Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU VỐN CỦA CÔNG TY

CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU VỐN CỦA CÔNG TY

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



1. KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Khái niệm và phân loại nguồn vốn

1.1.1.



Khái niệm



Nguồn vốn là những quan hệ tài chính mà thơng qua đó cơng ty có thể khai thác hay

huy động một số tiền nhất định để đầu tư tài sản. Nguồn vốn cho biết tài sản của

cơng ty do đâu mà có và cơng ty phải có những trách nhiệm kinh tế, pháp lý đối với

tài sản của mình.

1.1.2.



Phân loại nguồn vốn:



Tồn bộ tài sản của của cơng ty có thể được hình thành từ hai nguồn là vốn chủ sở

hữu và nợ phải trả.

a) Vốn chủ sở hữu:

Là số tiền do các nhà đầu tư, các sáng lập viên đóng góp hoặc được hình thành từ

kết quả hoạt động. Đây khơng phải là một khoản nợ và do đó cơng ty khơng có trách

nhiệm phải thanh tốn. Với những loại hình cơng ty khác nhau, vốn chủ sở hữu được

hình thành khác nhau và gồm 3 loại sau:

- Vốn góp ban đầu: Là số tiền do các thành viên sáng lập đóng góp ban đầu khi

thành lập. Đây chính là vốn được ghi trong điều lệ công ty.

- Vốn huy động từ việc phát hành cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường. Trong q

trình sản xuất kinh doanh, cơng ty có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng các phát hành

các cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường. Cần lưu ý là không giống như cổ phiếu

thường, cổ phiếu ưu đãi trả 1 lượng cổ tức nhất định (thường được ấn định một tỷ

lệ nhất định trên mệnh giá) cho cổ đông nắm giữ và không hề thay đổi ngay cả

khi công ty khơng có đủ năng lực tài chính để trả trong trường hợp làm ăn thua lỗ.

Cổ đông nắm cổ phiếu ưu đãi luôn được nhận cổ tức đầu tiên, và khi cơng ty bị

phá sản thì họ cũng là những người được cơng ty trả trước sau đó mới đến cổ

đông thường.



12

- Lợi nhuận giữ lại: Là phần thu nhập của công ty được cổ đông đồng ý cho công

ty giữ lại để tái đầu tư thay vì nhận cổ tức. Đây là nguồn vốn rất chủ động và

thuận tiện cho công ty. Tuy nhiên, công ty phải cam kết trả cho cổ đông lãi suất

cao hơn cổ tức hiện tại.

- Vốn chủ sở hữu khác: Bao gồm các nguồn vốn và các quỹ chuyên dùng được hình

thành chủ yếu từ việc phân phối lợi nhuận, bao gồm: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự

phòng tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản,

chênh lệch tỷ giá hối đoái…

b) Nợ phải trả:

Là số vốn vay, vốn chiếm dụng của các tổ chức, các nhân mà đơn vị có nghĩa vụ

phải thanh tốn. Nợ phải trả được phân loại theo thời hạn thanh toán, gồm có:

- Nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ có thời hạn thanh toán dưới 1 năm. Nợ ngắn hạn

thường bao gồm:

+ Vay ngắn hạn ngân hàng: Các khoản vay ngắn hạn ngân hàng thường được sử

dụng khi doanh nghiệp thiếu hụt tiền tạm thời để đáp ứng nhu cầu chi trả ví

dụ như trả lương cán bộ cơng nhân viên, chi trả mua nguyên vật liệu…Lãi

suất vay ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất vay dài hạn.

+ Khoản phải trả nhà cung cấp hay còn gọi là tín dụng nhà cung cấp: Căn cứ

trên hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán chấp thuận cho bên mua trả chậm

với một số điều kiện nhất định. Thơng thường, các khoản tín dụng nhà cung

cấp có thể khơng phải trả chi phí, khi bên mua là các cơng ty có danh tiếng tốt

và mối quan hệ giao dịch lâu dài cũng như tình hình tài chính tốt.

+ Các khoản phải nộp cho cơ quan quản lý nhà nước: Các khoản thuế, phí phải

nộp cho nhà nước nhưng chưa đến hạn nộp hoặc cơng ty có thể trì hỗn hợp

lý. Tỷ trọng của các khoản này thường không cao. Và mặc dù đây là nguồn

vốn khơng mất chi phí nhưng khi tận dụng nó q mức sẽ gây phản tác dụng

đến uy tín của công ty

+ Các khoản phải trả cán bộ công nhân viên



13

+ Trái phiếu ngắn hạn: Công ty phát hành các trái phiếu ngắn hạn – là giấy

chứng nhận quyền đòi nợ đối với cơng ty. Nguồn vốn này giúp doanh nghiệp

khơng phụ thuộc vào bên cho vay vì các trái phiếu có mệnh giá rất nhỏ, phù

hợp với thu nhập của cơng chúng. Hơn nữa, doanh nghiệp có thể chủ động

phát hành số lượng trái phiếu ra công chúng tùy thuộc vào nhu cầu vốn cũng

như khả năng thành công của đợt phát hành.

- Nợ dài hạn: Là các khoản nợ có thời hạn thanh tốn trên 1 năm. Nợ dài hạn là

nguồn vốn dài hạn quan trọng của cơng ty. Nợ dài hạn gồm có:

+ Vay dài hạn ngân hàng: Là các khoản vay để công ty tài trợ cho các dự án dài

hạn của mình. Về nguyên tắc, khơng cơng ty nào muốn dùng tồn bộ vốn chủ

sở hữu để đầu tư vào một dự án. Các cơng ty sẽ tìm các phân bố rủi ro từ việc

đầu tư dự án vào các nhà đầu tư khác được kêu gọi, ví dụ như ngân hàng. Các

thủ tục để vay các khoản vay dài hạn của ngân hàng là rất khắt khe và lãi suất

thường cao hơn lãi suất các khoản vay ngắn hạn.

+ Thuê tài sản: Đây là hình thức tài trợ của các cơng ty cho thuê tài sản đối với

công ty. Công ty sẽ đi thuê tài sản từ các công ty cho thuê và chỉ phải trả chi

phí thuê tài sản. Kết thúc hợp đồng thuê, bên đi thuê có quyền mua lại tài sản

với giá ưu đãi hơn so với thị trường. Điều này giúp gắn chặn quyền lợi của

bên cho thuê và công ty trong việc sử dụng tài sản. Đây là nguồn vốn ưu việt

cho cơng ty vì cơng ty có thể thực hiện được dự án mà không phải thỏa mãn

các yêu cầu khắt khe của ngân hàng khi tiếp cận khoản vay dài hạn.

+ Phát hành trái phiếu dài hạn: Các doanh nghiệp lớn và uy tín trên thị trường

có thể huy động vốn dài hạn bằng cách phát hành trái phiếu dài hạn. Các loại

trái phiếu rất đa dạng và hấp dẫn đối với nhà đầu tư khiến cơng ty có thể dễ

dàng huy động được vốn.



c) So sánh nợ và vốn chủ sở hữu

Bảng 1.1 : So sánh nợ và vốn chủ sở hữu



14

Tiêu chí



Vớn CSH



Nợ



Khơng phải trả lãi mà

chia lời tùy theo kết quả



Phải trả lãi cho khoản tiền



hoạt động kinh doanh và



đã vay, trừ các khoản nợ



Trách nhiệm



chính sách phân phối lợi



chiếm dụng.



thanh tốn



nhuận.



Doanh nghiệp sẽ bị phá



Doanh nghiệp khơng bị



sản nếu khơng thanh tốn



phá sản nếu không chia



được nợ và lãi.



lãi cho chủ sở hữu.

Thời hạn thanh



Khơng có thời hạn hồn



tốn



trả



Có thời hạn hồn trả

Lãi vay được tính vào chi

phí khi xác định lợi nhuận



ảnh hưởng đến



Lợi nhuận chia cho chủ sở



chịu thuế thu nhập, do



thuế thu nhập



hữu không làm giảm thuế



vậy,



doanh nghiệp



thu nhập doanh nghiệp.



lãi vay có tác động làm

giảm thuế thu nhập doanh

nghiệp.



Chi phí sử dụng



Chi phí sử dụng vốn chủ



Chi phí thấp hơn so với



vốn



sở hữu cao hơn chi phí sử



chi



dụng nợ vì rủi ro của chủ



phí sử dụng vốn chủ sở



sở hữu cao hơn so với chủ

nợ, cụ thể như sau:

- Chủ sở hữu được chia lợi

nhuận sau khi trả lãi vay



hữu

vì:

- Rủi ro đối với chủ nợ

thấp

hơn.



15

Tiêu chí



Vớn CSH

và nộp thuế.

- Trong trường hợp giải

thể, phá sản thì họ được

xếp thứ tự ưu tiên cuối

cùng khi phân



Nợ

- Nợ vay tạo ra lá chắn

thuế nên gánh nặng lãi

vay thực tế doanh nghiệp

phải chịu thấp hơn.



1.2. Quyết định nguồn vốn trong doanh nghiệp

Trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, quyết định đầu tư là quyết định khởi đầu

và quan trọng trong việc tạo ra giá trị doanh nghiệp, liên quan đến hình thành tổng

giá trị tài sản và giá trị từng yếu tố tài sản doanh nghiệp cần có, gồm tài sản lưu

động và tài sản cố định; mối quan hệ giữa các bộ phận tài sản.

Sau khi đưa ra được quyết định đầu tư cho một dự án bước kế tiếp DN cần xem xét

nguồn vốn để hình thành dự án đó chính là quyết định nguồn vốn. Quyết định nguồn

vốn liên quan đến phần bên phải của bảng cân đối kế toán, bao gồm những quyết

định lựa chọn nguồn tài trợ cho tài sản phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Quyết định nguồn vốn được chi tiết hóa thành các quyết định sau:

- Quyết định nguồn vốn ngắn hạn cân nhắc đến việc lựa chọn nguồn vốn vay

ngắn hạn hay khoản tín dụng thương mại từ nhà cung cấp. Nếu doanh nghiệp

sử dụng tín dụng thương mại thì sẽ mất đi cơ hội nhận được khoản chiết khấu

thanh toán và ngược lại, nếu doanh nghiệp muốn hưởng khoản chiết khấu này

thì có thể phải đi vay ngắn hạn để thanh toán nợ cho nhà cung cấp.

- Quyết định nguồn vốn dài hạn gồm quyết định sử dụng nợ dài hạn thông qua

phát hành trái phiếu hay vay dài hạn từ ngân hàng; phát hành trái phiếu hay

cổ phiếu; phát hành cổ phiếu thường hay cổ phiếu ưu đãi; phát hành cổ phiếu

cho cổ đông hiện hữu hay phát hành ra cơng chúng; hoặc để hình thành tài

sản cố định doanh nghiệp có thể mua hoặc thuê, và có thể lựa chọn giữa thuê

hoạt động và thuê tài chính.



16

Các quyết định nguồn vốn khơng xem xét độc lập mà ln cân nhắc trong mối quan

hệ hài hòa với quyết định đầu tư. Sự phù hợp giữa cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài

sản góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho hoạt động kinh doanh và khả năng thanh

tốn. Ngồi ra, khi nói đến nguồn vốn, người ra quyết định cần đánh giá chính xác

tác động của nợ đến suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và rủi ro tài chính của doanh

nghiệp, qua đó xác định mức độ sử dụng nợ hợp lý nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro

kiệt quệ tài chính và gia tăng lợi nhuận dành cho các chủ sở hữu.

1.3. Chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp

a) Chi phí sử dụng nợ:

Chi phí trả lãi vay được là chi phí được khấu trừ thuế thu nhập vì vậy chi phí sử

dụng nợ của cơng ty là rd(1-T) với rd lãi suất huy động nợ và T là thuế suất thuế thu

nhập của cơng ty.

b) Chi phí sử dụng vốn cổ phần ưu đãi:

Do cổ tức trả cho cổ phiếu ưu đãi cố định vĩnh viễn, dựa vào công thức định giá cổ

phiếu ta có:

rp = Dp/ (P0 – Chi phí phát hành)

c) Chi phí sử dụng vốn cổ phần thường huy động bằng cách giữ lại lợi nhuận:

Chi phí của lợi nhuận giữ lại re chính là chi phí cơ hội đối với việc sử dụng lợi nhuận

giữ lại của cổ đơng. Thay vì việc nhận cổ tức vào cuối năm, các cổ đông đồng ý cho

công ty giữ lại phần lợi nhuận này để tái đầu tư với điều kiện việc này sẽ tạo ra một

tỷ suất sinh lời trong tương lai cao hơn tỷ lệ chi trả cổ tức hiện tại. Như vậy, chi phí

của lợi nhuận giữ lại sẽ chính bằng tỷ suất sinh lời cổ đơng u cầu đối với cơng ty.

Có 2 phương pháp cơ bản để xác định chi phí này:

(i) phương pháp mơ hình tăng trưởng cổ tức:

P0 = D1/ (1+re) + … + Dn/ (1+ re)n = n Dt /(1+ re)t

Với cổ tức dự kiến tăng trưởng theo một tỷ lệ khơng đổi, ta có cơng thức:

P0 = D1 /(re – g) hay

re = D1/P0 + g



17

Trong đó: re là chi phí lợi nhuận giữ lại; D1 là cổ tức được nhận ở năm hiện

tại; P0 là giá cổ phiếu ở thời điểm hiện tại; g là tỷ lệ tăng trưởng dự tính.

Ta có thể dự báo tỷ lệ tăng trưởng dự tính (g) như sau:

G = (Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại)/ ROE = (1- Tỷ lệ chia cổ tức)/ ROE

(ii) phương pháp định giá tài sản CAPM:

re = rf + (rm – rf) β

Trong đó: re là chi phí lợi nhuận giữ lại; rf là lãi suất phi rủi ro (thơng thường

là lãi suất trái phiếu chính phủ); r m là lãi suất thị trường; β là hệ số rủi ro hệ

thống của tài sản đầu tư so với rủi ro bình quân của thị trường.

Ở những nước chưa có thị trường vốn phát triển như Việt Nam, các cơng ty

gặp khó khăn áp dụng mơ hình CAPM do thiếu thơng tin và hệ số rủi ro β. Do

đó để khắc phục thiếu sót này, có thể gộp chung đại lượng (r m – rf) β thành

thành phần bù rủi ro và viết lại công thức r e = rf + phần bù rủi ro. Tùy theo

mức độ rủi ro cao hay thấp của công ty hoặc dự án chúng ta ước lượng phần

bù rủi ro cao hay thấp tương ứng.

d) Chi phí sử dụng vốn cổ phần thường huy động bằng cách phát hành cổ phiếu

mới:

Với cách tiếp cận (i) ở trên ta có cơng thức điều chỉnh sau đây

rs = D1/P0(1- F) + g

Ở đây, F là chi phí phát hành tính theo tỷ lệ % cần để bán cổ phiếu mới. Đại lượng

P0(1- F) chính là giá thuần trên một cổ phần mà công ty nhận được.

e) Chi phí vốn trung bình WACC

Chi phí vốn của doanh nghiệp sẽ được tính tốn trên chi phí bình quân gia quyền của

các nguồn vốn mà công ty sử dụng.

WACC = wdrd(1-T) + wprp + were + wsrs

= D/A rd (1-T) + E/A re

Trong đó:



18

wd, wp, we, ws: lần lượt là tỷ trọng vay nợ, tỷ trọng cổ phần ưu đãi, tỷ trọng cổ phần

thường huy động bằng lợi nhuận giữ lại và tỷ trọng cổ phần thường huy động bằng

phát hành cổ phiếu mới trên tổng nguồn vốn,

rd, rp, re, rs: lần lượt là chi phí sử dụng vay nợ, chi phí sử dụng vốn cổ phần ưu đãi,

chi phí sử dụng vốn cổ phần thường huy động bằng lợi nhuận giữ lại và chi phí sử

dụng vốn cổ phần thường huy động bằng phát hành cổ phiếu mới,

D, E, A: lần lượt là phần nợ, phần vốn chủ sở hữu và tổng tài sản (cũng chính là tổng

nguồn vốn) của cơng ty

ke là chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu.

2. KHÁI NIỆM CƠ CẤU VỐN VÀ CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH CƠ CẤU

VỐN

2.1. Khái niệm cơ cấu vốn:

Cơ cấu vốn của công ty là quan hệ về tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong tổng

nguồn vốn của công ty.

2.2. Một số chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn

a) Tỷ số nợ (Debt Ratio): Phản ánh tỷ lệ nợ trên tổng tài sản:

Tỷ số Nợ = Nợ phải trả/ Tổng nguồn vốn

Chi tiết hơn, có thể có các chỉ tiêu sau:

Tỷ số tổng nợ trên tổng nguồn vốn (Total Debt to Total Capital) = Tổng nợ

phải trả/ Tổng nguồn vốn

Tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng nguồn vốn (Short Term Debt to Total Capital)

= Nợ ngắn hạn/ Tổng nguồn vốn

Tỷ số nợ dài hạn trên tổng nguồn vốn (Long Term Debt to Total Capital) =

Nợ dài hạn/ Tổng nguồn vốn

Tỷ số nợ phản ánh một đồng tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng có bao nhiêu

đồng được hình thành từ các khoản nợ.



19

Các chủ nợ thích tỷ số nợ thấp hơn, bởi vì tỷ lệ này càng thấp thì sẽ củng cố tấm

đệm chắn đỡ cho khả năng thua lỗ của các chủ nợ trong trường hợp công ty phá

sản.

Mặt khác, các cổ đơng lại muốn có nợ nhiều hơn bởi vì nợ làm tăng cao thu nhập

dự tính cho các cổ đơng.

b) Tỷ số tự tài trợ: Phản ánh trong một đồng tổng vốn thì có bao nhiêu đồng vốn

chủ sở hữu, tỷ số tự tài trợ lớn hơn 0,5 cho biết trong cơ cấu vốn doanh nghiệp sử

dụng nhiều vốn chủ sở hữu hơn so với nợ.

Tỷ số tự tài trợ = Vốn chủ sở hữu/ Tổng nguồn vốn

c) Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu: Phản ánh trong một đồng vốn chủ sở hữu thì

gánh bao nhiêu đồng nợ. Nếu tỷ số này lớn hơn 1 nghĩa là cơ cấu vốn nghiêng về

vay nợ, khả năng đảm bảo thanh toán nợ thấp và ngược lại.

Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Nợ/ Vốn chủ sở hữu

d) Tỷ số thanh toán lãi vay (Times-Interest-Earned (TIE)): Phản ánh khả năng

thanh tốn tiền lãi hàng năm của cơng ty

Tỷ số thanh toán lãi vay (TIE) = EBIT/ Lãi vay

(Thu nhập trước lãi vay và thuế/ lãi vay)

Tỷ số TIE cho biết đến giới hạn nào thì thu nhập hoạt động có thể giảm xuống

trước khi cơng ty khơng thể chia trả chi phí lãi vay hàng năm. Khơng có khả năng

trả lãi vay, cơng ty có thể bị chủ nợ kiện và có thể dẫn đến phá sản.

Tuy nhiên, tỷ số TIE cũng có 2 nhược điểm như sau: (1) lãi vay khơng chỉ là

khoản chi phí tài chính cố định duy nhất, cơng ty còn phải trả nợ theo lịch trình đã

định; (2) EBIT khơng thể hiện tất cả các dòng tiền khả dụng cho cơng ty dùng để

trả nợ, đặc biệt nếu cơng ty có chi phí khấu hao cao. Do đó cần thiết phải xây

dựng tỷ số đo lường khả năng trả nợ.

e) Tỷ số thanh toán nợ ngắn hạn (Liquidity Ratio): Tỷ số này cho thấy doanh

nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền để đảm bảo thanh toán

các khoản nợ ngắn hạn. Do đó, nó đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp.



20

Tỷ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = TSLĐ và đầu tư

ngắn hạn/Nợ ngắn hạn

f) Tỷ số khả năng trả nợ (EBITDA coverage): Tỷ số này cho thấy tồn bộ các

dòng tiền khả dụng để trả nợ trong phần tử số và tất cả các khoản chi trả tài chính

trong phần mẫu số:

Tỷ số khả năng trả nợ = (EBITDA + Thanh toán tiền thuê)/ (Lãi

vay + Nợ gốc + Thanh toán tiền thuê);

Tỷ số này rất hữu ích với các chủ nợ ngắn hạn. Trong khoảng thời gian ngắn,

nguồn khấu hao có thể được sử dụng để thanh toán nợ vay. Trong thời gian dài

hơn, những nguồn này được tái đầu tư duy trì nhà xưởng, máy móc cho các hoạt

động của cơng ty. Do vậy, các chủ nợ ngắn hạn thường quan tâm đế tỷ số thanh

tốn nợ vay (EBITDA coverage), còn các chủ nợ dài hạn thì quan tâm đến tỷ số

thanh tốn lãi vay (TIE)

g) Tỷ số đòn bảy tài chính: Tỷ số này cho biết Tổng vốn của doanh nghiệp gấp bao

nhiêu lần so với vốn chủ sở hữu, khi hệ số đòn bẩy tài chính lớn hơn 2 nghĩa là

trong cơ cấu vốn, nợ sử dụng nhiều hơn so với vốn chủ sở hữu, tức cơ cấu vốn

nghiêng về nợ.

Tỷ số đòn bảy tài chính = Tởng nguồn vốn/ vốn chủ sở hữu

2.3. Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn

Tỷ số đòn bảy tài chính = 1/ Tỷ số tự tài trợ = 1/ (1- Tỷ số nợ) =

= 1 + tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu

Thơng qua các chỉ tiêu nói trên có thể đo lường sự đóng góp của chủ sở hữu trong

tổng số vốn mà doanh nghiệp đang sử dụng. Nếu chủ sở hữu đóng góp nhiều vào

tổng nguồn vốn thì tỷ số tự tài trợ cao, tỷ số nợ thấp, hệ số đòn bẩy tài chính thấp và

hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu cũng thấp và ngược lại.

Dựa vào các chỉ tiêu về cơ cấu vốn, chủ nợ thấy được mức độ an tồn đối với những

món nợ đã cho vay. Một tỷ số nợ cao phản ánh vốn góp của chủ sở hữu chỉ chiếm

một phần nhỏ trên tổng nguồn vốn, điều này có thể trở thành động cơ khuyến khích



21

thái độ thiếu trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh, họ có

thể đưa ra những quyết định đầu tư liều lĩnh vượt ngồi khả năng kiểm sốt, đầu cơ

hoặc kinh doanh trái phép nhằm tìm kiếm suất sinh lời cao nhưng nếu thất bại thì

chủ doanh nghiệp chỉ mất ít, phần lớn rủi ro sẽ do các chủ nợ gánh chịu. Chính vì

vậy, các chủ nợ thường thích doanh nghiệp duy trì một tỷ số nợ vừa phải, tỷ số nợ

càng thấp thì các món nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá

sản.

Còn về phía chủ doanh nghiệp, tỷ số nợ cao có nghĩa là vốn đầu tư hoạt động kinh

doanh chủ yếu từ nợ vay. Chủ doanh nghiệp sẽ được lợi là vẫn nắm được quyền

kiểm sốt với một số vốn đóng góp rất ít hoặc khơng cần góp thêm vốn.

Ngồi ra, chủ doanh nghiệp còn có cơ hội gia tăng thêm suất sinh lời trên vốn chủ sở

hữu khi hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt (tỷ suất lợi nhuận trên số vốn vay lớn hơn

lãi suất vay). Như vậy, chủ doanh nghiệp cần xem xét từng trường hợp tương quan

giữa lãi suất tiền vay và tỷ lệ hoàn vốn để ra quyết định một tỷ số nợ hợp lý. Doanh

nghiệp có tỷ lệ hồn vốn thấp hơn so với lãi suất vay sẽ ít bị lỗ hơn nếu mức độ sử

dụng nợ thấp; hoặc doanh nghiệp có cơ hội gia tăng lợi nhuận rất nhanh nếu duy trì

mức độ sử dụng nợ cao với tỷ lệ hoàn vốn lớn hơn lãi suất vay.

Đối với nhà đầu tư, một doanh nghiệp có tỷ số nợ cao thì rủi ro tài chính cao, vì vậy

họ sẽ đòi hỏi suất sinh lời lớn hơn để có mức đền bù tương xứng với những rủi ro

này và ngược lại. Đây là một căn cứ quan trọng giúp các nhà đầu tư xác định giá trị

nội tại của các chứng khốn và ra quyết định. Nếu doanh nghiệp khơng đáp ứng

được suất sinh lời kỳ vọng nói trên thì họ sẽ không chấp nhận đầu tư vốn hoặc sẽ tìm

cách rút vốn và ngược lại.

Từ phân tích trên cho thấy gia tăng lợi nhuận là điều mong muốn của các chủ nợ,

chủ sở hữu và nhà đầu tư nhưng ngược lại họ khơng thích rủi ro; vì vậy các quyết

định tài chính cần được xem xét dựa trên sự cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU VỐN CỦA CÔNG TY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×