Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 NHỮNG HẠN CHẾ VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ TẠI VIỆT NAMHIỆN NAY

3 NHỮNG HẠN CHẾ VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ TẠI VIỆT NAMHIỆN NAY

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



bảo đảm được tốc độ tăng trưởng trong tương lai.

2.3.1.2: Xác định giá trị tài sản thuần theo giá thị trường

Phương pháp này xác định giá trị ngân hàng được sử dụng cũng giống như

kỹ thuật định giá thông thường, giá trị ngân hàng chỉ đơn giản được tính bằng

tổng giá trị thị trường của số tài sản trong ngân hàng tại một thời điểm. Điều đó có

nghĩa là đánh giá giá trị ngân hàng trong một trạng thái tĩnh, ngân hàng đã

không được coi như một thực thể, một tổ chức đang tồn tại và phát triển. Đối với

Ngân hàng thì phuơng pháp này khơng thực tế và chính xác. Do vậy, sẽ khơng có

tầm nhìn chiến lược. Đây là một hạn chế bởi mục đích M&A nhằm mục đích sở

hữu các khoản thu nhập trong tương lai chứ không phải để bán lại ngay các tài sản

hiện thời.

Phương pháp này không cung cấp và xây dựng được những cơ sở và thông

tin cần thiết để các bên có liên quan đánh giá về triển vọng sinh lời của Ngân hàng,

đó là những lý đó người ta khó mà giải thích được cùng giá trị tài sản thuần như

nhau mà Ngân hàng này lại có giá bán cao hơn Ngân hàng kia (ngay cả khi

khơng có tác động của yếu tố cạnh tranh).

Phương pháp này đã bỏ qua phần lớn các yếu tố phi vật chất nhưng lại có giá

trị thật sự và nhiều khi lại chiếm tỉ trọng rất lớn trong ngân hàng như: trình độ quản

lý, trình độ tay nghề, uy tín, thị phần . Những yếu tố này là nhân tố quan trọng trong

hệ thống ngân hàng.

Trong nhiều trường hợp xác định giá trị tài sản thuần quá phức tạp như xác

định giá trị của một tập đồn có nhiều chi nhánh, nhiều chứng khoán đầu tư ở

nhiều ngân hàng, doanh nghiệp khác nhau, mỗi chi nhánh lại có một số lượng

các tài sản lớn đặc biệt đã qua sử dụng (hoặc khơng còn bán trên thị trường).

Trong trường hợp đó đòi hỏi phải tổng kiểm kê đánh giá lại một cách chi tiết mọi

tài sản của các chi nhánh vẫn đến chi phí tốn kém, thời gian kéo dài, kết quả phụ

thuộc nhiều vào các thông số kỹ thuật của tài sản. Như vậy, sai số có khả năng ở

mức cao.

2.3.2 Hạn chế trong phương pháp DCF



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 33



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



2.3.2.1 Phương pháp hiện tại hóa lợi nhuận thuần

Lợi nhuận tính theo phương pháp này là lợi nhuận kế tốn đã được điều chỉnh

tức là nó khơng chỉ ra chính xác thời điểm phát sinh khoản thu nhập, vì vậy nó

khơng phù hợp với quan điểm nhìn nhận về dòng tiền của nhà đầu tư đa số.

Việc điều chỉnh số liệu quá khứ để rút ra tính quy luật của lợi nhuận trong

tương lai cũng không phù hợp với chiến lược của ngân hàng mới thành lập chưa

có số liệu quá khứ, chưa bước sang giai đoạn ổn định để có kết quả ổn định.

2.3.2.2 Phương pháp hiện tại hóa dòng tiền thuần

Phương pháp này được đánh giá là phương pháp phức tạp khi sử dụng để

định giá Ngân hàng. Tuy nhiên, đây lại là phương pháp mà các Ngân hàng thừờng

sử dụng trong định giá và phân tích ngân hàng. Phương pháp phải dự tính các hoạt

động, dịch vụ các giả thuyết về hoạt động của Ngân hàng trong tương lai.

Vì vậy, để đánh giá được kết quả hoạt động của Ngân hàng trong tương lai,

những người làm cơng tác xác định giá phải có trình độ nghiệp vụ kinh doanh và

quản lý cao, có thể đưa ra được nhiều giả thiết thích hợp liên quan đến hoạt động

của Ngân hàng trong tương lai.

Mặc dù vậy đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, giá trị doanh

nghiệp xác định bằng phương pháp này được đánh giá là chuẩn mực để xác định

giá trị thị trường tiềm năng của doanh nghiệp mà họ quan tâm.

2.3.3 Hạn chế trong phương pháp APV

Trên thực tế, không phải tất cả các ngân hàng đều có thể áp dụng việc đánh

giá dòng tiền riêng biệt ở từng bộ phận, từng quốc gia. Đó là vấn đề dữ liệu đầu

vào cho việc đánh giá. Nhiều ngân hàng khơng thể phân tích thu nhập và dòng tiền

của họ đủ chi tiết để có thể áp dụng việc đánh giá theo từng phần riêng biệt và các

chi phí của cơng ty mẹ có thể được phân bổ về các đơn vị hay các cơng ty con một

cách tuỳ tiện.

Bên cạnh đó, cần được cân nhắc lại khi nhiều phân tích sử dụng mơ hình

APV mà bỏ qua chi phí phá sản có thể có dẫn đến kết luận là giá trị cơng ty tăng



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 34



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



tương ứng với tỷ lệ nợ trong cấu trúc vốn của cơng ty đó. Tức là, tỷ lệ nợ tối ưu của

doanh nghiệp là 100%, điều này trái với thực tế. Khuyết điểm này sẽ dẫn đến kết

quả là giá trị của công ty sẽ được đánh giá cao hơn thực tế, đặc biệt là khi tỷ lệ nợ

của công ty quá cao, rõ ràng lúc đó chi phí phá sản khơng thể bằng không.

2.3.4 Một số hạn chế khác làm ảnh hưởng đến phương pháp định giá

2.3.4.1 Cách thức và tác nghiệp M&A còn sơ khai, khó khăn cho việc định giá.

Hiện nay, Việt Nam thiếu một “nơi gặp gỡ” để cho các doanh nghiệp trao đổi

và thực hiện M&A. Trên thực tế hoạt động M&A trên thế giới được thực hiện qua

những tác nghiệp mang tính chun nghiệp cao, trong những phòng họp kín. Nội

dung thương thảo M&A bao giờ cũng cần được giữ tuyệt mật cho đến phút chót bởi

chúng có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và giá trị cổ phiếu của các cơng

ty, thậm chí hủy hoại ngay cả dự định sáp nhập đang được tiến hành. Tâm điểm của

hoạt động M&A chính là các cơng ty tư vấn chuyên nghiệp về hoạt động này. Họ

vừa đóng vai trò mơi giới vừa làm tư vấn cho các bên trong vụ M&A. Các thể chế

tài chính ngân hàng của Mỹ như Citigroup, Goldman Sachs, Morgan Stanley, Merill

Lynch, JPMorgan Chase đều là những công ty tư vấn hàng đầu về M&A trên phạm

vi tồn thế giới.

Do đó, những trao đổi thể hiện trên các trang web như cách một số doanh

nghiệp Việt Nam đang làm chỉ phù hợp để tìm kiếm cơ hội mua bán các cơ sở sản

xuất, cửa hàng, thương hiệu rất khiếm tốn. Do trình độ quản lý của Việt Nam chưa

thể đáp ứng được mức độ hợp tác cao mà các vụ hợp nhất đòi hỏi.

- Nhiều vụ được xếp vào M&A nhưng thực chất thiên về đầu tư tài chính. Trong

một số lĩnh vực tài chính ngân hàng doanh nghiệp nước ngồi cũng khơng có cách

lựa chọn nào khác do những hạn chế mua cổ phần không quá 30% (ngân hàng),

49% (doanh nghiệp niêm yết), như trường hợp ANZ -SSI, Sacombank; Standard

Chatter – Ngân hàng ACB...

2.3.4.2 Việc bảo mật thông tin chưa được tuân thủ một cách chặt chẽ

Đảm bảo tính bảo mật cho hoạt động mua - bán trên những sàn giao dịch này

cũng là một vấn đề đáng lưu ý. Thực tế đã cho thấy, một ngân hàng khi đang trong



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 35



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



quá trình tiến hành bán nếu thông tin bị tiết lộ không hợp lý sẽ vô cùng tác hại.

Đơi khi Ngân hàng đó làm ăn rất tốt nhưng khi quyết định bán với giá mời hấp

dẫn chỉ vì thơng tin bị tiết lộ, rò rỉ trước khi q trình mua - bán thành cơng có

thể vì thế mà lao đao.Một số ngân hàng bị rò rỉ thông tin trước khi đấu giá làm

cho giá đấu không thành công như mong đợi.

2.3.4.3 Thông tin chưa thực sự đáng tin cậy

Một trong những vấn đề đối với các hoạt động M&A ở Việt Nam là sự không rõ

ràng. Nói chung là còn thiếu các thơng tin tin cậy. Đó là lý do tại sao các nhà

đầu tư nước ngoài cần đến những dịch vụ như của các tổ chức tài chính quốc tế

để thực hiện việc kiểm tra và xác minh cho họ.

Xu hướng phổ biến là làm đẹp báo cáo tài chính để tăng lợi nhuận ảo bằng cách

giảm chi phí khấu hao, treo chi phí, trốn thuế…

2.3.4.4 Khung pháp lý cho M&A vẫn đang đuợc hoàn thiện, cải tiến để góp

phần cho việc M&A tại Việt Nam ngày càng minh bạch và quốc tế hóa.

HIện nay, Khung pháp lý đang xây dựng tập trung và có hệ thống đối với quy

định của pháp luật về M&A ngân hàng với hoạt động mua lại, sáp nhập và hợp nhất

và đầu tư mua cổ phần để trở thành cổ đơng chiến lược. Theo đó khung pháp ly cần

có các định nghĩa, khái niệm, hình thức, điều kiện, quy trình và hợp đồng M&A ngân

hàng cụ thể. Đồng thời, với tư cách là một hình thức tập trung kinh tế bị điều chỉnh

bởi các quy định của pháp luật cạnh tranh, các quy định về M&A ngân hàng cần phải

phù hợp, đáp ứng các điều kiện về kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh, về thị

phần, thị trường liên quan... để tránh việc độc quyền, hạn chế cạnh tranh lành mạnh

trên thị trường ngân hàng.

Hiện nay, các đạo luật về đầu tư, các cam kết của Việt Nam về đầu tư cũng đã

xác nhận M&A là một hình thức đầu tư, tuy nhiên quy định này mới chỉ xác định nó

với tư cách là một hình thức đầu tư trực tiếp (FDI) và còn rất sơ sài về yêu cầu, điều

kiện, trình tự, thủ tục đầu tư này trong lĩnh vực ngân hàng, trong khi đó Luật Chứng

khốn coi hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư đối với các ngân hàng trên

thị trường chứng khoán là một hình thức đầu tư gián tiếp (FII)…



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 36



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



Ngoài ra, các vấn đề pháp lý khác cũng rất đáng được quan tâm như định giá

tài sản, thương hiệu, thuế, giải quyết lao động sau M&A... cũng cần phải được làm rõ

trong q trình hồn thiện các chính sách, cơ chế cho hoạt động M&A ngân hàng.

2.4 ỨNG DỤNG MƠ HÌNH ĐỊNH GIÁ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG PHƯƠNG

NAM

Trong phần này, tác giả sẽ áp dụng các mơ hình định giá doanh nghiệp để

định giá cho Ngân hàng Phương Nam.

Trong phạm vi của luận văn, tác giả xin trình bày ba mơ hình định giá khác

nhau gồm FCFE, FCFF và APV trên các thông số, báo cáo thường niên hàng năm

của Ngân hàng Phương Nam từ những năm 2006 -2010 làm cơ sở phân tích ứng

dụng trong các mơ hình. Ba mơ hình sẽ là cơ sở để so sánh các cách tính, kết quả

trong quá trình định giá khác nhau như thế nào so với thực tế.

Báo cáo thường niên 2010 đính kèm trong phụ lục số 6, Báo cáo thường niên

các năm từ 2006- 2009 được trích dẫn tóm tắt trong trong bài viết.

Các thơng số đầu vào cho việc tính tốn :

Bảng 2.4.1 : Bảng số liệu đầu vào tài chính 2009, 2010 của NH Phương Nam.

ĐVT : triệu

Số liệu tài chính



Năm 2010



năm 2009



1,042,308



703,927



Chi phí lãi vay



509,840



393,011



Chi đầu tư tài sản cố định (2010-2009)



393,523



218,780



0



93,350



393,523



312,130



35,953



40,318



25



25%



EBIT (thu nhập trước lãi vay và thuế)



Chi đầu tư góp vốn (khơng gồm chứng

khốn)

Chi đầu tư

Khấu hao tài sản hữu hình và vơ hình

Thuế suất thuế thu nhập



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 37



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



Số liệu tài chính



Năm 2010



năm 2009



3,973,600



2,354,237



khốn



35,171,798



23,409,450



Thay đổi vốn lưu động



11,762,348



10,456,621



Giá trị sổ sách của nợ (VAY)



17,815,271



11,018,041



3,050,812



2,935,682



13,017,780



3,970,018



304



257



Doanh thu hiện hành

Vốn lưu động không kể tiền và Chứng



Giá trị sổ sách của vốn cổ phần

Tiền mặt và chứng khoán ngắn hạn (3

tháng)

Số lượng cổ phiếu hiện hành



+ Xác định hệ số β :

β không vay nợ = Levered Beta /(1+(1-effective tax rate) * Market D/E

tra bảng phụ lục 03, bảng chuẩn giá trị của Mỹ, ta có kết quả

β không vay nợ = 0.426

- Hệ số beta áp dụng cho ngành ngân hàng VN : 0,462*[1+(1-tC)*D/E] = 2.292

- Mức bù rủi ro quốc gia: 1,97%

- Mức bù rủi ro tỷ giá: 3,28%

- Lãi suất phi rủi ro (tín phiếu kho bạc) : 6,5 %

- Mức bù RR thị trường : 6,57%

Ước lượng chi phí vốn:

Chi phí vốn chủ sở hữu:

rE =L suất phi rủi ro+ β * rủi ro thị trường+bù rủi ro quốc gia+bù rủi ro tỷ giá

rE = 6,5% + 1,7*6,57% + 1,97% + 3,28% = 26.81%

Chi phí nợ vay:



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 38



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 NHỮNG HẠN CHẾ VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ TẠI VIỆT NAMHIỆN NAY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×