Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNGMUA LẠI VÀ SÁP NHẬP (M&A) NGÂN HÀNG

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNGMUA LẠI VÀ SÁP NHẬP (M&A) NGÂN HÀNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



chiến lược về kinh tế thì việc định giá như thế nào, mơ hình nào được sử dụng tốt

nhất vẫn là vấn đề đáng quan tâm. Bởi vì ngành ngân hàng là ngành kinh tế tài

chính trọng điểm, chi phối đến nền kinh tế nên luôn được sự theo dõi, quản lý chặt

chẽ của nhà nước

1.2 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG LÊN ĐỊNH GIÁ M&A NGÂN HÀNG

1.2.1 Các yếu tố vi mô:

1.2.1.1 Khả năng sinh lợi của Ngân hàng.

Khi định giá ngân hàng để đầu tư, thực chất nhà đầu tư khơng mua tài sản

đó mà muốn sở hữu dòng thu nhập do tài sản đó mang lại cho họ trong tương lai.

Do đó, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Ngân hàng là mối quan tâm hàng đầu

của nhà đầu tư khi M&A ngân hàng.

Khả năng sinh lợi cao hay thấp sẽ ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến định giá giá trị

Ngân hàng tiến tiến hành M&A. Với các ngân hàng thương mại, khả năng sinh lời

được xem xét qua việc củng cố thanh khoản, về những quy định về tỷ lệ nợ xấu

(0,18% đến 4,5%, theo chuẩn kế toán của Việt Nam), khoản vay bất động sản…

Những yếu tố đó hết sức quan trọng để Ngân hàng nhà nước thanh tra và giám sát

chất lượng tín dụng của các ngân hàng cũng như để chính bản thân Ngân hàng xem

xét hoạt động kinh doanh của mình để xây dựng phương án hoạt động kinh doanh,

tiếp tục mở rộng huy động vốn và tăng trưởng tín dụng, đồng thời đảm bảo khả

năng thanh tốn cho các nhu cầu chi trả, tiến hành phân tích, đánh giá, phân loại các

khoản cho vay kinh doanh bất động sản để có giải pháp phù hợp đối với từng đối

tượng vay vốn.

1.2.1.2 Xu thế của sự tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai.

Đầu tư có nghĩa là mua tương lai, và là hoạt động có tính rủi ro. Chỉ có xu

thế tăng trưởng của lợi nhuận mà doanh nghiệp ngân hàng tạo ra trong tương lai

cao hơn mức lợi tức hiện tại mới hấp dẫn được nhà đầu tư. Bởi vậy, việc M&A

ngân hàng trong những năm 2009, 2010 tăng lên đáng kể do các ngân hàng thu

được lợi nhuận khả quan từ hoạt động tín dụng. Chẳng hạn, với ngân hàng



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 5



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



Vietcombank, báo cáo tài chính của ngân hàng này cho biết lợi nhuận sau thuế trong

6 tháng đầu năm 2010 đạt đến 2.146 tỉ đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước.

Theo đó, thu nhập thuần từ lãi cho vay của ngân hàng này tăng đến 40,7% so với

năm trước, đạt mức 4.190 tỉ đồng. Ngân hàng vừa cổ phần hóa là Vietinbank cũng

đưa ra số liệu khả quan về lợi nhuận với 2.662 tỉ đồng lãi trước thuế trong 6 tháng

đầu năm 2010, đạt hơn 66% chỉ tiêu lợi nhuận năm 2010 của ngân hàng.

Chính vì lẽ đó, việc tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng qua các chỉ tiêu

tài chính càng giúp cho định giá ngân hàng đưa ra những nhận định hiệu quả đến

nhà đầu tư hoặc ngược lại.

1.2.1.3 Sự lành mạnh của tình hình tài chính.

Một ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh sẽ làm giảm rủi ro của

đồng vốn đầu tư, hay nói cách khác các nhà tài chính, ngân hàng đầu tư khác đánh

giá cao các cơ hội đầu tư tương đối an tồn. Những ngân hàng có tiềm lực tài

chính yếu sẽ khó tìm được người mua hoặc phải bán với giá rất thấp. Nhà đầu tư

trả giá thấp để có thể đạt được một tỉ suất lợi nhuận cao bù đắp cho mức rủi ro mà

họ có thể phải gánh chịu.

1.2.1.4 Hiện trạng của tài sản hữu hình.

Tài sản hữu hình là những trang thiết bị cũ hay mới, trình độ cơng nghệ như

thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ

trong tương lai, đồng thời cũng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của chúng

trên thị trường. Điều này sẽ quyết định thị phần của ngân hàng, và trực tiếp ảnh

hưởng đến dòng doanh thu và lợi nhuận mong đợi sẽ kiếm được trong tương lai.

1.2.1.5 Tài sản vô hình.

Các mối quan hệ hợp tác, các nguồn lực và đặc quyền kinh doanh, hợp

đồng thuê bao, thương hiệu, bằng phát minh sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu

hàng hóa, là những yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của Ngân hàng. Các

Ngân hàng danh tiếng sẽ dễ dàng thành công khi tung một sản phẩm mới ra thị

trường. Một sản phẩm mang nhãn hiệu có uy tín bao giờ giá cả cũng cao hơn

những sản phẩm cùng loại khác của các cơng ty vơ danh. Bên cạnh đó yếu tố



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 6



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



nhân sự cũng được kể đến khi định giá.

1.2.1.6 Năng lực hoạt động của con người

Để có được một đội ngũ lao động giỏi, nhiệt tình, có thái độ đúng đắn

trong lao động, đòi hỏi Ngân hàng phải có một chính sách nhân sự phù hợp, phải

xây dựng được văn hoá tổ chức đặc trưng cần thiết mà điều đó khơng thể thực hiện

trong một thời gian ngắn. Do đó vấn đề con người và hoạt động quản lý cực kỳ

quan trọng, quyết định lợi thế nhiều mặt của Ngân hàng. Yếu tố này được quan

tâm khi định giá là lẽ tất nhiên, vì nó quyết định năng suất lao động, một yếu tố chi

phí của đầu vào, đồng thời nó cũng quyết định đến q trình đổi mới cơng nghệ và

hồn thiện dịch vụ cũng như khả năng thích ứng của ngân hàng đối với sự thay đổi

của môi trường kinh doanh

1.2.2 Các yếu tố vĩ mô

1.2.2.1 Môi trường kinh tế

Khi nền kinh tế phát triển tốt thì sự phát triển của NHTM có xu hướng đi lên

và nguợc lại khi kinh tế giảm sút thì sự phát triển của NHTM đi xuống. Như vậy,

nếu dự đoán được xu hướng phát triển của nền kinh tế, thì có thể dự báo được xu

thế phát triển chung của khối Ngân Hàng và từ đó, giá trị định giá các ngân hàng tỷ

lệ thuận với mơi trường kinh tế.

Do đó cần đánh giá mơi trường kinh tế dựa vào các yếu tố sau: tăng trưởng

kinh tế; lãi suất; tỷ giá hối đoái; lạm phát.

1.2.2.2. Mơi trường chính trị pháp luật

Các yếu tố chính trị và luật pháp có ảnh hưởng đến hoạt động của các

NHTM, bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ

thống luật pháp hiện hành, xu hướng ngoại giao của chính phủ, những diễn biến

chính trị trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới.

1.2.2.3. Mơi trường văn hóa xã hội

Các khía cạnh hình thành mơi trường văn hóa - xã hội như: những quan niệm

về đạo đức, lối sống, về nghề nghiệp; những phong tục, tập quán, truyền thống;



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 7



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



những quan tâm ưu tiên của xã hội; trình độ nhận thức, học vấn chung của xã hội....

có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các họat động kinh doanh của Doanh nghiệp ngân hàng.

1.2.2.4. Môi trường công nghệ

Đây là một trong những yếu tố rất năng động, chứa đựng nhiều cơ hội và đe

dọa đối với các doanh nghiệp. Những áp lực và đe dọa từ môi trường công nghệ là

sự ra đời của công nghệ mới làm xuất hiện và tăng cường ưu thế cạnh tranh của các

sản phẩm thay thế, đe dọa các sản phẩm truyền thống. Sự bùng nổ của công nghệ

mới làm cho công nghệ hiện tại bị lỗi thời và tạo ra áp lực đòi hỏi các NHTM phải

đổi mới công nghệ để tăng cường khả năng cạnh tranh.

1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ ÁP DỤNG TRONG NGÂN HÀNG.

Hiện nay trên thế giới đang sử dụng rất nhiều phương pháp để đánh giá

doanh nghiệp: phương pháp vốn hóa lợi nhuận, phương pháp chiết khấu dòng tiền,

phương pháp xác định giá trị theo tài sản, phương pháp so sánh cơng ty, phương

pháp chi phí, phương pháp thâm nhập thị trường,…

Trong thực tế tại Việt Nam, có 3 phương pháp định giá giá trị doanh nghiệp thường

được sử dụng :



Phương pháp thị trường.



Phương pháp tài sản.



Phương pháp thu nhập.

1.3.1 Phương pháp thị trường

+ Phương pháp hệ số thu nhập

Phương pháp so sánh giá thị trường ước tính sự ổn định của các khoản thu

nhập trong tương lai của doanh nghiệp và áp dụng các hệ số tính giá trị doanh

nghiệp. Các khoản thu nhập dùng để nhân hệ số là EBIT, EBITDA, và Doanh thu.

Khi xem xét các khoản thu nhập của doanh nghiệp được đánh giá, các yếu tố

được cân nhắc bao gồm kết quả quá khứ có phản ánh được kết quả hoạt động trong

tương lai hay khơng, có những sự thay đổi lớn trong quá trình hoạt động hay doanh



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 8



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



nghiệp hoạt động theo tính chu kỳ. Ngoài ra giả định hoạt động liên tục cũng được

sử dụng trong phương pháp thị trường.

Các hệ số thường được tính từ các cơng ty niêm yết hoặc từ các nghiệp vụ có

liên quan gần đây nhưng với một sự điều chỉnh phù hợp sau khi cân nhắc đặc thù

của Công ty được định giá.

+ Phương pháp so sánh nghiệp vụ tương đương

-Giá trị thuần của một tài sản là giá của một tài sản tương đương được mua

bán trong cùng các điều kiện giả định. Việc sử dụng phương pháp thị trường đòi hỏi

nghiệp vụ tương đương phải có sẵn, có thể là:



Giá bán của tài sản cùng loại hoặc tương đương trong nghiệp vụ trao

đổingang giá; hoặc



Giá thị trường của việc sở hữu một tài sản cùng loại hoặc tương đương từ

bên độc lập thứ ba.

Tính khả thi của phương pháp so sánh giá thị trường là tính tốn đơn giản

nếu có một nghiệp vụ tương đương. Các nghiệp vụ tương đương này thường được

tìm thấy so sánh nếu tài sản bán được tiếp thị rộng rãi trên thị trường. Sự giới hạn

cơ bản của phương pháp thị trường là sự hiện hữu và tính thời điểm của các nghiệp

vụ tương đương diễn ra vào một ngày gần nhất được dùng để làm cơ sở trong việc

xác định giá trị thuần của tài sản.

1.3.2 Phương pháp tài sản

Phương pháp tài sảń xác định giá trị thuần của tài sản là sự ước tính của chi

phí hiện tại bỏ ra để mua, thay thế hoặc tạo ra tài sản tương tự với cùng chức năng.

Nguyên tắc thay thế là mấu chốt của phương pháp này. Một nhà đầu tư thận trọng

sẽ không trả nhiều hơn số tiền mà họ bỏ ra để thay thế tài sản tương tự khi định mua

tài sản đó.

Giá trị tài sản thay thế sau khi trừ khấu hao được dùng để định giá tài sản khi

những thông tin thị trường bị giới hạn. Đó là giá trị của việc mua, thay thế, hoặc tạo



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 9



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



ra tài sản tương tự trừ đi giá trị những hao mòn vơ hình và hữu hình.

Giá gốc thường được sử dụng để ước tính giá trị hiện tại của tài sản thay thế

được định giá. Khi sử dụng phương pháp tài sản để định giá doanh nghiệp, giá trị

phần vốn chủ sở hữu được tính bằng cách cộng giá trị thuần được đánh giá của tài

sản trừ đi giá trị thị trường của các khoản nợ dùng để tài trợ cho việc mua, tạo ra các

tài sản đó.

Với giả định hoạt động liên tục, phương pháp tài sản phù hợp trong việc xác

định giá trị doanh nghiệp đối với các công ty có nhiều tài sản như các cơng ty đầu tư

hay doanh nghiệp bất động sản hoặc phù hợp với các doanh nghiệp có thu nhập

khơng ổn định hay khơng thể dự báo được.

1.3.3 Phương pháp thu nhập

Phương pháp thu nhập dự báo dòng tiền được tạo ra trong tương lai trong

suốt thời gian sử dụng tài sản.Phương pháp thu nhập ghi nhận giá trị của khoản đầu

tư thông qua lợi ích mang lại trong tương lai bao gồm thu nhập, chi phí cơ hội, ưu

đãi thuế... Phương pháp chiết khấu dòng tiền thường được sử dụng trong phương

pháp thu nhập để định giá công ty thông qua việc ước tính dòng tiền trong tương lai

và chiết khấu về giá trị hiện tại. Lãi suất chiết khấu được tính tốn dựa trên những

rủi ro tiềm tàng của khoản đầu tư và tỷ lệ sinh lợi của thị trường từ những khoản

đầu tư tương tự tại ngày định giá.

Mấu chốt của phương pháp này là dòng tiền, lãi suất chiết khấu và giá trị

cuối cùng. Bước đầu tiên là việc dự báo dòng tiền trong tương lai mà tài sản được

mong đợi sẽ tạo ra. Điều này liên quan đến việc phân tích các số liệu tài chính và

trao đổi với các bộ phận kinh doanh, sản xuất, tài chính kế tốn nhằm mục đích xây

dựng dòng tiền.

Bước tiếp theo là chiết khấu dòng tiền tương lai về giá trị hiện tại theo tỷ lệ

chiết khấu bao gồm các rủi ro đính kèm với tài sản và giá trị thời gian của dòng tiền.

Dòng tiền là khoản tiền đem lại cho nhà đầu tư mà không làm giảm giá trị

hoạt động trong tương lai của cơng ty. Nói cách khác đó là số tiền thuần thu được từ

hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty sau khi trừ đi các khoản đầu tư chi tiêu



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 10



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



để công ty hoạt động liên tục.

Phương pháp thu nhập là phương pháp được áp dụng khá phổ biến ở Việt

Nam và một số mơ hình trong phương pháp này là Mơ hình DDM, FCFE, FCFF,

APV … mà ta sẽ phân tích ngay sau phía dưới.

1.4 MỘT SỐ MƠ HÌNH ĐỊNH GIÁ TRONG PHƯƠNG PHÁP THU NHẬP

1.4.1 Mơ hình DDM.

Mơ hình chiết khấu cổ tức (DDM) xem dòng lợi tức cổ phần là dòng lưu kim

dành cho vốn chủ sở hữu. Có thể nói đây là biến thể cũ nhất của các mơ hình DCF.

Mơ hình này dựa trên ý tưởng cơ bản cho rằng khi một nhà đầu tư mua cổ phiếu của

một cơng ty, nhìn chung họ kỳ vọng nhận được lợi tức cổ phần trong suốt thời gian

cẩm giữ cổ phiếu, và giá trị kỳ vọng của cổ phiếu đó vào cuối giai đoạn cầm giữ

này. Có hai tham số đầu vào cơ bản cho mơ hình DDM là:

-



Dòng cổ tức kỳ vọng;



-



Chi phí vốn chủ sở hữu.



Do những khó khăn trong việc dự báo dòng lưu kim cổ tức kỳ vọng kéo dài mãi mãi

nên người ta đã phát triển một vài phiên bản của DDM dựa trên cơ sở những giả

định khác nhau về dạng thức tăng trưởng tương lai của dòng lưu kim này. Theo đó,

ba phiên bản thường gặp của biến thể DDM là:

-



DDM tăng trưởng ổn định.



-



DDM tăng trưởng hai giai đoạn.



-



DDM tăng trưởng ba giai đoạn.



Mơ hình DDM được ứng dụng khá rộng rãi nhờ tính đơn giản và lơ-gíc mang tính

trực giác của nó:

-



Thứ nhất, dòng lưu kim cổ tức của doanh nghiệp là hữu hình và dễ cảm nhận



đối với các nhà đầu tư vốn chủ sở hữu.

-



Thứ hai, việc dự báo dòng lưu kim cổ tức đòi hỏi ít các giả định hơn so với



việc dự báo dòng lưu kim tự do của vốn chủ sở hữu hay dòng lưu kim tự do của

doanh nghiệp. Để dự báo được FCFE hay FCFF, chúng ta cần có những giả định về

chi tiêu đầu tư cho tài sản cố định, khấu hao, và vốn lưu động. Trong khi đó, để dự



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 11



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



báo dòng cổ tức kỳ vọng, chúng ta có thể bắt đầu từ cổ tức của năm gần nhất và ước

lượng một tốc độ tăng trưởng cổ tức là đủ.

-



Thứ ba, các nhà quản lý có khuynh hướng chia cổ tức ở mức sao cho vẫn có



thể duy trì được ngay cả khi thu nhập biến động. Khơng giống các dòng lưu kim tự

do thăng trầm cùng sự thăng trầm của thu nhập và chi tiêu tái đầu tư, dòng lưu kim

cổ tức vẫn ổn định đối với hầu hết các doanh nghiệp. Vì vậy, việc thẩm định giá dựa

vào cổ tức sẽ ít biến động theo thời gian hơn so với dựa vào các dòng lưu kim tự do.

Theo Aswath Damodaran (2006), mơ hình DDM có thể được vận dụng trong các

bối cảnh sau đây:

-



Một là đối với các doanh nghiệp chi trả cổ tức gần bằng với FCFE.



Tuy nhiên, mơ hình DDM cũng sẽ cung cấp mức giá sàn cho những doanh nghiệp

mà FCFE vượt trội so với dòng cổ tức. Đối với những doanh nghiệp này, mơ hình

DDM sẽ cung cấp một ước lượng dè dặt về giá doanh nghiệp.

-



Hai là đối với các doanh nghiệp mà việc ước lượng dòng lưu kim vốn chủ sở



hữu là khó khăn hoặc thậm chí khơng thể, thì cổ tức là dòng lưu kim duy nhất có thể

ước lượng được với một mức độ chính xác nhất định.

1.4.2 Mơ hình FCFE

Mơ hình FCFE khơng có nhiều khác biệt so với mơ hình DDM truyền thống.

Điểm khác biệt rõ ràng nhất đó là thay vì chiết khấu cổ tức thực tế, mơ hình FCFE

tiến hành chiết khấu cổ tức tiềm năng. Do vậy, ba phiên bản của mơ hình FCFE

trình bày trong phần này cũng tương tự như ba phiên bản của mơ hình DDM trước

đây, nhưng trong đó lợi tức cổ phần được thay thế bằng dòng lưu kim tự do của vốn

chủ sở hữu. Xem thêm trong Phụ lục 4 của luận văn.

1.4.3 Mơ hình FCFF

Trong mơ hình FCFF, chúng ta thẩm định giá doanh nghiệp, thay vì vốn chủ

sở hữu. Ý tưởng đằng sau việc thẩm định giá doanh nghiệp là quan niệm cho rằng

chủ sở hữu và tổ chức cho vay đối với doanh nghiệp dù gì vẫn là các đối tác cung

cấp vốn cho doanh nghiệp và chia sẻ sự thành công của doanh nghiệp. Sự khác biệt

chủ yếu giữa chủ sở hữu và chủ nợ trong các mơ hình thẩm định giá doanh nghiệp



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 12



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



nằm ở bản chất quyền lợi được xác lập của họ đối với dòng lưu kim: chủ nợ được

giải quyết quyền lợi bằng một khoản lưu kim cố định và chủ sở hữu nhận quyền lợi

dựa trên phần lưu kim còn lại.

Cũng giống như mơ hình DDM và mơ hình FCFE, cách áp dụng cụ thể mơ

hình FCFF sẽ phụ thuộc vào những giả định về dạng thức tăng trưởng trong tương

lai của dòng lưu kim kỳ vọng. Theo đó, ta cũng sẽ có ba phiên bản tăng trưởng của

mơ hình này được trình bày trong phụ lục 5 của luận văn.

1.4.4 Mơ hình giá trị hiện tại hiệu chỉnh (APV)

Trong mơ hình này, chúng ta tách những tác động lên giá trị của nguồn tài

trợ nợ vay ra khỏi giá trị của những tài sản của doanh nghiệp. Nếu như các cách tiếp

cận truyền thống thể hiện những tác động của nguồn tài trợ nợ vay trong tỷ suất

chiết khấu, thì mơ hình APV lại cố gắng ước lượng giá trị kỳ vọng của những lợi

ích hoặc phí tổn do nợ vay tạo ra một cách tách biệt so với giá trị của những tài sản

hoạt động. Theo mô hình này, giá trị của doanh nghiệp được xác định như sau:

Giá trị doanh nghiệp = Giá trị của doanh nghiệp khi không vay nợ + giá trị

hiện tại của lá chắn thuế kỳ vọng của nợ vay – Chi phí phá sản kỳ vọng.

Theo đó, lý thuyết của mơ hình APV được trình bày trong phụ lục 5 của luận văn

1.5 THỰC TRẠNG ĐỊNH GIÁ M&A CÁC NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

1.5.1 Thực trạng M&A các ngân hàng trên thế giới :

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, làn sóng sáp nhập ngân hàng đã diễn ra mạnh

mẽ hơn một thập kỷ nay. Có nhiều động cơ thúc đẩy hoạt động sáp nhập và mua lại

như: tối đa hoá tài sản của cổ đông (tăng giá trị cổ phiếu) hay tăng cường lợi ích của

các khoản thu nhập sau khi sáp nhập; tối đa hố lợi ích của nhà quản lý. Ngoài ra,

động cơ giải cứu các ngân hàng sụp đổ thường được các ngân hàng trung ương và

các cơ quan pháp luật các nước khuyến khích. Lý do đây là phương pháp để bảo vệ

khoản dự trữ bảo hiểm tiền gửi và tránh cho việc phục vụ khách hàng bị gián đoạn

khi ngân hàng có nguy cơ phá sản.

1.5.1.1Hoạt động M&A tại Mỹ.



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 13



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



Làn sóng sáp nhập, mua lại ngân hàng đã tạo nên diện mạo sâu sắc trong

ngành tài chính ngân hàng ở Mỹ. Sau gần 30 năm từ năm 1980 đến năm 2004 số

ngân hàng dạng công ty mẹ và công ty cầm cố đã giảm một nửa từ 16.000 ngân

hàng còn khoảng 8.000 ngân hàng, tuy số lượng ngân hàng ít đi nhưng tổng tài sản

của các ngân hàng tăng nhanh và là các ngân hàng “khỏe mạnh” trong các vụ sáp

nhập.

Trong ba thập kỷ gần đây các thương vụ sáp nhập, mua lại đã tạo ra những

tập đoàn TCNH khổng lồ trong bối cảnh nền tài chính Mỹ có những giai đoạn thăng

trầm với nhiều cuộc khủng hoảng và tăng trưởng tài chính.

Năm 2007, tại khu vực châu Mỹ đã thực hiện thành công 11.601 vụ M&A

với tổng giá trị lên đến 1.980 tỷ USD, tăng 27,2% so với năm 2006. Hiện tại, 10

ngân hàng thương mại lớn nhất nước Mỹ kiểm soát 49% tổng giá trị tài sản của

ngành ngân hàng trong nước, so với mức 29% cách đây 10 năm. Từ đầu năm 2009

đến đến tháng 6 năm 2009, đã có 37 ngân hàng buộc phải đóng cửa và phải bán tài

sản của mình so với 25 ngân hàng bị đóng cửa trong năm 2008. Tính đến hết quý 1

năm 2009, FDIC đã đưa trên 300 ngân hàng Hoa Kỳ vào diện “có vấn đề” so với

252 ngân hàng vào quý 4 năm 2008 – cao hơn 21% so với cùng kỳ năm 2008 và cao

nhất trong 15 năm. Trong năm 2009, vụ sụp đổ lớn nhất là ngân hàng Bank United

vào ngày 21 tháng 5 được giải quyết theo hình thức bán cho các nhà đầu tư tư nhân

và vẫn hoạt động với tên gọi cũ.

1.5.1.2Hoạt động M&A tại Châu Âu.

Hoạt động M&A đã hiện diện trong nền kinh tế thị trường ở Châu Âu từ rất

sớm và nhanh chóng lan sang ngành tài chính ngân hàng trong thời gian gần đây với

quy mô ngày càng lớn, hình thành nên những tập đồn tài chính ngân hàng khổng

lồ. Trong top 70 tập đoàn kinh tế lớn nhất tồn cầu do tạp chí Forbes bình chọn có

tới 21 tập đồn tài chính ngân hàng ở Châu Âu chiếm 30%, điều này cho thấy các

tập đồn tài chính ngân hàng ở Châu Âu khá nhiều và không ngừng phát triển như

là một đối trọng với tập đồn tài chính ngân hàng tại Mỹ. Năm 2007, tại khu vực



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 14



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Luận văn thạc sĩ



Ứng dụng mơ hình định giá trong mua lại và sáp nhập NHTM



châu Âu đã thực hiện thành công 9.936 vụ M&A với tổng giá trị lên đến 1.301 tỷ

USD, tăng 18,5% so với năm 2006.

1.5.1.3Hoạt động M&A tại Châu Á.

Làn sóng sáp nhập và mua lại trong lĩnh vực tài chính tại khu vực châu Á bắt

đầu mạnh sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 bắt nguồn từ Thái Lan.

Sau cuộc khủng hoảng này các ngân hàng thúc đẩy việc sáp nhập và mua lại để

nhanh chóng tăng doanh thu và lợi nhuận, đồng thời cắt giảm chi phí để phục hồi

nhanh nền kinh tế sau khủng hoảng. Năm 2007, tại khu vực châu Á đã thực hiện

thành công 6.821 vụ M&A với tổng giá trị lên đến 466 tỷ USD, tăng 35,4 % so với

năm 2006. Hiện nay, tại Trung Quốc, các ngân hàng đang thoát khỏi sự kiểm soát

của nhà nước bằng cách bán cổ phần cho người nước ngoài và các nhà đầu tư trên

thị trường chứng khốn. Trong khi đó, năm 2009, 3 siêu ngân hàng mới ở Nhật Bản

đã mua lại 11 ngân hàng cũ và hiện đang sắp xếp lại hoạt động của các ngân hàng

này.

Tại các quốc gia đang phát triển hoặc chuyển đổi, hệ thống ngân hàng hầu

như còn rất non trẻ, nên qui mơ khơng lớn, kinh nghiệm kinh doanh chưa nhiều, sản

phẩm còn nghèo nàn, luật lệ kinh doanh chưa rõ ràng, đầy đủ nên lý do dẫn đến việc

sáp nhập, sáp nhập các ngân hàng ở các nước chủ yếu là do chính phủ muốn sắp

xếp, củng cố hệ thống ngân hàng nhằm tăng cường qui mơ vốn, an tồn trong kinh

doanh ngân hàng như các nước Nga, Bungari, các nước Đông Nam Á sau khủng

hoảng tài chính tiền tệ 1997.

Bảng 1.1 : Các vụ M&A ngân hàng điển hình trên thế giới

Năm



Bên bán



Bên mua



Giá trị (tỉ USD)



2007 ABN Amro



RBS, Santander, Fortis



96.6 (đề nghị)



2007 ABN Amro



Barclays



89.7 (đề nghị)



2005 UFJ Holdings



Mitsubishi Tokyo Financial Group



59.1



2004 Bank One



JP Morgan Chase



56.9



SVTH : Nguyễn thị Kim Ngọc

Nguyệt



Trang 15



GVHD : PGS.TS Phan Thị Bích



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNGMUA LẠI VÀ SÁP NHẬP (M&A) NGÂN HÀNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×