Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ĐỊNH GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG MUALẠI VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAMTRONG THỜI GIAN QUA

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ĐỊNH GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG MUALẠI VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAMTRONG THỜI GIAN QUA

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



giá trị hoạt động M&A cao nhất. Tuy nhiên, trong lĩnh vực ngân hàng, việc M&A

của lĩnh vực này khác gì so với M&A trong các lĩnh vực khác.

Bảng 2.1 : Sự khác biệt giữa M&A ngân hàng với M&A của lĩnh vực khác

M&A ngân hàng



-



M&A của lĩnh vực khác



Ngoài hiệu quả thúc đẩy quy mô



-



M&A là một công cụ hiệu quả để



hoạt động, kinh doanh, Ngân



thúc đẩy tăng trưởng kinh doanh,



hàng phải được điều tiết của



quy mơ hoạt động.



chính phủ về vốn điều lệ.

-



M&A ln phải có sự can thiệp

của chính phủ, nhằm tăng quy mơ



-



Khơng cần thiết phải có sự can

thiệp của chính phủ.



vốn, quy mơ kinh doanh, an tồn

và tránh những thiệt hại, rủi ro

đáng kể đến nền kinh tế

-



Giá trị M&A thường có giá trị lớn



-



Giá trị M&A thường khơng cao.

Trọng điểm là ngành Công nghệ



so với các ngành nghề khác.



và thơng tin

-



Đa số các trường hợp M&A ngân

hàng đều có yếu tố nước ngồi, vì

đây là cơ hội để các NHNN xâm

nhập, mở rộng thị phần của mình

nhanh nhất và hợp lệ.



- Định giá áp dụng là Phương pháp



-



tài sản và phương pháp dòng lưu



Định giá chủ lực áp dụng là

Phương pháp tài sản.



kim chiết khấu DCF. Trong đó,

phương pháp DCF là chủ lực.



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 25



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



2.1.3 Một số vụ sáp nhập ngân hàng điển hình trong những năm gần đây :

Năng lực tài chính hạn chế đã khiến các ngân hàng nội địa, đặc biệt là các

NHTMCP quy mơ nhỏ gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh vì quy mơ hoạt động

ngân hàng ngày càng gia tăng cùng với các khoản cho vay lớn chỉ có những ngân

hàng có vốn chủ sở hữu lớn mới có thể đáp ứng yêu cầu. Quy mô nhỏ đang khiến

một số ngân hàng Việt Nam phải đương đầu với nhiều rủi ro, khó tạo ra và duy trì

niềm tin của cơng chúng... Đó là chưa kể bản thân ngân hàng khó khăn trong việc

nâng cao trình độ cơng nghệ (kể cả công nghệ quản trị tiên tiến), cạnh tranh dịch vụ

ngân hàng hiện đại, thu hút nhân lực giỏi... Vì vậy, xu hướng M&A ngân hàng là

quy luật thị trường không tránh khỏi tại Việt Nam.

2.1.3.1 Techcombank bán cổ phần cho HSBC

Diễn biến và kết quả:

Tháng 12 năm 2005, Ngân hàng HSBC tiến hành ký kết hợp đồng mua 10%

cổ phần của Techcombank với giá trị 27 triệu USD. Tháng 7 năm 2007,

Techcombank bán thêm 5% cổ phần cho HSBC và tháng 8 năm 2008,

Techcombank tiếp tục bán thêm 5% cổ phần cho HSBC nâng tỷ lệ sở hữu của ngân

hàng này lên 20%.

Nguyên nhân thành công

Đầu tư vào Techcombank cho phép HSBC tham gia sâu hơn nữa vào thị

trường tài chính đang phát triển rất nhanh của Việt Nam. Còn Techcombank sẽ

nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật tiên tiến từ phía HSBC.

2.1.3.2 NH TMCP Eximbank bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài

Diễn biến và kết quả:

Tháng 08 năm 2007, Eximbank bán 25% cổ phần cho 4 nhà đầu tư nước

ngoài là nhà đầu tư chien lược Sumitomo Mitsui Banking Corporation (đây là một

trong số ít tập đoàn TCNH lớn nhất của Nhật Bản và thế giới) 15% vốn điều lệ của

Eximbank; nhà đầu tư VOF Investment Limited-British Virgin Islands mua 5%;

Mirae Asset Exim Investment Limited thuộc tập đoàn Mirae Asset Hàn Quốc là

4,5% và Mirae Asset Maps Opportunity Vietnam Equity Balanced Fund 1 là 0,5%.



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 26



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



Nguyên nhân thành công :

Eximbank đã thành cơng trong việc chọn tập đồn ngân hàng hàng đầu của

Nhật Bản Sumitomo Mitsui Banking Corporatio. Điều này cho không chỉ cho phép

Eximbank tăng thêm tiềm lực về tài chính, quản trị điều hành và cơng nghệ, mà còn

cho phép đáp ứng tốt hơn nhu cầu dịch vụ, đặc biệt là thanh toán quốc tế, mua bán

ngoại tệ, chuyển tiền, kiều hối, đầu tư,...

2.1.3.3 Habubank bán cổ phần cho Deutsche Bank AG (Đức)

Diễn biến và kết quả:

Tháng 06 năm 2007 Habubank bán 10% cổ phần cho Deutsche Bank AG

(Đức). Việc ký thoả thuận này nằm trong chiến lược phát triển giai đoạn 2006 -2010

của Habubank.

Nguyên nhân thành công :

-



Habubank sẽ được Deutsche Bank cam kết thực hiện việc hỗ trợ kỹ



thuật cho Habubank trong các hoạt động nguồn vốn, thị trường tiền tệ, quản lý rủi

ro và cùng nhau tìm hiểu các cơ hội hợp tác kinh doanh chiến lược trong các lĩnh

vực thẻ tín dụng và các sản phẩm dịch vụ đầu tư.

-



Làm gia tăng giá trị cho các cổ đông của NH, là bước đi chủ động của



Habubank trong tiến trình hội nhập thơng qua việc tiếp cận với các thông lệ quản trị

ngân hàng quốc tế tốt nhất với mong muốn góp phần tích cực làm vững mạnh thị

trường tài chính Việt Nam. Bởi vì Deutsche Bank là một trong những ngân hàng

đầu tư nổi tiếng trên thế giới, đặc biệt là thị trường Đức và châu Âu với tổng tài sản

trị giá 1,097 tỷ EURO. Deutsche Bank có mặt tại Việt Nam từ năm 1992, hiện có

chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh.

2.1.3.4 BIDV mua lại ngân hàng đầu tư thịnh vượng PIB

Diễn biến và kết quả:

- Một thương vụ khá thú vị liên quan đến đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực

ngân hàng. Đó là vào tháng 7/2009, BIDV cho biết đã hoàn tất việc thành lập CTCP

Đầu tư và phát triển IDCC 100% vốn Việt Nam với vốn điều lệ 100 triệu USD, do

BIDV và Cơng ty Phương Nam góp vốn. IDCC đã ký hợp đồng chuyển nhượng,



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 27



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



chính thức mua lại Ngân hàng Đầu tư Thịnh vượng PIB (một ngân hàng tư nhân của

Campuchia), cơ cấu và đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Campuchia

(BIDC). Theo kế hoạch, đến năm 2012, BIDC sẽ có tổng tài sản 303 triệu USD,

tổng nguồn vốn huy động 216 triệu USD, cho vay đạt 210 triệu USD. Ngoài ra,

CTCP Bảo hiểm Campuchia Việt Nam (CVI), trong đó IDCC nắm giữ 90% vốn

cũng đã được phía Campuchia cấp phép thành lập.

Nguyên nhân thành công :

- BIDV mở rộng được thị phần kinh doanh ở nước ngòai thông qua ngân

hàng đầu tư phát triển thịnh vượng PIB.

- Tận dụng được nguồn nhân lực, văn hóa, quan hệ tốt đẹp giữa 2 nước Việt

Nam, Campuchia.

- Tăng được nguốn vốn huy động.

2.1.3.5 Tổng cơng ty bưu chính VNPost sáp nhập vào Liên Việt Bank

Diễn biến và kết quả:

Tong công ty Bưu chính Việt Nam (VNPost) góp vốn vào Ngân hàng TMCP

Liên Việt (Liên Việt Bank) là thương vụ M&A rất đáng chú ý cả về quy mơ và tính

chất trong lĩnh vực M&A nói chung và trong hệ thống ngân hàng nói riêng. Lần đầu

tiên, ở Việt Nam có thương vụ góp vốn cổ phần bằng giá trị cơng ty (Công ty Dịch

vụ tiết kiệm Bưu điện - VPSC) và bằng tiền mặt. Hơn nữa, đây là trường hợp một

doanh nghiệp nhà nước (VPSC) “nhập” nguyên trạng hoạt động vào một ngân hàng

TMCP.

Công ty Tiết kiệm Bưu điện (VPSC) (hoạt động từ 1999, thuộc Tổng cơng

ty Bưu chính Việt Nam - VNPost) gia nhập Ngân hàng Liên Việt với số vốn góp

997 tỷ đồng để tạo ra ngân hàng mới có tên gọi Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu

điện Liên Việt (LPB).

Số vốn nói trên tương đương 14,99% vốn điều lệ ngân hàng, trong đó 360 tỷ

đồng là giá trị của chính Cơng ty Tiết kiệm Bưu điện, phần còn lại sẽ được VNPost

góp nhiều lần bằng tiền mặt.

Nguyên nhân thành công :



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 28



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



- Quy mô tổng tài sản của ngân hàng tăng nhanh chóng, cho phép đẩy mạnh

nhiều hoạt động kinh doanh. Vốn điều lệ của LPB sẽ tăng từ 5.650 tỷ đồng trước

sáp nhập lên 6.010 tỷ đồng.

- LienVietBank trở thành một ngân hàng có mạng lưới thuộc hàng lớn nhất

cả nước với hơn 10.000 điểm thừa hưởng phần lớn từ VNPost. Lợi thế này càng ý

nghĩa đặc biệt vì Ngân hàng Liên Việt có tuổi đời trẻ (mới ba năm hoạt động). Đây

là điều mà có lẽ nếu khơng có thương vụ trên, một ngân hàng bình thường phải 100

năm nữa mới thực hiện được.

- Thương vụ đặc biệt này cũng cho ra đời mơ hình ngân hàng bưu điện đầu

tiên tại Việt Nam - kết hợp giữa ngân hàng thương mại truyền thống với dịch vụ tiết

kiệm bưu điện.

2.2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC MƠ HÌNH ĐỊNH GIÁ TRONG NHTM

VIỆT NAM

2.2.1 Tổng quan về việc vận dụng các phương pháp định giá ở nước ta

Theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26.06.2007, việc định giá doanh nghiệp

được thực hiện theo hai phương pháp chủ yếu là:

1. Phương pháp tài sản,

2. Phương pháp dòng lưu kim chiết khấu.

Tổ chức tư vấn thẩm định giá cũng có thể lựa chọn “các phương pháp khác” để

thẩm định giá nhưng với điều kiện là chúng phải đảm bảo tính khoa học, phản ảnh

thực chất giá trị doanh nghiệp, và được quốc tế áp dụng rộng rãi.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc vận dụng các phương pháp định giá này ở nước

ta trong thời gian qua đã bộc lộ khá nhiều bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả và tiến

độ tái cấu trúc, cổ phần hóa các DNNN, Doanh nghiệp khác. Mặt khác, hai phương

pháp này cũng chưa bao quát hết tất cả các phương pháp thẩm định giá được chấp

nhận sử dụng rộng rãi trên thế giới hiện nay.

Theo Quyết định số 61/QĐ-BTC ngày 10.01.2008 của Bộ trưởng Bộ Tài

chính về việc cơng bố danh sách tổ chức tư vấn định giá được phép cung cấp dịch



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 29



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



vụ xác định giá trị doanh nghiệp năm 2008, cả nước có 56 đơn vị được Bộ Tài chính

cho phép hoạt động tư vấn và thẩm định giá doanh nghiệp.

Cũng theo đánh giá của UBTVQH, chất lượng hoạt động của hầu hết các đơn

vị này còn hạn chế, chưa đảm nhận được việc thẩm định giá các doanh nghiệp có

thương hiệu, lợi thế kinh doanh lớn. Điều này làm cho độ tin cậy về chất lượng

thẩm định giá doanh nghiệp của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thẩm định giá trong

nước còn thấp. Trong khi đó, quy chế lựa chọn tổ chức thẩm định giá doanh nghiệp;

quy chế quản lý, giám sát hoạt động tư vấn và thẩm định giá doanh nghiệp; các tiêu

chuẩn đánh giá năng lực của tổ chức thẩm định giá chưa được quy định rõ, chưa gắn

trách nhiệm của tổ chức tư vấn, thẩm định giá với việc bán cổ phần của doanh

nghiệp. Điều này cho thấy cơng việc hoạch định chính sách (liên quan đến cơng tác

thẩm định giá) của các nhà hoạch định chính sách tài chính phát triển ở nước ta

trong thời gian tới là rất bề bộn. Đồng thời, trước nhu cầu thẩm định giá doanh

nghiệp ngày càng lớn trong tương lai, việc nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ

chức tư vấn thẩm định giá trong nước nói chung, năng lực của đội ngũ cán bộ thẩm

định giá nói riêng cũng trở thành một đòi hỏi vơ cùng bức thiết, đặc biệt là trong bối

cảnh cạnh tranh với các tổ chức tư vấn thẩm định giá của nước ngoài.

2.2.2 Thực trạng vận dụng các mơ hình định giá NHTM Việt Nam thời gian

qua.

Trong xu hướng hiện nay, NHTM cần được cơ cấu lại bộ máy cấu trúc là nhu

cầu cần thiết và quan trọng và vấn đề này đã các chuyên gia tài chính, các tổ chức

tín dụng cũng như bộ máy quản lý ngân hàng nhà nước dự báo từ những năm trước.

Trong đó, việc M&A cũng như định giá các ngân hàng từng buớc được các Ngân

hàng thương mại thực hiện và điều này cũng đòi hỏi cơng tác định giá ngân hàng ở

Việt Nam phải chuyên nghiệp hơn và từng bước tiếp cận với trình độ quốc tế. Bối

cảnh nêu trên đã chỉ ra ba điểm đáng chú ý:

- Nhu cầu định giá NHTM bắt nguồn từ và song hành với quá trình tái cấu

trúc ngân hàng thương mại.

- Đây là một vấn đề khá phức tạp và mới mẻ.



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 30



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



- Thẩm định giá ngày càng có vai trò quan trọng và khơng thể thiếu được đối

với quá trình cải cách khu vực NHTM nói riêng và tồn hệ thống Ngân hàng nói

chung. Sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán, và quá trình sáp nhậphợp nhất doanh nghiệp ở nước ta, thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà hoạch

định chính sách tài chính phát triển, các nhà đầu tư, cũng như các nhà quản lý doanh

nghiệp.

Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26.06.2007 quy định các phương pháp

thẩm định giá doanh nghiệp gồm: phương pháp tài sản, phương pháp hiện tại hóa

các nguồn tài chính DCF và các phương pháp khác. Tuy nhiên dù giá trị doanh

nghiệp được thẩm định và cơng bố theo phương pháp nào thì cũng không được thấp

hơn giá trị doanh nghiệp được thẩm định theo phương pháp tài sản quy định trong

Nghị định này.

Phương pháp tài sản là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trên cơ sở

đánh giá giá trị thực tế tồn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm xác

định giá trị doanh nghiệp. Có thể nhận thấy phương pháp tài sản là phương pháp

trực tiếp đánh giá giá trị của các tài sản của doanh nghiệp dựa trên các thông tin quá

khứ của doanh nghiệp. Việc dựa trên thơng tin q khứ có thể khơng phản ánh được

hiện tại và tương lai của doanh nghiệp.

Phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) là phương pháp xác định giá trị

doanh nghiệp trên cơ sở khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai.

Phương pháp này đánh giá giá trị gián tiếp của doanh nghiệp dựa trên các dự đoán

về tương lai của doanh nghiệp. Căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp bao gồm:

báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong 5 năm liền kề trước khi xác định giá trị

doanh nghiệp; phương án hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần

hóa từ 3 năm đến 5 năm sau khi chuyển thành công ty cổ phần; lãi suất trả trước của

trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ 10 năm trở lên ở thời điểm gần nhất với thời điểm

xác định giá trị doanh nghiệp và hệ số chiết khấu dòng tiền của doanh nghiệp. DCF

theo Thông tư này chỉ giới hạn trong việc chiết khấu dòng cổ tức của doanh nghiệp.

Số năm tương lai được chọn cũng chỉ bó hẹp trong 3-5 năm.



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 31



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



Như vậy, các NHTM sẽ thực hiện vừa phương pháp tài sản vừa phương pháp DCF :

- Thứ nhất, phương pháp tài sản phải là cái gốc và là “giá sàn” của các các

NHTM, dùng để tham chiếu kết quả của các phương pháp khác. Vì lẽ giá trị NHTM

được xác định theo phương pháp tài sản phản ánh giá thị trường của tài sản NHTM

hiện có, nhưng chưa tính hết giá trị tiềm năng và khả năng sinh lợi trong tương lai

của doanh nghiệp.

- Thứ hai, dù lựa chọn thẩm định giá theo phương pháp nào, đơn vị chịu

trách nhiệm thẩm định giá vẫn phải ước tính giá NHTM theo phương pháp tài sản,

để có cơ sở tham chiếu xem giá NHTM được tính ra theo phương pháp đã chọn có

thỏa mãn ràng buộc “không thấp hơn” mức giá thẩm định theo phương pháp tài sản

hay không.

Trên cơ sở xem xét cách vận dụng mơ hình DCF theo hướng dẫn của Bộ Tài

chính, có đối chiếu với khn khổ lý thuyết về các mơ hình DCF đã trình bày trong

chương 1, chúng ta có thể rút ra một số nhận định hạn chế dưới đây của các mơ

hình.

2.3 NHỮNG HẠN CHẾ VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ TẠI VIỆT NAM

HIỆN NAY

2.3.1 Hạn chế trong phương pháp tài sản

2.3.1.1 Dựa vào số liệu trên bảng cân đối kế tốn

Tồn bộ giá trị tài sản phản ánh trên bảng cân đối kế toán được tập hợp từ

các bảng kê, các sổ tổng hợp mặc dù rất trung thực và khách quan nhưng chỉ

mang tính lịch sử khơng còn phù hợp ở thời điểm định giá ngân hàng ngay cả khi

nền kinh tế khơng có lạm phát. Giá trị còn lại của tài sản cố định phản ảnh trên

sổ kế toán cao hay thấp phụ thuộc vào phương pháp khấu hao mà ngân hàng sử

dụng, phụ thuộc vào thời điểm mà ngân hàng xác định nguyên giá và sự lựa chọn

tuổi thọ của tài sản cố định. Vì vậy giá trị còn lại của tài sản cố định trên sổ kế

tốn thường khơng phù hợp với giá trị thị trường tại thời điểm xác định giá trị

ngân hàng. Phuơng pháp này, có lẽ chỉ nên áp dụng trong việc định giá các ngân

hàng có tỷ suất lợi nhuận thấp hoặc đang gặp khó khăn trong kinh doanh và không



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 32



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



bảo đảm được tốc độ tăng trưởng trong tương lai.

2.3.1.2: Xác định giá trị tài sản thuần theo giá thị trường

Phương pháp này xác định giá trị ngân hàng được sử dụng cũng giống như

kỹ thuật định giá thông thường, giá trị ngân hàng chỉ đơn giản được tính bằng

tổng giá trị thị trường của số tài sản trong ngân hàng tại một thời điểm. Điều đó có

nghĩa là đánh giá giá trị ngân hàng trong một trạng thái tĩnh, ngân hàng đã

không được coi như một thực thể, một tổ chức đang tồn tại và phát triển. Đối với

Ngân hàng thì phuơng pháp này khơng thực tế và chính xác. Do vậy, sẽ khơng có

tầm nhìn chiến lược. Đây là một hạn chế bởi mục đích M&A nhằm mục đích sở

hữu các khoản thu nhập trong tương lai chứ không phải để bán lại ngay các tài sản

hiện thời.

Phương pháp này không cung cấp và xây dựng được những cơ sở và thơng

tin cần thiết để các bên có liên quan đánh giá về triển vọng sinh lời của Ngân hàng,

đó là những lý đó người ta khó mà giải thích được cùng giá trị tài sản thuần như

nhau mà Ngân hàng này lại có giá bán cao hơn Ngân hàng kia (ngay cả khi

khơng có tác động của yếu tố cạnh tranh).

Phương pháp này đã bỏ qua phần lớn các yếu tố phi vật chất nhưng lại có giá

trị thật sự và nhiều khi lại chiếm tỉ trọng rất lớn trong ngân hàng như: trình độ quản

lý, trình độ tay nghề, uy tín, thị phần . Những yếu tố này là nhân tố quan trọng trong

hệ thống ngân hàng.

Trong nhiều trường hợp xác định giá trị tài sản thuần quá phức tạp như xác

định giá trị của một tập đồn có nhiều chi nhánh, nhiều chứng khoán đầu tư ở

nhiều ngân hàng, doanh nghiệp khác nhau, mỗi chi nhánh lại có một số lượng

các tài sản lớn đặc biệt đã qua sử dụng (hoặc khơng còn bán trên thị trường).

Trong trường hợp đó đòi hỏi phải tổng kiểm kê đánh giá lại một cách chi tiết mọi

tài sản của các chi nhánh vẫn đến chi phí tốn kém, thời gian kéo dài, kết quả phụ

thuộc nhiều vào các thông số kỹ thuật của tài sản. Như vậy, sai số có khả năng ở

mức cao.

2.3.2 Hạn chế trong phương pháp DCF



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 33



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



2.3.2.1 Phương pháp hiện tại hóa lợi nhuận thuần

Lợi nhuận tính theo phương pháp này là lợi nhuận kế tốn đã được điều chỉnh

tức là nó khơng chỉ ra chính xác thời điểm phát sinh khoản thu nhập, vì vậy nó

khơng phù hợp với quan điểm nhìn nhận về dòng tiền của nhà đầu tư đa số.

Việc điều chỉnh số liệu quá khứ để rút ra tính quy luật của lợi nhuận trong

tương lai cũng khơng phù hợp với chiến lược của ngân hàng mới thành lập chưa

có số liệu quá khứ, chưa bước sang giai đoạn ổn định để có kết quả ổn định.

2.3.2.2 Phương pháp hiện tại hóa dòng tiền thuần

Phương pháp này được đánh giá là phương pháp phức tạp khi sử dụng để

định giá Ngân hàng. Tuy nhiên, đây lại là phương pháp mà các Ngân hàng thừờng

sử dụng trong định giá và phân tích ngân hàng. Phương pháp phải dự tính các hoạt

động, dịch vụ các giả thuyết về hoạt động của Ngân hàng trong tương lai.

Vì vậy, để đánh giá được kết quả hoạt động của Ngân hàng trong tương lai,

những người làm cơng tác xác định giá phải có trình độ nghiệp vụ kinh doanh và

quản lý cao, có thể đưa ra được nhiều giả thiết thích hợp liên quan đến hoạt động

của Ngân hàng trong tương lai.

Mặc dù vậy đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, giá trị doanh

nghiệp xác định bằng phương pháp này được đánh giá là chuẩn mực để xác định

giá trị thị trường tiềm năng của doanh nghiệp mà họ quan tâm.

2.3.3 Hạn chế trong phương pháp APV

Trên thực tế, không phải tất cả các ngân hàng đều có thể áp dụng việc đánh

giá dòng tiền riêng biệt ở từng bộ phận, từng quốc gia. Đó là vấn đề dữ liệu đầu

vào cho việc đánh giá. Nhiều ngân hàng không thể phân tích thu nhập và dòng tiền

của họ đủ chi tiết để có thể áp dụng việc đánh giá theo từng phần riêng biệt và các

chi phí của cơng ty mẹ có thể được phân bổ về các đơn vị hay các cơng ty con một

cách tuỳ tiện.

Bên cạnh đó, cần được cân nhắc lại khi nhiều phân tích sử dụng mơ hình

APV mà bỏ qua chi phí phá sản có thể có dẫn đến kết luận là giá trị công ty tăng



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 34



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



tương ứng với tỷ lệ nợ trong cấu trúc vốn của công ty đó. Tức là, tỷ lệ nợ tối ưu của

doanh nghiệp là 100%, điều này trái với thực tế. Khuyết điểm này sẽ dẫn đến kết

quả là giá trị của công ty sẽ được đánh giá cao hơn thực tế, đặc biệt là khi tỷ lệ nợ

của công ty quá cao, rõ ràng lúc đó chi phí phá sản khơng thể bằng không.

2.3.4 Một số hạn chế khác làm ảnh hưởng đến phương pháp định giá

2.3.4.1 Cách thức và tác nghiệp M&A còn sơ khai, khó khăn cho việc định giá.

Hiện nay, Việt Nam thiếu một “nơi gặp gỡ” để cho các doanh nghiệp trao đổi

và thực hiện M&A. Trên thực tế hoạt động M&A trên thế giới được thực hiện qua

những tác nghiệp mang tính chuyên nghiệp cao, trong những phòng họp kín. Nội

dung thương thảo M&A bao giờ cũng cần được giữ tuyệt mật cho đến phút chót bởi

chúng có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và giá trị cổ phiếu của các cơng

ty, thậm chí hủy hoại ngay cả dự định sáp nhập đang được tiến hành. Tâm điểm của

hoạt động M&A chính là các công ty tư vấn chuyên nghiệp về hoạt động này. Họ

vừa đóng vai trò mơi giới vừa làm tư vấn cho các bên trong vụ M&A. Các thể chế

tài chính ngân hàng của Mỹ như Citigroup, Goldman Sachs, Morgan Stanley, Merill

Lynch, JPMorgan Chase đều là những công ty tư vấn hàng đầu về M&A trên phạm

vi tồn thế giới.

Do đó, những trao đổi thể hiện trên các trang web như cách một số doanh

nghiệp Việt Nam đang làm chỉ phù hợp để tìm kiếm cơ hội mua bán các cơ sở sản

xuất, cửa hàng, thương hiệu rất khiếm tốn. Do trình độ quản lý của Việt Nam chưa

thể đáp ứng được mức độ hợp tác cao mà các vụ hợp nhất đòi hỏi.

- Nhiều vụ được xếp vào M&A nhưng thực chất thiên về đầu tư tài chính. Trong

một số lĩnh vực tài chính ngân hàng doanh nghiệp nước ngồi cũng khơng có cách

lựa chọn nào khác do những hạn chế mua cổ phần không quá 30% (ngân hàng),

49% (doanh nghiệp niêm yết), như trường hợp ANZ -SSI, Sacombank; Standard

Chatter – Ngân hàng ACB...

2.3.4.2 Việc bảo mật thông tin chưa được tuân thủ một cách chặt chẽ

Đảm bảo tính bảo mật cho hoạt động mua - bán trên những sàn giao dịch này

cũng là một vấn đề đáng lưu ý. Thực tế đã cho thấy, một ngân hàng khi đang trong



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 35



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ĐỊNH GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG MUALẠI VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAMTRONG THỜI GIAN QUA

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×