Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trang 29



Giai đoạn năm 2001-2008 được xem là một trong ba chu kỳ kinh tế của Việt

Nam hình thành kể từ sau năm 1986 1. Năm 1997, kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng

của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, suy thoái kéo dài từ thời gian này cho đến

năm 2001 thì bắt đầu hồi phục. Các năm sau đó là giai đoạn tăng trưởng cho đến khi

nền kinh tế lại bị suy giảm từ giữa năm 2008 sang đến năm 2009.

Các năm 2000-2007 chứng kiến sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế Việt

Nam, với tốc độ tăng trưởng GDP luôn ở mức lớn hơn con số 7%. Chính tính khuyến

khích và cởi mở hơn của hệ thống pháp lý từ những năm trước đã cho những tác động

chín muồi và tích cực, và cộng hưởng với sự phát triển chung của nền kinh tế Thế giới

đã mang lại những kết quả tăng trưởng đáng khen ngợi này.



8.5%



8.4%

7.3%



7.8%



8.2%



7.1%



6.2%



5.3%



Hình 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam qua các năm

Nguồn: ADB, GSO



Năm 2001, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết. Theo Hiệp

định này, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường tài chính ngân hàng theo một lộ trình

nhất định. Cũng giai đoạn này, nhiều sự đổi thay đã diễn ra đối với hệ thống ngân hàng,

như cơ cấu lại hoạt động của ngân hàng thương mại, sửa đổi luật tổ chức tín dụng,…

đóng góp đáng kể cho nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng tín dụng ở các năm này đạt

quanh mức 30%, đỉnh điểm năm 2007 đạt hơn 50%.



1



Nguyễn Trí Bảo (2009), Chu kỳ của nền kinh tế Việt Nam, Thời Báo Kinh tế Sài Gòn số 10/2009 [1]



Trang 30



50.2%



40.0%



38.0%



32.4%

31.0%

25.5%

23.0%

21.0%



2002



2003



2004



2005



2006



2007



2008



2009E



Hình 2.2: Tốc độ tăng trưởng tín dụng của Việt Nam qua các năm

Nguồn: ADB, GSO



Cùng với quá trình hội nhập, các thành phần kinh tế đều được khuyến khích đầu

tư và phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển mang tính đột phá hơn cả là vốn đầu tư trực

tiếp từ nước ngoài (FDI) và các thành phần kinh tế tư nhân trong nước. Hai thành phần

kinh tế này liên tục chứng tỏ được nhiều ưu điểm hơn về tính năng động, khả năng

thích ứng và tính hiệu quả; đã đóng vai trò hết sức tích cực trong việc bổ sung các

nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

nghìn tỷ đồng

750



FDI

Ngồi Nhà nước

500



Nhà nước



250



0



Hình 2.3: Vốn đầu tư của các thành phần kinh tế tại Việt Nam

Nguồn: ADB, GSO



Bắt nhịp với sự phát triển sôi động của nền kinh tế, thị trường chứng khoán ra

đời và phát triển bùng nổ, trở thành một kênh huy động vốn quan trọng và “thời sự”. Số



Trang 31



lượng các công ty tham gia huy động vốn thơng qua thị trường chứng khốn tăng lên

rất nhanh. Có khoảng 415 cơng ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán là Sở giao dịch

chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khốn Hà Nội, với mức

vốn hóa chiếm đến gần 55% GDP của cả nước ở thời điểm cuối năm 2009. Bên cạnh

đó, nguồn cung hàng hóa cho thị trường này được cổ vũ mạnh mẽ từ tiến trình cổ phần

hóa các doanh nghiệp Nhà nước. Rất nhiều các công ty cổ phần mới được hình thành từ

quá trình chuyển đổi này trở thành các công ty đại chúng hoặc các doanh nghiệp niêm

yết trên hai sàn chứng khoán Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh do sức hút mãnh liệt từ

những phiên tăng điểm liên tục của thị trường chứng khoán trong giai đoạn 2006-2007.

Nhìn chung, kể từ sau khi hết bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính

Châu Á, kinh tế Việt Nam đã có một giai đoạn tăng trưởng rất tốt cho đến khi bị

“chững lại” kể từ giữa năm 2008 do bùng nổ lạm phát trong nước và cuộc khủng hoảng

tài chính Thế giới.



II.2. TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NỀN KINH TẾ

ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

Tại Việt Nam, không nhiều năm trước đây, quản trị tài chính chưa được đánh

giá đúng tầm quan trọng của nó. Đối với nhiều doanh nghiệp, việc lựa chọn nguồn vốn

đáp ứng nhu cầu kinh doanh được hình thành một cách khá tự phát, mà ít khi dựa trên

những nguyên lý cơ bản của quản trị tài chính hiện đại 2. Khái niệm về cấu trúc vốn tối

ưu hay những quan điểm về vấn đề tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, rủi ro tài

chính,…khơng được để ý, cân nhắc một cách tương xứng với tầm quan trọng của

chúng đối với kết quả kinh doanh và định hướng chiến lược phát triển của doanh

nghiệp.

Cùng với sự thiếu vắng cấu trúc vốn mục tiêu trong hoạt động quản trị tài chính,

các yếu tố vĩ mơ như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa hay sự phát triển của thị



2



Phan Thị Bích Nguyệt (2008), Nợ và vấn đề phá sản của các doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Kinh tế phát

triển số 212 tháng 6/2008 [9]



Trang 32



trường vốn,… có thể sẽ là một phần nguyên nhân lý giải các quyết định tài trợ của các

doanh nghiệp Việt Nam.



II.2.1. Thị trường chứng khoán phát triển mạnh

Lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, từ khi ra đời cho đến

nay, cho thấy giai đoạn thăng hoa nhất của thị trường là các năm 2006 và 2007. Sự phát

triển bùng nổ của thị trường chứng khốn có một mối tương quan khá “lạ lùng” với ý

nghĩa của việc phát hành cổ phần.

Trong số nhiều các công ty tham gia huy động vốn trên thị trường chứng khoán

trong giai đoạn lịch sử này, ngoài nhu cầu vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh

doanh, một lý do khác nữa mà các cơng ty cổ phần lựa chọn hình thức huy động vốn

thơng qua thị trường chứng khốn là những khoản thặng dư khổng lồ thu được. Cổ

phiếu được phát hành và dễ dàng được bán ra với giá cao hơn rất nhiều so giá trị thật

của chúng. Với những thuận lợi như vậy, các doanh nghiệp rõ ràng là sẽ ưu tiên hơn

đối với phát hành thêm cổ phần thay vì dùng đến các khoản vay của ngân hàng.

Ngay cả đối với q trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, sự phát triển của

thị trường chứng khoán cũng là một động lực thúc đẩy tiến trình này diễn ra mau chóng

hơn. Có rất nhiều các cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam xuất thân

từ doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa và khơng ít trong số các doanh nghiệp

này đã đẩy nhanh tốc độ chuyển đổi loại hình doanh nghiệp với mong muốn tận dụng

được sự hào hứng quá mức của thị trường.

Những đặc điểm này được tác giả trình bày, chỉ với suy nghĩ rằng, đối với các

công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn này, vốn cổ

phần trở thành một lựa chọn được ưu ái hơn so với các nguồn tài trợ khác. Số liệu của

các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khốn Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy,

trong giai đoạn các năm từ năm 2005 đến năm 2007, tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu

cao hơn so với tốc độ tăng trưởng nợ (riêng trong năm 2008, xu hướng này là ngược lại

do thị trường chứng khoán suy giảm liên tục dưới tác động của các biến động tiêu cực

của cuộc khủng hoảng tài kinh tế trong nước và thế giới). Tất nhiên, biểu hiện này còn

là kết quả của hàng loạt nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nữa; song thuận lợi



Trang 33



từ sự phát triển bùng nổ của thị trường chứng khoán trong giai đoạn này là một lý do

khơng thể bỏ qua.



Hình 2.4: Tăng trưởng Nợ và Vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE

Nguồn: HOSE, SBS, tính tốn của tác giả



II.2.2. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa phải là một kênh huy

động vốn có sức hút

So với sự phát triển nóng của thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu Việt

Nam tỏ ra “chậm chạp” hơn và còn mang tính cục bộ.

Từ năm 2005, thị trường trái phiếu bắt đầu có chuyển biến đáng chú ý. Các đợt

đấu thầu trái phiếu diễn ra một cách tấp nập hơn, các thành viên tham gia đấu thầu

cũng gia tăng, và giá trị giao dịch trên thị trường thứ cấp cũng được cải thiện đáng kể.

Mặc dù vậy, sự phát triển này chỉ chủ yếu tập trung vào trái phiếu chính phủ.

Quy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp rất nhỏ. Rất ít doanh nghiệp

tham gia phát hành trái phiếu, hoặc có chăng chỉ là các doanh nghiệp lớn đầu ngành

mới sử dụng kênh huy động vốn này. Những e ngại về vấn đề minh bạch thông tin của

tổ chức phát hành, sự thiếu vắng các tổ chức tư vấn và đầu tư chuyên nghiệp và tính

thanh khoản kém làm cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp khá tẻ nhạt.

So với hình thức vay vốn qua kênh tín dụng ngân hàng, rõ ràng là sức hút của

kênh trái phiếu vẫn còn khá khiêm tốn, mặc dù rằng hình thức huy động vốn này vẫn

có những thế mạnh đáng chú ý. Số liệu thống kê cho thấy, tổng dư nợ trái phiếu so với



Trang 34



GDP của các quốc gia đang phát triển khác cao hơn rất nhiều so với Việt Nam (xem

hình 2.5). Sự kém phát triển của thị trường trái phiếu nói chung và riêng của thị trường

trái phiếu doanh nghiệp dẫn đến kết quả là kênh huy động vốn tích cực này gần như

vắng mặt hoàn toàn trong các quyết định tài trợ của các doanh nghiệp Việt Nam, và hai

hình thức huy động vốn khác được sử dụng phổ biến hơn chính là phát hành cổ phiếu

hoặc kênh tín dụng ngân hàng. Đây cũng là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến cấu

trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam.

Vietnam

Thailand

Malaysia

Singapore

Trung Quốc

0%



30%



60%



90%



Hình 2.5: Tổng dư nợ trái phiếu so với GDP vào cuối năm 2008

Nguồn: http://www.bsc.com.vn/News/2009/9/26/58744.aspx



II.2.3. Chính sách cổ tức không hợp lý

Một trong các đặc điểm của một thị trường chứng khốn mới phát triển và tính

chất non trẻ trong chính sách quản trị tài chính của các doanh nghiệp trong quá trình

hội nhập và phát triển là tính bất hợp lý trong chính sách cổ tức của các doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp Việt Nam cũng không ngoại lệ.

Tỷ lệ chi trả cổ tức của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt

Nam hiện đang ở mức rất cao. Tỷ lệ lợi nhuận dùng chi trả cổ tức bình qn của các

cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay ở mức 40%-50%;

trong đó, có khoảng 20% cơng ty chi trả cổ tức hơn 50% lợi nhuận.

Đối với nhiều doanh nghiệp, chính sách cổ tức chưa hướng đến cấu trúc vốn tối

ưu. Có rất nhiều trường hợp chính sách này tỏ ra thực sự khơng phù hợp với tình hình

tài chính hiện tại cũng như nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Sở dĩ có hiện trạng này là vì



Trang 35



các doanh nghiệp đang chạy đua lẫn nhau trong việc làm thỏa mãn các đòi hỏi các cổ

đơng của mình và bên cạnh đó là những kỳ vọng hay sự đánh giá không phù hợp của

nhà đầu tư đối với các công ty niêm yết 3.

Tỷ lệ cổ tức



Tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức



50%

40%

30%

20%

10%

0%

2003



2004



2005



2006



2007



Hình 2.6: Tỷ lệ chi trả cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE

Nguồn: Chính sách chi trả cổ tức của các công ty niêm yết trên TTCKVN [8]



II.2.4. Mối quan hệ giữa Doanh nghiệp Nhà nước và Ngân hàng

Như đã trình bày, nhiều doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán

Việt Nam xuất thân từ các doanh nghiệp Nhà nước. Các công ty cổ phần mới hình

thành (từ q trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước), nhìn chung đều kế thừa nhiều

nghĩa vụ của công ty cũ, và cả những quyền lợi đã từng có.

Tác giả muốn đề cập đến mối quan hệ giữa các doanh nghiệp nhà nước và ngân

hàng thương mại nhà nước.

Khá giống Trung Quốc, bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội của Việt Nam trong

q trình phát triển đã hình thành nên một mối quan hệ tín dụng mật thiết khá rõ ràng,

hay nói cách khác là “tín dụng mềm” mà các doanh nghiệp nhà nước được hưởng từ

các ngân hàng thương mại nhà nước 4. Đây có thể xem là một lợi ích đối với các doanh



3



Nguyễn Duy Lượng (2008), Chính sách chi trả cổ tức của các công ty niêm yết trên Thị trường chứng

khoán Việt Nam, luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học kinh tế Tp.HCM [8]

4

“Trên văn bản, Trung Quốc và Việt Nam dường như đều có các hệ thống ngân hàng hiện đại rất giống các

nước công nghiệp. Tuy nhiên, do ngân sách mềm và các nguyên nhân khác mà cả hệ thống ngân hàng và



Trang 36



nghiệp nhà nước, được hình thành từ mối quan hệ tay ba giữa Nhà nước – Doanh

nghiệp nhà nước và Ngân hàng thương mại nhà nước. “Tín dụng mềm” ám chỉ những

ưu đãi về việc vay nợ mà các doanh nghiệp nhà nước được hưởng, như ưu đãi về lãi

suất, gia hạn nợ, hạn mức tín dụng cao hơn, quy trình xem xét hồ sơ dễ dàng hơn, và

thậm chí là ưu tiên hơn trong việc xử lý nợ xấu…Điều này góp phần rất lớn hình thành

nên một cơ cấu vốn sử dụng nhiều nợ hơn ở các doanh nghiệp nhà nước so với các

doanh nghiệp thuộc khối tư nhân hay các công ty nước ngoài tại Việt Nam.

Nhiều số liệu thống kê đã cho thấy dư nợ của các doanh nghiệp nhà nước tại

bốn ngân hàng thương mại nhà nước lớn là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB),

Ngân hàng Công thương Việt Nam (ICB), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

(BIDV) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank)

chiếm tỷ lệ rất lớn. Mặc dù một phần rất lớn của các con số thống kê này là của các

tổng cơng ty, các tập đồn nhà nước, song cũng thật khó phủ nhận rằng rất nhiều các

doanh nghiệp nhà nước đã và đang phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn vay ngân hàng.

Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã phần nào làm giảm áp lực tín

dụng cho vay đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, song để thay đổi hoàn toàn

hiện trạng này thì đòi hỏi cần có nhiều thời gian hơn và nhiều nỗ lực khác nữa. Thực tế

là sau cổ phần hóa, các cơng ty cổ phần mới hình thành, nhưng thường thì việc tái cơ

cấu nhân sự điều hành không phải lúc nào cũng xảy ra. Thêm vào đó, Nhà nước, sau

khi cổ phần hóa, vẫn thường là cổ đơng lớn của pháp nhân mới. Do vậy, “tín dụng

mềm” cũng thường được các công ty cổ phần mới thừa hưởng. Đặc điểm này góp phần

tạo ra sự chênh lệch giữa tỷ trọng nợ vay trong cơ cấu vốn của các cơng ty cổ phần có

vốn nhà nước so với các cơng ty cổ phần hồn tồn do tư nhân sở hữu.



doanh nghiệp đều không thể ứng xử theo một cách hợp lý.” – Dweight H. Perkins. Huỳnh Thế Du (2005),

Mối quan hệ Nhà nước – Doanh nghiệp Nhà nước – Ngân hàng thương mại Nhà nước ở Việt Nam, chương

trình giảng dạy kinh tế Fullbright [4]



Trang 37



II.3. MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÁC NHÂN TỐ

TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

VIỆT NAM

II.3.1. Giới thiệu mơ hình kinh tế lượng

Các nghiên cứu thực nghiệm (về đề tài các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn

của các doanh nghiệp Việt Nam) trước đây đều sử dụng mơ hình hồi quy tuyến tính để

kiểm nghiệm các giả thiết về mối tương quan giữa tỷ lệ đòn bẩy tài chính và các nhân

tố được cho là có tác động đến nó.

Mơ hình hồi quy như sau:

Y = αi + βnXn + εi

Trong đó

Y



: Biến phụ thuộc



Xn



: Biến độc lập tác động đến biến phụ thuộc



βn



: Hệ số hồi quy



αi



: Hệ số tự do



εi



: Sai số ngẫu nhiên



Như đã trình bày, các lý thuyết về cấu trúc vốn đã chỉ ra rằng có rất nhiều các

nhân tố (bao gồm cả các nhân tố nội sinh và ngoại sinh) tác động đến cấu trúc vốn của

doanh nghiệp. Trong giới hạn về khả năng thu thập dữ liệu của tác giả, cũng như các

đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam, của thị trường chứng khoán và của các doanh

nghiệp niêm yết, tác giả chỉ giới hạn kiểm nghiệm một số các nhân tố có tác động đến

tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp.

Trong mơ hình hồi quy cụ thể của bài nghiên cứu này, cấu trúc vốn của doanh

nghiệp được đại diện bởi tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Các nhân tố tác động đến tỷ lệ đòn

bẩy tài chính được đưa vào mơ hình bao gồm: (1) đòn bẩy hoạt động của doanh nghiệp,

(2) tốc độ tăng trưởng, (3) tính thanh khoản, (4) tỷ suất sinh lợi, (5) quy mô, (6) sở hữu

của nhà nước, (7) tài sản hữu hình, (8) thuế thu nhập doanh nghiệp, (9) đặc tính riêng



Trang 38



của sản phẩm và (10) mức độ rủi ro kinh doanh.

Các tham số của mơ hình hồi quy được ước lượng bằng phương pháp bình

phương bé nhất (OLS – Ordinary Least Squares).

Các mơ hình cụ thể như sau:

LEV = a1 + a2FA + a3GRO + a4LIQ + a5ROA + a6SIZE + a7STATE + a8TANG

+ a9TAX + a10UNI + a11VOL



(2.1)



STD = b1 + b2FA + b3GRO + b4LIQ + b5ROA + b6SIZE + b7STATE +

b8TANG + b9TAX + b10UNI + b11VOL



(2.2)



LTD = c1 + c2FA + c3GRO + c4LIQ + c5ROA + c6SIZE + c7STATE + c8TANG

+ c9TAX + c10UNI + c11VOL



(2.3)



Trong đó

LEV (leverage)



: Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản



STD (short-term debt)



: Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản



LTD (long-term debt)



: Tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản



FA (fixed assets)



: Tỷ trọng tài sản cố định hữu hình trong tổng

tài sản



GRO (growth)



: Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp



LIQ (liquidity)



: Khả năng thanh toán hiện hành



ROA (return on assets) : Tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp

SIZE (business size)



: Quy mô của doanh nghiệp



STATE



: là biến giả, biến này có giá trị là 1 nếu như

Nhà nước chiếm tỷ lệ sở hữu lớn hơn 50%

(> 50%) vốn điều lệ của doanh nghiệp, và là

0 nếu ngược lại



TANG (tangible assets) : Tỷ trọng tài sản hữu hình trong tổng tài sản

TAX



: Thuế suất biên tế thuế thu nhập doanh



Trang 39



nghiệp

UNI (uniqueness)



: Đặc điểm riêng của sản phẩm



VOL (volatility)



: Rủi ro kinh doanh



II.3.2. Các giả thiết về mối tương quan giữa cấu trúc vốn và các nhân

tố tác động đến cấu trúc vốn

Các nghiên cứu về cấu trúc vốn cung cấp những cái nhìn đa dạng về các nhân tố

tác động đến quyết định tài trợ. Tổng hợp từ các nghiên cứu cho thấy, nhìn chung, các

nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp tại các nước (bao gồm cả các

nước phát triển và đang phát triển) là giống nhau, và cùng tạo ra những ảnh hưởng khá

giống nhau. Tuy vậy, có một lưu ý rằng các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của

các doanh nghiệp giữa các nước khác nhau chịu ảnh hưởng một cách có hệ thống bởi

các yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau, như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lạm phát,

hay mức độ phát triển của thị trường vốn,…

Dưới đây là những trình bày về mối tương quan giữa cấu trúc vốn và các nhân

tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Các mối tương quan này được rút ra

từ các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về cấu trúc vốn từ trước đến nay. Đây cũng

chính là các giả thiết tác giả đặt ra để kiểm nghiệm đối với trường hợp các doanh

nghiệp Việt Nam.

II.3.2.1. Tương quan giữa đòn bẩy tài chính và tỷ suất sinh lợi (profitability)

Về mặt lý thuyết, mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi và đòn bẩy tài chính khơng

được xác định thống nhất.

Theo lý thuyết đánh đổi (Myers, 1984), tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp cao

làm cho các trái chủ ít phải chịu rủi ro, và họ sẵn sàng cung cấp hạn mức tín dụng cao

hơn cho doanh nghiệp. Hơn nữa, lợi ích của tấm chắn thuế sẽ trở nên hấp dẫn hơn khi

mà thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp nhiều hơn, và điều này sẽ khiến các giám đốc

tài chính sử dụng nhiều nợ vay hơn. Nghiên cứu thực nghiệm của Long và Malitz năm

1985 cũng ủng hộ mối tương quan (+) giữa tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp và tỷ lệ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×