng số 541

công ty niêm yết. Giá trị tài sản của 130 công ty này chiếm lên tới 247.254,6 tỷ

đồng (số liệu năm 2010).

2.2. Quy mô hoạt động (xét trên tiêu chí Doanh thu và Tổng tài sản)

Căn cứ trên tiêu chí doanh thu và tổng tài sản năm 2010, cho thấy với quy

mô từ 100 tỷ đến 500 tỷ có tới 60,77% số lượng các công ty đạt mức doanh thu

này, và 33,08% các công ty có tổng tài sản thỏa mãn điều kiện xét. Ở mức từ 500

tỷ đến 1000 tỷ, có 22,31% các cơng ty có mức doanh thu và 32,31% các cơng ty

có tổng tài sản thỏa mãn. Với mức từ 1000 tỷ đến 5000 tỷ, có 15,38% các cơng ty

đạt mức doanh thu và 27,69% các cơng ty có mức tài sản tương ứng. Tỷ lệ các

cơng ty có doanh thu và tổng tài sản trên 5000 tỷ chỉ là 1,54% và 6,92%.

Căn cứ theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ

về việc đưa ra các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp thì tất cả các cơng ty xây

dựng và bất động sản niêm yết trên TTCK VN đều thuộc các doanh nghiệp lớn,

với tổng tài sản thỏa mãn tiêu chí trên 100 tỷ đồng, thậm chí có những doanh

nghiệp được xếp vào hạng siêu lớn như VCG hay VIC với tổng tài sản vượt qua 1

tỷ đô la Mỹ.

Đồ thị 2.4: Phân loại công ty theo Doanh thu và Tổng tài sản



43



Nguồn: Tổng hợp từ số liệu báo cáo tài chính năm 2010 của các cơng ty

2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh

Với đặc thù ngành xây dựng và bất động sản có chu kỳ kinh doanh dài, do

đó để đánh giá kết kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty, số liệu được thu

thập từ báo cáo tài chính trong 4 năm gần nhất (từ 2007 đến 2010), tổng hợp tính

tốn số liệu ROA và ROE trung bình trong vòng 4 năm.

Kết quả cho thấy có đến 61,54% các cơng ty có tỷ suất sinh lời trên tài sản

ROA dưới 5%; 26,92% các công ty có ROA trong khoảng từ 5% - 10%; tỷ lệ các

cơng ty có ROA từ 10% - 15% là 6,92%, và chỉ có 4,62% các cơng ty có ROA trên

15%. ROA trung bình của ngành là 5,43%

Đồ thị 2.5: Phân loại công ty theo tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN NGÀNH XÂY DỰNG VÀ BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×