Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ TRONG NHTMVIỆT NAM

2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ TRONG NHTMVIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



vụ xác định giá trị doanh nghiệp năm 2008, cả nước có 56 đơn vị được Bộ Tài chính

cho phép hoạt động tư vấn và thẩm định giá doanh nghiệp.

Cũng theo đánh giá của UBTVQH, chất lượng hoạt động của hầu hết các đơn

vị này còn hạn chế, chưa đảm nhận được việc thẩm định giá các doanh nghiệp có

thương hiệu, lợi thế kinh doanh lớn. Điều này làm cho độ tin cậy về chất lượng

thẩm định giá doanh nghiệp của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thẩm định giá trong

nước còn thấp. Trong khi đó, quy chế lựa chọn tổ chức thẩm định giá doanh nghiệp;

quy chế quản lý, giám sát hoạt động tư vấn và thẩm định giá doanh nghiệp; các tiêu

chuẩn đánh giá năng lực của tổ chức thẩm định giá chưa được quy định rõ, chưa gắn

trách nhiệm của tổ chức tư vấn, thẩm định giá với việc bán cổ phần của doanh

nghiệp. Điều này cho thấy công việc hoạch định chính sách (liên quan đến cơng tác

thẩm định giá) của các nhà hoạch định chính sách tài chính phát triển ở nước ta

trong thời gian tới là rất bề bộn. Đồng thời, trước nhu cầu thẩm định giá doanh

nghiệp ngày càng lớn trong tương lai, việc nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ

chức tư vấn thẩm định giá trong nước nói chung, năng lực của đội ngũ cán bộ thẩm

định giá nói riêng cũng trở thành một đòi hỏi vơ cùng bức thiết, đặc biệt là trong bối

cảnh cạnh tranh với các tổ chức tư vấn thẩm định giá của nước ngoài.

2.2.2 Thực trạng vận dụng các mơ hình định giá NHTM Việt Nam thời gian

qua.

Trong xu hướng hiện nay, NHTM cần được cơ cấu lại bộ máy cấu trúc là nhu

cầu cần thiết và quan trọng và vấn đề này đã các chuyên gia tài chính, các tổ chức

tín dụng cũng như bộ máy quản lý ngân hàng nhà nước dự báo từ những năm trước.

Trong đó, việc M&A cũng như định giá các ngân hàng từng buớc được các Ngân

hàng thương mại thực hiện và điều này cũng đòi hỏi cơng tác định giá ngân hàng ở

Việt Nam phải chuyên nghiệp hơn và từng bước tiếp cận với trình độ quốc tế. Bối

cảnh nêu trên đã chỉ ra ba điểm đáng chú ý:

- Nhu cầu định giá NHTM bắt nguồn từ và song hành với quá trình tái cấu

trúc ngân hàng thương mại.

- Đây là một vấn đề khá phức tạp và mới mẻ.



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 30



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



- Thẩm định giá ngày càng có vai trò quan trọng và khơng thể thiếu được đối

với q trình cải cách khu vực NHTM nói riêng và tồn hệ thống Ngân hàng nói

chung. Sự phát triển bền vững của thị trường chứng khốn, và q trình sáp nhậphợp nhất doanh nghiệp ở nước ta, thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà hoạch

định chính sách tài chính phát triển, các nhà đầu tư, cũng như các nhà quản lý doanh

nghiệp.

Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26.06.2007 quy định các phương pháp

thẩm định giá doanh nghiệp gồm: phương pháp tài sản, phương pháp hiện tại hóa

các nguồn tài chính DCF và các phương pháp khác. Tuy nhiên dù giá trị doanh

nghiệp được thẩm định và công bố theo phương pháp nào thì cũng khơng được thấp

hơn giá trị doanh nghiệp được thẩm định theo phương pháp tài sản quy định trong

Nghị định này.

Phương pháp tài sản là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trên cơ sở

đánh giá giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm xác

định giá trị doanh nghiệp. Có thể nhận thấy phương pháp tài sản là phương pháp

trực tiếp đánh giá giá trị của các tài sản của doanh nghiệp dựa trên các thông tin quá

khứ của doanh nghiệp. Việc dựa trên thông tin q khứ có thể khơng phản ánh được

hiện tại và tương lai của doanh nghiệp.

Phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) là phương pháp xác định giá trị

doanh nghiệp trên cơ sở khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai.

Phương pháp này đánh giá giá trị gián tiếp của doanh nghiệp dựa trên các dự đoán

về tương lai của doanh nghiệp. Căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp bao gồm:

báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong 5 năm liền kề trước khi xác định giá trị

doanh nghiệp; phương án hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần

hóa từ 3 năm đến 5 năm sau khi chuyển thành công ty cổ phần; lãi suất trả trước của

trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ 10 năm trở lên ở thời điểm gần nhất với thời điểm

xác định giá trị doanh nghiệp và hệ số chiết khấu dòng tiền của doanh nghiệp. DCF

theo Thông tư này chỉ giới hạn trong việc chiết khấu dòng cổ tức của doanh nghiệp.

Số năm tương lai được chọn cũng chỉ bó hẹp trong 3-5 năm.



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 31



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



Như vậy, các NHTM sẽ thực hiện vừa phương pháp tài sản vừa phương pháp DCF :

- Thứ nhất, phương pháp tài sản phải là cái gốc và là “giá sàn” của các các

NHTM, dùng để tham chiếu kết quả của các phương pháp khác. Vì lẽ giá trị NHTM

được xác định theo phương pháp tài sản phản ánh giá thị trường của tài sản NHTM

hiện có, nhưng chưa tính hết giá trị tiềm năng và khả năng sinh lợi trong tương lai

của doanh nghiệp.

- Thứ hai, dù lựa chọn thẩm định giá theo phương pháp nào, đơn vị chịu

trách nhiệm thẩm định giá vẫn phải ước tính giá NHTM theo phương pháp tài sản,

để có cơ sở tham chiếu xem giá NHTM được tính ra theo phương pháp đã chọn có

thỏa mãn ràng buộc “khơng thấp hơn” mức giá thẩm định theo phương pháp tài sản

hay khơng.

Trên cơ sở xem xét cách vận dụng mơ hình DCF theo hướng dẫn của Bộ Tài

chính, có đối chiếu với khn khổ lý thuyết về các mơ hình DCF đã trình bày trong

chương 1, chúng ta có thể rút ra một số nhận định hạn chế dưới đây của các mơ

hình.

2.3 NHỮNG HẠN CHẾ VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ TẠI VIỆT NAM

HIỆN NAY

2.3.1 Hạn chế trong phương pháp tài sản

2.3.1.1 Dựa vào số liệu trên bảng cân đối kế tốn

Tồn bộ giá trị tài sản phản ánh trên bảng cân đối kế toán được tập hợp từ

các bảng kê, các sổ tổng hợp mặc dù rất trung thực và khách quan nhưng chỉ

mang tính lịch sử khơng còn phù hợp ở thời điểm định giá ngân hàng ngay cả khi

nền kinh tế khơng có lạm phát. Giá trị còn lại của tài sản cố định phản ảnh trên

sổ kế toán cao hay thấp phụ thuộc vào phương pháp khấu hao mà ngân hàng sử

dụng, phụ thuộc vào thời điểm mà ngân hàng xác định nguyên giá và sự lựa chọn

tuổi thọ của tài sản cố định. Vì vậy giá trị còn lại của tài sản cố định trên sổ kế

tốn thường khơng phù hợp với giá trị thị trường tại thời điểm xác định giá trị

ngân hàng. Phuơng pháp này, có lẽ chỉ nên áp dụng trong việc định giá các ngân

hàng có tỷ suất lợi nhuận thấp hoặc đang gặp khó khăn trong kinh doanh và khơng



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 32



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



bảo đảm được tốc độ tăng trưởng trong tương lai.

2.3.1.2: Xác định giá trị tài sản thuần theo giá thị trường

Phương pháp này xác định giá trị ngân hàng được sử dụng cũng giống như

kỹ thuật định giá thông thường, giá trị ngân hàng chỉ đơn giản được tính bằng

tổng giá trị thị trường của số tài sản trong ngân hàng tại một thời điểm. Điều đó có

nghĩa là đánh giá giá trị ngân hàng trong một trạng thái tĩnh, ngân hàng đã

không được coi như một thực thể, một tổ chức đang tồn tại và phát triển. Đối với

Ngân hàng thì phuơng pháp này khơng thực tế và chính xác. Do vậy, sẽ khơng có

tầm nhìn chiến lược. Đây là một hạn chế bởi mục đích M&A nhằm mục đích sở

hữu các khoản thu nhập trong tương lai chứ không phải để bán lại ngay các tài sản

hiện thời.

Phương pháp này không cung cấp và xây dựng được những cơ sở và thông

tin cần thiết để các bên có liên quan đánh giá về triển vọng sinh lời của Ngân hàng,

đó là những lý đó người ta khó mà giải thích được cùng giá trị tài sản thuần như

nhau mà Ngân hàng này lại có giá bán cao hơn Ngân hàng kia (ngay cả khi

không có tác động của yếu tố cạnh tranh).

Phương pháp này đã bỏ qua phần lớn các yếu tố phi vật chất nhưng lại có giá

trị thật sự và nhiều khi lại chiếm tỉ trọng rất lớn trong ngân hàng như: trình độ quản

lý, trình độ tay nghề, uy tín, thị phần . Những yếu tố này là nhân tố quan trọng trong

hệ thống ngân hàng.

Trong nhiều trường hợp xác định giá trị tài sản thuần quá phức tạp như xác

định giá trị của một tập đồn có nhiều chi nhánh, nhiều chứng khoán đầu tư ở

nhiều ngân hàng, doanh nghiệp khác nhau, mỗi chi nhánh lại có một số lượng

các tài sản lớn đặc biệt đã qua sử dụng (hoặc khơng còn bán trên thị trường).

Trong trường hợp đó đòi hỏi phải tổng kiểm kê đánh giá lại một cách chi tiết mọi

tài sản của các chi nhánh vẫn đến chi phí tốn kém, thời gian kéo dài, kết quả phụ

thuộc nhiều vào các thông số kỹ thuật của tài sản. Như vậy, sai số có khả năng ở

mức cao.

2.3.2 Hạn chế trong phương pháp DCF



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 33



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ TRONG NHTMVIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×