Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI TRỢ CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI TRỢ CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trang 59



rằng chính sự hào phóng của các nhà đầu tư trên thị trường vốn là một động lực, hay

thậm chí là sự kích thích, đối với sự bành trướng về quy mô hoạt động của các doanh

nghiệp tham gia trên thị trường chứng khốn. Khơng nhiều trong số các cơng ty tăng

vốn dùng nguồn tài chính dồi dào này tài trợ cho hoạt động kinh doanh chính của họ,

mà thay vào đó là đầu tư hoạt động đầu tư tài chính hay bất động sản,…Chính vì vậy

mà khó có thể xác định một mối tương quan rõ ràng giữa tốc độ tăng trưởng và cấu trúc

vốn của các doanh nghiệp này.

Tuy nhiên, tác động (+) giữa tỷ lệ nợ dài hạn và tốc độ tăng trưởng với ý nghĩa

thống kê ở mức 10% cũng phần nào gợi ý mối tương quan giữa hai chỉ tiêu này.

Thứ hai, biến TAX có tương quan (-) đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh

nghiệp. Về mặt lý thuyết, điều này là khơng phù hợp, bởi vì một mức thuế suất cao hơn

sẽ làm cho lợi ích của tấm chắc thuế rõ ràng hơn và do vậy sẽ làm cho việc sử dụng nợ

càng trở nên hấp dẫn. Có thể lập luận này sẽ bị phản bác vì lý do rằng các doanh

nghiệp Việt Nam khơng thích thú đối với sự đánh đổi giữa lợi ích của tấm chắn thuế và

rủi ro phá sản; song tác giả cho rằng có một động lực khác làm cho rủi ro phá sản của

bị giới hạn, mặc dù khá mơ hồ, đó là vấn đề về ý thức hay mức độ chấp nhận của các

chủ doanh nghiệp về vấn đề phá sản.

Mặt khác, tác giả cho rằng, chính sách ưu đãi thuế cũng là một phần lý do.

Trong mẫu quan sát, rất nhiều các công ty cổ phần được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập

doanh nghiệp theo luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi năm 1998), hay từ

chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa,...Thống

kê mơ tả cho thấy thuế suất biên tế của các doanh nghiệp trong mẫu quan sát ở mức

~11,5%, thấp hơn rất nhiều so với mức thuế suất 28% của thuế thu nhập doanh nghiệp

trong giai đoạn này. Như vậy, rất có thể do chính sách ưu đãi thuế này, ảnh hưởng của

tấm chắn thuế trở nên mờ nhạt.

Thứ 3, các mối tương quan (+) giữa biến UNI và biến STD, tương quan (-) giữa

biến UNI và LTD cho thấy đặc điểm đặc tính riêng của sản phẩm khơng ảnh hưởng

một các thống nhất đến cấu trúc vốn của các công ty Việt Nam. Một số kết quả nghiên

cứu thực nghiệm cho thấy đặc tính riêng của sản phẩm tác động (+) hoặc (-) đối với tỷ



Trang 60



lệ nợ. Trong bài nghiên cứu này, biến UNI được đo lường bằng tỷ lệ giá vốn hàng bán

trên doanh thu thuần, nghĩa là kết quả hồi quy cho thấy đặc tính riêng của sản phẩm tác

động (-) đối với nợ ngắn hạn và tác động (+) đối với nợ dài hạn.

Sự bất nhất này khó có thể được giải thích một cách thỏa đáng. Tác giả cho rằng

lý do thuyết phục hơn cả là do việc sử dụng chỉ tiêu đo lường cho biến này chưa phù

hợp. Như đã trình bày, tác giả tạm sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ giá vốn hàng bán trên doanh

thu để đo lường đặc tính riêng của sản phẩm, trong khi đơn vị đo lường phù hợp nhất

(theo ý tác giả) nên là tỷ trọng chi phí nghiên cứu và phát triển trong cơ cấu chi phí của

doanh nghiệp – mà tác giả khơng thể thu thập được.

Thứ 4, biến VOL khơng có tương quan với tỷ lệ nợ trong cơ cấu vốn, nghĩa là

rủi ro kinh doanh không gây ảnh hưởng đến quyết định tài trợ của doanh nghiệp. Lý

thuyết cho thấy doanh nghiệp có rủi ro kinh doanh càng cao càng ít sử dụng nợ. Một

kết quả khác ở Việt Nam, theo tác giả, là do các nguyên nhân sau đây:

− Ý thức, cũng như trình độ quản trị tài chính của các doanh nghiệp chưa cao, các

doanh nghiệp Việt Nam còn khá xa lạ với các chiến lược quản trị tài chính.

− Quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng và doanh nghiệp được xây dựng trên

những cơ sở không thực sự khách quan và khoa học. Ở Việt Nam, nhiều ngân

hàng thương mại nhà nước đầu tư tập trung quá nhiều vào các doanh nghiệp nhà

nước mà phần lớn các doanh nghiệp này có thứ bậc xếp hạng tài chính thấp 7.

Riêng đối với các công ty cổ phần trong mẫu quan sát, sự kế thừa các quan hệ

tín dụng từ khi các cơng ty này còn là các doanh nghiệp nhà nước cũng là một

nguyên nhân lý giải vì sao yếu tố rủi ro kinh doanh không là tác nhân ảnh hưởng

đến các khoản vay nợ của doanh nghiệp.

− Sự thiếu vắng các tổ chức xếp hạng năng lực tài chính. Nguyên nhân này cũng

khá gần gũi với hiện trạng chất lượng tín dụng của các ngân hàng chưa cao.



7



Nguyễn Việt Hùng (2008), Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng

thương mại ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân [6]



Trang 61



III.1.2. Cấu trúc vốn nghiêng nhiều về vốn cổ phần, đồng thời nợ ngắn hạn

được sử dụng nhiều hơn nợ dài hạn

Thống kê mô tả cho thấy tỷ trọng nợ trong tổng nguồn vốn bình qn của các

cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam ở mức 23%, điều này cũng có

nghĩa là vốn cổ phần được ưa thích sử dụng nhiều hơn.

Việc sử dụng nhiều vốn cổ phần sẽ làm tăng áp lực chi trả cổ tức hằng năm đối

với các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, theo lý thuyết về chi phí đại diện, vốn cổ phần

nhiều cũng làm hạn chế hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Thống kê mô tả cũng cho thấy nợ ngắn hạn chiếm đến 14% trong tổng nguồn

vốn của các doanh nghiệp Việt Nam, và 9% còn lại là nợ dài hạn. Điều này cho thấy

các doanh nghiệp Việt Nam ưa thích sử dụng nợ ngắn hạn hơn, và mặt khác cho thấy

các cơng cụ tài chính khác chưa được các doanh nghiệp khai thác hiệu quả.

Bảng 3.1: Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thuộc các nước đang phát triển



Brazil

India

Korea

Malaysia

Mexico

Vietnam



LTD/TA

9,70%



STD/TA

20,60%



D/TA

30,30%



LTD/E

13.90%



STD/E

42,10%



D/E

56,00%



34,00%

49,40%

13,10%

13,80%

9,00%



33,10%

24,00%

28,70%

20,90%

14,00%



67,10%

73,40%

41,80%

34,70%

23,00%



74.50%

105.80%

27.80%

40.10%

38.00%



185,00%

239,10%

83,30%

41,70%

53,00%



259,50%

344,90%

111,10%

81,80%

91,00%



Ghi chú: LTD/TA, STD/TA, D/TA được tính bằng cách lần lượt lấy nợ dài hạn, nợ ngắn hạn và

tổng nợ chia cho tổng tài sản; LTD/E, STD/E, D/E được tính bằng cách lần lượt lấy nợ dài hạn, nợ

ngắn hạn và tổng nợ chia cho vốn chủ sở hữu.



Trang 62



80%

STD/TA



LTD/TA



60%



40%



20%



0%

Brazil



India



Korea



Malaysia



Mexico



Vietnam



Hình 3.1: Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thuộc các nước đang phát triển

Nguồn: Booth, Aivazian, Kunt and Maksimovic (2001), Capital structures in developing countries,

The Journal of Finance – Vol LVI No 1 [16]; và tính tốn của tác giả (số liệu Việt Nam) dựa trên

số quan sát sử dụng nghiên cứu thực nghiệm.



Nợ ngắn hạn có ưu điểm là dễ huy động hơn, rủi ro lãi suất và tỷ giá ít hơn hoặc

dễ dự đoán hơn; tuy nhiên lại gây áp lực lên các hệ số về khả năng thanh toán của

doanh nghiệp.

Đối với việc ít sử dụng các nguồn tài trợ bằng nợ mang tính dài hạn của các

doanh nghiệp Việt Nam, tác giả cho rằng lý do quan trọng hơn hết là do những khiếm

khuyết của bản thân thị trường tài chính và thói quen cũng như mức độ hiểu biết của

doanh nghiệp đối với loại hình tài trợ này. Theo quan sát các báo cáo tài chính, cơng cụ

th tài chính - một hình thức của tài trợ bằng nợ dài hạn - được rất ít các doanh nghiệp

sử dụng. Trong khi đó, thị trường trái phiếu chỉ là địa chỉ cung cấp vốn quen thuộc với

các ngân hàng thương mại và một số doanh nghiệp lớn như Công ty Cổ phần phát triển

đô thị Kinh Bắc (KBC), Tập đồn Hòa Phát (HPG), Tập đồn Cơng nghiệp Tàu Thủy

Việt Nam (Vinashin), Cơng ty Cổ phần Hồng Anh Gia Lai (HAG), Cơng ty Cổ phần

Chứng khốn Sài Gòn (SSI),…



III.2. ĐỊNH HƯỚNG CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

III.2.1. Đẩy mạnh phát triển thị trường vốn

Những hạn chế của thị trường vốn là một trong số các tác nhân mang tính hệ



Trang 63



thống ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam. Trên thực tế, với đa

số các doanh nghiệp, kênh tín dụng ngân hàng vẫn là lựa chọn hàng đầu để thu xếp các

khoản tài trợ nợ dài hạn; việc phát hành trái phiếu hay sử dụng công cụ thuê tài chính ít

được các doanh nghiệp biết đến và sử dụng, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa

và nhỏ.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp hiện nay còn quá nhiều hạn chế; việc chưa

có cơ sở để xác định lãi suất phát hành, thiếu tổ chức định mức tín nhiệm chuyên

nghiệp, tâm lý e ngại về vấn đề minh bạch hóa thơng tin của các doanh nghiệp là rào

cản cho sự phát triển của thị trường 8. Bên cạnh đó, thị trường thứ cấp chưa phát triển

như thị trường cổ phiếu (hàng hóa ít, thanh khoản kém, giao dịch tẻ nhạt…) càng làm

cho các doanh nghiệp e ngại sử dụng phương án tài trợ này hơn.

Đối với công cụ thuê tài chính, quan sát các báo cáo tài chính của các doanh

nghiệp cho thấy số lượng các cơng ty sử dụng hình thức tài trợ này rất ít. Tính đến hiện

nay Việt Nam chỉ có 13 cơng ty cho thuê tài chính hoạt động 9, là một con số quá

khiêm tốn.

Chính phủ đã ban hành “Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm

2010 và tầm nhìn đến năm 2020”. Theo đề án này, sẽ tập trung phát triển thị trường

vốn đa dạng để đáp ứng nhu cầu huy động vốn và đầu tư của mọi đối tượng trong nến

kinh tế. Điều này là phù hợp với quy luật phát triển và nhu cầu thực tế.



III.2.2. Về mặt chính sách tài chính của doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn bộc lộ rõ

nhiều hạn chế, mà chủ yếu là do tính chất bộc phát, thiếu việc hoạch định khoa học.

Theo tác giả, để hạn chế phần nào các khiếm khuyết trong cơng tác quản trị tài chính

doanh nghiệp (như các bất cập đã đề cập ở nội dung trước), các doanh nghiệp nên tuân



8



Nguyễn Việt Trung (2009), Các giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam, Tạp chí phát triển

kinh tế số 224 tháng 6/2009 [14]

9

Phụ lục 9



Trang 64



thủ một vài yêu cầu sau đây:

a/ Xây dựng một cấu trúc vốn mục tiêu phù hợp

Rõ ràng rằng không thể có một cơng thức chung để xác định cấu trúc vốn tối ưu

cho tất cả các doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp đều nên có một cấu trúc vốn mục tiêu

riêng của mình, phù hợp với những tiêu chí chung của ngành, của thị trường tài chính

và đặc điểm riêng của mình. Việc xây dựng một cấu trúc vốn mục tiêu, hay cũng chính

là cấu trúc vốn tối ưu cho doanh nghiệp nên được xem xét trong mối tương quan của

nhiều yếu tố sau đây:

-



Rủi ro kinh doanh

Rủi ro kinh doanh nên là một trong các yếu tố được cân nhắc khi xây dựng cấu



trúc vốn cho doanh nghiệp. Như đã trình bày, thuật ngữ “rủi ro kinh doanh” được hiểu

như là rủi ro biến động thu nhập của doanh nghiệp, mà điều này phụ thuộc rất nhiều

vào sự biến động của giá cả hàng hóa (lạm phát), mức độ sử dụng đòn bẩy hoạt động,

tính đa dạng của các sản phẩm – dịch vụ cung cấp, hay khả năng mở rộng thị trường

tiêu thụ,…

Tùy theo những đặc điểm riêng của doanh nghiệp mình, các giám đốc tài chính

nên lựa chọn một sự cân đối hợp lý. Điển hình như doanh nghiệp không nên sử dụng

quá nhiều nợ song song cùng với tỷ lệ đòn bẩy hoạt động cao, hay một tỷ lệ nợ cao

cũng không phải là một lựa chọn sáng suốt trong một giai đoạn nền kinh tế mà chỉ số

giá có quá nhiều biến động,…Những yếu tố này đã được trình bày trong chương I của

bài nghiên cứu.

-



Vị thế tài chính của doanh nghiệp

Một cơng ty có vị thế tài chính sẽ dễ dàng huy động vốn hơn, và điều này đặc



biệt có ý nghĩa trong những trường hợp khẩn cấp. Nghĩa là doanh nghiệp không nhất

thiết phải duy trì một tỷ lệ vốn cổ phần cao đến mức có thể trang trải cho tất cả các dự

án đầu tư của mình, trong khi họ có khả năng vay nợ tại bất cứ khi nào cần thiết. Các

giám đốc tài chính ln phải nhớ rằng, việc duy trì (hoặc thậm chí là phải làm gia tăng)

mức chi trả cổ tức hàng năm là một gánh nặng tài chính thực sự, cơng ty nên phát huy



Trang 65



lợi thế của đòn bẩy tài chính nếu như điều này là có thể thực hiện và có thể kiểm sốt.

-



Khai thác lợi ích của tấm chắn thuế

Mặc dù việc sử dụng nợ làm gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp, song lợi ích từ



tấm chắn thuế rõ ràng là hiện hữu và nên được khai thác một cách hợp lý để làm gia

tăng giá trị doanh nghiệp.

-



Sử dụng linh hoạt các cơng cụ tài chính trên thị trường vốn

Mỗi một cơng cụ tài chính đều có một thế mạnh riêng, hoặc là có tính thích hợp



khác nhau đối với các thời điểm khác nhau cho mỗi giai đoạn phát triển của doanh

nghiệp. Các giám đốc tài chính nên “cho phép” mình có thêm nhiều lựa chọn trong các

hình thức huy động vốn, mà điển hình là hai cơng cụ phổ biến khác khác với vay ngân

hàng và phát hành cổ phần là thuê tài chính hay phát hành trái phiếu.

Việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu giúp doanh nghiệp hạn chế

được vấn đề pha loãng cổ phiếu, tận dụng được lợi thế về ưu đãi thuế, chủ động hơn

trong việc cân đối giữa các lợi ích như thời hạn trả nợ hay chi phí sử dụng vốn… Bên

cạnh đó, th tài chính có lợi thế rất tốt để tài trợ cho các dự án đầu tư dây chuyền cơng

nghệ hay cải tiến máy móc. Các doanh nghiệp cũng có thể tìm nguồn tài trợ khác thơng

qua việc liên kết liên doanh với các đối tác đầu tư, hoặc các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng

là một địa chỉ được ưa thích đối với nhiều doanh nghiệp đang trên đà tăng trưởng mạnh

ở nhiều nước trên thế giới.

-



Cấu trúc vốn tương quan với mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp

Nhu cầu vốn của doanh nghiệp tại mỗi giai đoạn tăng trưởng là khác nhau,



thường do tính biến động của các yếu tố như dòng tiền, nhu cầu đầu tư và sự phát triển

thị phần quyết định. Cũng do ảnh hưởng của chu kỳ sống của doanh nghiệp mà các yếu

tố về rủi ro, vị thế tài chính,…cũng thay đổi, tạo nên những ưu thế hay hạn chế khác

nhau trong vấn đề huy động vốn. Doanh nghiệp nên hiểu rõ và khai thác đặc điểm của

từng giai đoạn phát triển của mình, từ đó mà có những quyết định tài trợ cho phù hợp.



Trang 66



Hình 3.2: Nhu cầu vốn và quyết định tài trợ theo chu kỳ sống của doanh nghiệp

Nguồn: Aswath Damadaran 1997, Corporate finance: theory and practice [15]



-



Quyết định tài trợ trong mối tương quan với chính sách cổ tức

Một chính sách cổ tức an tồn và ổn định sẽ góp phần giúp các giám đốc tài



chính hướng đến và duy trì cấu trúc vốn mục tiêu của của cơng ty dễ dàng hơn. Bởi vì

chính sách cổ tức ảnh hưởng trực tiếp đến các vấn đề về vốn và những đánh giá của

nhà đầu tư về triển vọng phát triển của doanh nghiệp, tính chất an tồn giúp cơng ty

khơng phải chịu áp lực tài chính nặng nề ngay cả trong giai đoạn biến động thu nhập,

và sự ổn định góp phần củng cố niềm tin của cổ đơng về dòng thu nhập trong tương lai.

Với đa số các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, áp

lực chi trả cổ tức theo kỳ vọng của thị trường đang là vấn đề hiện hữu. Rất nhiều doanh

nghiệp có các quyết định chi trả cổ tức khơng phù hợp với tình hình tài chính, nhu cầu

vốn của mình. Các doanh nghiệp nên xem xét việc xây dựng một chính sách cổ tức phù

hợp hơn, dựa theo các cơ sở về dòng tiền tự do, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp,



Trang 67



và đặc biệt là trong mối tương quan với cấu trúc vốn mục tiêu.

-



Và những tiêu chuẩn khác

Ngoài việc khai thác tối đa các lợi thế của riêng mình, mỗi doanh nghiệp nên có



những điều chỉnh chính sách tài trợ phù hợp với tiêu chuẩn ngành. Nói chung, các

doanh nghiệp có khuynh hướng tập trung sát tỷ lệ nợ của ngành có thể phản ánh sự

kiện là phần lớn rủi ro kinh doanh mà một doanh nghiệp gặp phải là do ngành hoạt

động ấn định. Nếu một doanh nghiệp chấp nhận một cấu trúc vốn khác biệt với mức

bình quan ngành, họ phải thuyết phục các thị trường tài chính là rủi ro kinh doanh của

mình khác biệt đáng kể với rủi ro của một doanh nghiệp trung bình trong ngành để đảm

bảo cho cấu trúc vốn khác biệt này.

b/ Đẩy mạnh hiệu quả hoạt động quản trị tài chính

-



Xây dựng mục tiêu cho hoạt động quản trị tài chính

Tài chính doanh nghiệp phải ln hướng đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh



nghiệp. Mục tiêu này không đồng nghĩa với việc tối đa hóa lợi nhuận, mà cần phải có

sự cân đối giữa lợi nhuận trong ngắn hạn và sự phát triển bền vững trong tương lai.

-



Tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp và hiệu quả

Các doanh nghiệp nên xây dựng cho mình một tiêu chuẩn đánh giá chất lượng



và hiệu quả của từng hoạt động (kinh doanh, tài chính, …), trên cơ sở đó mà tổ chức

hoạt động kiểm soát cho phù hợp. Kiểm soát nội bộ giúp doanh nghiệp nhận diện kịp

thời các hạn chế hay các rủi ro tiềm ẩn.

-



Tổ chức hoạt động và cơ cấu nhân sự phù hợp với hoạt động quản trị tài chính

Với nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, chức năng của bộ phận tài chính



còn bị bỏ ngỏ hay đánh đồng với bộ phận kế toán. Việc thiếu hoạch định chức năng và

tổ chức nhân sự không phù hợp làm hạn chế các hoạt động quản trị tài chính. Do vậy,

tùy vào đặc điểm của mình (như quy mơ hoạt động, lĩnh vực hoạt động,…) các công ty

nên tổ chức hoạt động quản trị tài chính cho phù hợp với mục tiêu đề ra.

-



Khai thác tối đa thế mạnh của các cơng cụ phòng ngừa rủi ro tài chính



Trang 68



Hiện ở Việt Nam, việc sử dụng các sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài

chính còn nhiều hạn chế. Có nhiều ngun nhân giải thích điều này, nhưng chủ yếu là

do nhận thức của doanh nghiệp, sự thiếu am hiểu và những khó khăn về mặt pháp lý 10.

Hoạt động quản trị tài chính chỉ hiệu quả khi có sự cân bằng giữa lợi ích và chi

phí thực hiện. Các doanh nghiệp có những đặc thù kinh doanh khác nhau sẽ đối mặt với

các rủi ro tài chính khác nhau, và tùy theo mức độ ảnh hưởng của các rủi ro này đối với

kết quả kinh doanh của mình mà doanh nghiệp nên lựa chọn hình thức “bảo hiềm”

tương xứng. Ngoài ra, xét trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập và

phát triển, những cơ hội lớn chắc chắn đi kèm với các yếu tố rủi ro, các cơng cụ phòng

ngừa rủi ro tài chính càng trở nên quan trọng đối với các doanh nghiệp.



10



PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc Trang (2008), Doanh nghiệp Việt Nam quản trị rủi ro tài chính như thế nào,

Tạp chí phát triển kinh tế số 212 tháng 6/2008 [13]



Trang 69



KẾT LUẬN CHƯƠNG III

Chương III đưa ra những nhận định của tác giả về những điểm bất cập trong cấu

trúc vốn của doanh nghiệp Việt Nam, và những kiến nghị về giải pháp hoàn thiện.

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, tỷ lệ nợ của các doanh nghiệp Việt

Nam khơng có mối tương quan với tốc độ tăng trưởng và rủi ro kinh doanh của doanh

nghiệp và có tương quan (-) với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp. Ngoài ra, cấu

trúc vốn nghiêng nhiều về vốn cổ phần và nợ ngắn hạn được ưa thích sử dụng nhiều

hơn.

Các bất cập này không chỉ xuất phát từ bản thân các doanh nghiệp, mà còn do

ảnh hưởng của đặc điểm thị trường vốn chưa phát triển cao ở Việt Nam. Do vậy, tác giả

kiến nghị các giải pháp đẩy mạnh phát triển thị trường vốn và hồn thiện chính sách tài

chính của doanh nghiệp để góp phần xây dựng đặc điểm cấu trúc vốn của doanh nghiệp

Việt Nam hoàn thiện hơn và hướng đến một cấu trúc vốn tối ưu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI TRỢ CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×