Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Khoa Toán Kinh tế



CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN XẾP HẠNG TÍN DỤNG TRÊN THẾ

GIỚI VÀ VIỆT NAM

Giới thiệu

Khái niệm xếp hạng tín dụng được đưa ra lần đầu tiên bởi Moody trong

cuốn “Cẩm nang chứng khốn đường sắt” vào năm 1909. Theo đó, xếp hạng tín

dụng là ý kiến về khả năng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng

hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời gian tồn tại của khoản nợ. Sau

này, khái niệm này được đưa ra bởi nhiều cách khác nhau, trong đó đáng chú ý là

khái niệm của Samir El Daher khi cho rằng xếp hạng tín dụng là đánh giá mức độ

tín nhiệm của đối tượng vay nợ (có thể là một cá nhân, một doanh nghiệp, một

công ty hoặc một cơ quan chính phủ) xét về góc độ chấp hành các quy định tài

chính cụ thể, do đó có thể là một nhóm các quy định hoặc chỉ là một chương

trình tài chính nhỏ nào đó như là một hợp đồng thương mại. Việc phân loại dựa

trên xác suất vỡ nợ, đây là tiêu chí phản ánh khả năng và sự sẵn sàng trả nợ của

đối tượng cả lãi và gốc theo quy định của khoản vay. Xếp hạng tín dụng phản ánh

q trình ước lượng các thơng tin định tính và định lượng của một cơ quan xếp

hạng tín dụng dành cho doanh nghiệp vay nợ trong tương lai, bao gồm những

thơng tin được cung cấp bởi chính doanh nghiệp và các thông tin không công

khai được tiếp nhận bởi các nhà phân tích của cơ quan đó.

Một bản báo cáo tín dụng (thẻ điểm) biểu diễn giá trị tín dụng của một cá

nhân được thực hiện bởi các tổ chức báo cáo tín dụng khách hàng. Có thể kể tới

các tổ chức đánh giá tín dụng bậc nhất trên thế giới bao gồm Moody’s, Standard

& Poor’s và Fitch Group. Các tổ chức này sử dụng các kì hiệu bằng các chữ cái

như A, B, C… với mức hạng càng cao thì rủi ro vỡ nợ càng thấp.

Các hình thức báo cáo tín dụng và đưa ra thẻ điểm chủ yếu gồm xếp hạng

tín dụng quốc gia và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp. Xếp hạng tín dụng quốc

gia cho biết mức độ rủi ro của môi trường đầu tư trong một quốc gia và được các

nhà đầu tư sử dụng khi muốn tìm kiếm cơ hội đầu tư tại những chính quyền cụ

thể, và đo lường rủi ro chính sách tại quốc gia đó. Xếp hạng tín dụng doanh

nghiệp gồm xếp hạng ngắn hạn và dài hạn. Xếp hạng tín dụng ngắn hạn đánh giá

khả năng vỡ nợ của các đối tượng trong một năm, còn xếp hạng tín dụng dài hạn

đánh giá khả năng đó trong khoảng thời gian lớn hơn một năm. Trước kia, các

doanh nghiệp và tổ chức tài chính có xu hướng dựa vào các đánh giá dài hạn, còn

hiện nay các đánh giá ngắn hạn lại đang dần được ưa chuộng hơn.

Quy trình xếp hạng tín dụng trên thế giới bao gồm các bước chính:

Nguyễn Nhật Linh - 11132244



2



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Khoa Toán Kinh tế



-



Xác định đối tượng và mục đích xếp hạng.

Thu thập thơng tin về đối tượng cần xếp hạng.

Phân tích thơng tin, lựa chọn phương pháp thích hợp để phân tích.

Rút ra kết luận và đánh giá ban đầu.

Đưa ra kết quả đánh giá chính thức.

Tại Việt Nam, do cơng tác xếp hạng tín dụng còn khá mới mẻ nên hiện chỉ

có CIC thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là tổ chức uy tín và phổ biến nhất.

1.1. Tổng quan về xếp hạng tín dụng nước ngồi

1.1.1. Phương pháp xếp hạng tín dụng của Standard & Poor’s

Standard & Poor’s là một công ty dịch vụ tài chính có trụ sở tại Hoa Kỳ.

Đây là một trong các cơ quan xếp hạng tín dụng lớn và uy tín nhất thế giới. S&P

đưa ra các đánh giá tín dụng cả dài hạn và ngắn hạn cho các tổ chức công và tư.

Trong đánh giá vay nợ dài hạn, S&P đánh giá doanh nghiệp vay nợ từ

mức AAA cho tới D.

Bảng 1-1: Các mức hạng tín dụng dài hạn của Standard & Poor’s

Mức hạng

AAA



AA

A

BBB



BB



B

CCC



Chú thích

Đây là mức hạng cao nhất trong thang đo xếp hạng toàn cầu của

S&P. Doanh nghiệp vay nợ có khả năng đáp ứng các giao ước tài

chính cực kì cao.

Đây cũng là một mức cao trong thang đo và chỉ kém mức AAA

một mức độ nhỏ. Doanh nghiệp vay nợ có khả năng đáp ứng các

giao ước tài chính rất cao.

Doanh nghiệp vay nợ có khả năng đáp ứng các giao ước tài chính

cao nhưng có chút nhạy cảm hơn với các hiệu ứng bất lợi.

Doanh nghiệp vay nợ vẫn có khả năng đáp ứng các giao ước tài

chính ở mức thích hợp. Tuy nhiên, các điều kiện tài chính bất lợi

hoặc sự thay đổi của hồn cảnh sẽ làm giảm đi khả năng đó.

Bắt đầu từ hạng BB cho tới hạng C, doanh nghiệp vay nợ sẽ bị xếp

vào nhóm có dấu hiệu đầu cơ cao. Doanh nghiệp này luôn phải đối

mặt với các bất ổn liên tục hay bị ảnh hưởng trước các điều kiện

kinh tế, tài chính, kinh doanh bất lợi khiến người đi vay khơng còn

đủ khả năng để đáp ứng các giao ước tài chính.

Doanh nghiệp chịu khả năng vỡ nợ cao hơn hạng BB. Mặc dù

doanh nghiệp vẫn có khả năng đáp ứng các giao ước tài chính,

nhưng trong các hoàn cảnh bất lợi liên quan đến kinh tế, tài chính

hoặc kinh doanh, khả năng này có thể sẽ bị ảnh hưởng.

Doanh nghiệp chịu khả năng vỡ nợ cao trong thời điểm hiện tại và

cao hơn hạng B. Khả năng đáp ứng các giao ước tài chính phải phụ



Nguyễn Nhật Linh - 11132244



3



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Khoa Tốn Kinh tế



CC



C



D



NR



thuộc vào các hồn cảnh liên quan đến kinh tế, tài chính hoặc kinh

doanh thích hợp. Nếu khơng, khả năng này khơng còn nữa.

Doanh nghiệp chịu khả năng vỡ nợ cao trong thời điểm hiện tại

hơn hạng CCC. Hạng này được sử dụng khi tình trạng vỡ nợ chưa

xảy ra nhưng S&P đã coi nó hiển hiện ở ngay trước mắt, bất chấp

thời điểm vỡ nợ đã được tiên liệu thế nào.

Doanh nghiệp chịu khả năng vỡ nợ cao trong thời điểm hiện tại

hơn hạng CC. Khoản nợ này được kì vọng có thời gian ít hơn hoặc

độ phục hồi cơ bản thấp hơn các khoản nợ được xếp hạng cao hơn.

Doanh nghiệp vay nợ sẽ rơi vào tình trạng vỡ nợ. Hạng D dành

cho các khoản nợ khơng được hồn trả đúng hạn, trừ khi S&P tin

rằng việc thanh toán sẽ được thực hiện trước thời hạn nhưng

không quá 5 ngày làm việc. Hạng này sẽ được áp dụng khi chủ thể

nộp đơn xin phá sản hoặc có hành động tương tự, và ảnh hưởng

nghiêm trọng đến việc trả nợ. Ngoài ra hạng D cũng được thực

hiện khi hồn tất việc hốn đổi: khoản nợ được mua lại hoặc hốn

đổi bằng một cơng cụ khác với tổng giá trị dưới mệnh giá.

Không đánh giá, ám chỉ ngun nhân vì khơng đủ thơng tin hoặc

vấn đề liên quan đến chính sách của S&P.



Trong đó:

- Các mức hạng AAA cho tới BBB được xếp vào loại đầu tư.

- Các mức hạng từ BB đến C được xếp vào loại khơng đầu tư và mang

tính đầu cơ cao. Mặc dù các khoản nợ này vẫn có chất lượng và khả năng bảo vệ

nhất định, nhưng các đặc điểm này có thể bị lấn át bởi các yếu tố bất trắc trước

hồn cảnh mơi trường kinh doanh thay đổi bất lợi. Trong các mức hạng rơi vào

nhóm đầu cơ, mức độ tổn thương của các khoản nợ tăng dần theo các hạng BB,

CCC, CC và C.

- Các mức hạng từ AA tới CCC có thể được thêm dấu cộng (+) hoặc dấu

trừ (-) tương đương với nâng bậc hoặc hạ bậc để thể hiện mức xếp hạng tương

đối so với mức chính.

Trong đánh giá vay nợ ngắn hạn, S&P đánh giá doanh nghiệp vay nợ theo

các mức từ A-1 cho tới D, trong đó:

- Các mức hạng A-1, A-2 và A-3 được xếp vào nhóm đầu tư, thể hiện doanh

nghiệp có cơng tác tín dụng ở mức tốt.

- Các mức hạng B, C và D được xếp vào nhóm khơng đầu tư và có dấu hiệu

đầu cơ.

Cụ thể về ý nghĩa của các mức hạng được trình bày ở bảng 1-2:

Nguyễn Nhật Linh - 11132244



4



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Khoa Toán Kinh tế



Bảng 1-2: Các mức hạng tín dụng ngắn hạn của Standard & Poor’s

Mức hạng



Chú thích

Doanh nghiệp vay nợ được xếp vào hạng cao nhất trong thang đo

A-1

S&P. Khi đó khả năng đáp ứng các giao ước tài chính của người

vay là cực kì cao.

Đói tượng vay nợ có chút nhạy cảm với các hiệu ứng bất lợi liên

A-2

quan đến hồn cảnh tài chính, tuy nhiên khả năng đáp ứng các giao

ước tài chính của doanh nghiệp vẫn ở mức hài lòng.

Doanh nghiệp vay nợ vẫn có khả năng đáp ứng các giao ước tài

A-3

chính ở mức thích hợp, tuy nhiên các điều kiện tài chính bất lợi

hoặc sự thay đổi của hồn cảnh sẽ làm giảm đáng kể khả năng đó.

Doanh nghiệp vay nợ được đưa vào nhóm có dấu hiệu đầu cơ, hiện

tại doanh nghiệp vẫn có khả năng đáp ứng các giao ước tài chính

B

nhưng đối mặt với những vấn đề khơng chắc chắn có thể ảnh

hưởng khả năng này.

Doanh nghiệp vay nợ ở mức hạng này có sự nhạy cảm rõ rệt với

các hiệu ứng bất lợi. Khả năng đáp ứng các giao ước tài chính phải

C

phụ thuộc vào các hồn cảnh liên quan đến kinh tế, tài chính hoặc

kinh doanh thích hợp.

Doanh nghiệp vay nợ sẽ rơi vào tình trạng vỡ nợ. Hạng D dành

cho các khoản nợ không được hoàn trả đúng hạn, trừ khi S&P tin

rằng việc thanh tốn sẽ được thực hiện trước thời hạn nhưng

khơng q 5 ngày làm việc. Hạng này sẽ được áp dụng khi chủ thể

D

nộp đơn xin phá sản hoặc có hành động tương tự, và ảnh hưởng

nghiêm trọng đến việc trả nợ. Ngoài ra hạng D cũng được thực

hiện khi hoàn tất việc hoán đổi: khoản nợ được mua lại hoặc hốn

đổi bằng một cơng cụ khác với tổng giá trị dưới mệnh giá.

1.1.2. Phương pháp xếp hạng tín dụng của Fitch Group

Giống như Standard & Poor’s, Fitch Group là một trong những cơ quan

xếp hạng tín dụng lớn nhất trên thế giới. Năm 1975, công ty được nhận định là

Tổ chức xếp hạng thống kê quốc gia (NRSRO). Fitch Group có hai trụ sở, một ở

New York, Mỹ và một ở London, Vương quốc Anh.

Trong đánh giá dài hạn, giống như S&P, Fitch Group đánh giá doanh

nghiệp vay nợ từ mức AAA cho tới D và có thể đưa ra các hướng doanh nghiệp

đó có thể được nâng bậc, hạ bậc hoặc trung gian.



Nguyễn Nhật Linh - 11132244



5



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Khoa Toán Kinh tế



Trong đánh giá ngắn hạn, cách chấm điểm của Fitch Group có sự khác

biệt với S&P. Công ty này thay thế các mức hạng A bằng các mức hạng F1, F2 và

F3.

Bảng 1-3: Các mức hạng tín dụng ngắn hạn của Fitch Group

Mức hạng

F1+

F1

F2



F3



B



C

D



Chú thích

Doanh nghiệp được xếp vào thứ hạng cao nhất trong thang đo, chỉ

ra khả năng đáp ứng các giao ước tài chính của doanh nghiệp này

đặc biệt cao.

Doanh nghiệp được xếp vào thứ hạng cao, chỉ ra khả năng đáp ứng

các giao ước tài chính cao của doanh nghiệp này.

Doanh nghiệp có thứ hạng tốt với khả năng đáp ứng các giao ước

tài chính ở mức thỏa mãn tuy khơng thực sự tốt cho lắm.

Doanh nghiệp có thứ hạng ở mức khá, có khả năng đáp ứng các

giao ước tài chính ở mức thích hợp nhưng các giao ước của doanh

nghiệp này sẽ chịu ảnh hưởng bởi những điều kiện bất lợi trong

tương lai gần.

Doanh nghiệp thể hiện tính đầu cơ cao và có khả năng đáp ứng các

giao ước tài chính rất nhỏ và dễ bị tổn thương từ những thay đổi

bất lợi trong ngắn hạn có liên quan đến các điều kiện kinh tế và tài

chính.

Doanh nghiệp có rủi ro vỡ nợ cao. Khả năng đáp ứng các giao ước

tài chính phải phụ thuộc vào các hồn cảnh liên quan đến kinh tế,

tài chính hoặc kinh doanh thích hợp.

Doanh nghiệp rơi vào tình trạng vỡ nợ và khơng thể đáp ứng các

giao ước tài chính.



1.1.3. Phương pháp xếp hạng tín dụng của Moody’s

Moody's được thành lập vào năm 1909 bởi John Moody để sản xuất các

hướng dẫn thống kê liên quan đến kho hàng và tín dụng và trái phiếu tín dụng.

Năm 1975, cơng ty được nhận định là Tổ chức xếp hạng thống kê quốc gia

(NRSRO).

Dịch vụ nhà đầu tư của Moody, hay còn gọi là thang Moody, là mức đánh

giá trái phiếu tín dụng trong kinh doanh của tập đồn Moody, qua đó phản ánh về

đường lối kinh doanh và lịch sử tên gọi của tập đoàn. MIS cung cấp cho quốc tế

những nghiên cứu tài chính về vấn đề tín dụng bởi các cơ quan chính phủ hoặc

thương mại. MIS cùng với Standard & Poor's và Fitch Group trở thành 3 ông lớn

về lĩnh vực xếp hạng tín dụng.



Nguyễn Nhật Linh - 11132244



6



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Khoa Toán Kinh tế



MIS sẽ tiến hành xếp hạng khả năng thanh toán nợ của đối vay bằng việc

sử dụng thang đo đã chuẩn hóa mà từ đó sẽ đo lường những tổn thất của các nhà

đầu tư trong những sự kiện thiếu hụt. Cơng ty này xếp hạng mức nợ chứng khốn

trong nhiều phân khúc thị trường liên quan đến chứng khoán cơng và thương mai

trong thị trường tín dụng. Trong đó bao gồm chính phủ, tín dụng thành thị và tín

dụng hợp tác; những nơi quản lý đầu tư như thị trường quỹ tiền tệ, quỹ khôi phục

thu nhập và quỹ hàng rào; viện tài chính bao gồm cơng ty tài chính ngân hàng và

phi ngân hàng.

Theo Moody's, mục đích của việc xếp hạng là để cung cấp cho các nhà

đầu tư một hệ thống bậc đơn giản mà nhờ đó, việc dự đoán khả năng thanh toán

nợ chứng khoán sẽ trở nên khả thi trong tương lai.

Trong MIS hệ thống xếp hạng dài hạn sẽ được ghi theo một mức từ Aaa

tới C, với Aaa là chất lượng cao nhất và C là chất lượng thấp nhất. Mỗi một thứ

hạng từ Aa đến Caa, Moody's thêm các con số 1, 2 và 3; con số càng thấp thì xếp

hạng càng cao. Hạng Aaa, Ca và C thì sẽ khơng thêm số. Ngồi ra, thứ hạng này

khơng phản ánh tới giá cả thị trường, mặc dù điều kiện thị trường lại tác động tới

rủi ro tín dụng.

Trong đánh giá dài hạn, Moody’s xếp hạng các doanh nghiệp như sau:

Bảng 1-4: Các mức hạng tín dụng dài hạn của Moody’s

Mức hạng

Aaa

Aa1

Aa2

Aa3

A1

A2

A3

Baa1

Baa2

Baa3

Ba1

Ba2

Ba3

B1

B2

B3

Caa1

Caa2

Caa3

Ca



Chú thích

Chất lượng cao nhất và mức rủi ro tín dụng thấp nhất.

Chất lượng cao và mức rủi ro tín dụng rất thấp.

Chất lượng trên trung bình và mức rủi ro thấp.

Chất lượng trung bình, với một vài yếu tố đầu cơ và mức rủi ro tín

dụng vừa phải.

Có yếu tố đầu tư, nhưng rủi ro tín dụng ở mức đáng kể.

Có yếu tố đầu tư, nhưng mức rủi ro tín dụng cao.

Chất lượng thấp mà mức rủi ro tín dụng rất cao.

Có tính đầu cơ cao và có khả năng gần như thiếu hụt, nhưng còn



Nguyễn Nhật Linh - 11132244



7



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Khoa Tốn Kinh tế



C



có khả năng hoàn vốn và lãi.

Chất lượng thấp nhất, thường thiếu hụt và khả năng hoàn lại vốn

hay lãi đều thấp.



Trong đó:

- Mức hạng từ Aaa đến Baa3 được xếp vào loại đầu tư.

- Mức hạng từ Ba1 đến C được xếp vào loại có dấu hiệu đầu cơ.

Trong đánh giá ngắn hạn, MIS chỉ xếp hạng từ P-1, P-2 và P-3 cho nhóm

đầu tư còn nhóm đầu cơ sẽ bị rơi vào nhóm Khơng xếp hạng.

Bảng 1-5: Các mức hạng tín dụng ngắn hạn của Moody’s

Mức hạng

P-1

P-2

P-3



Chú thích

Tương ứng với hạng từ Aaa tới A2, doanh nghiệp có khả năng

hoàn trả nợ ngắn hạn tốt nhất.

Tương ứng với hạng từ Aaa tới A2, doanh nghiệp có khả năng

hồn trả nợ ngắn hạn cao.

Tương ứng với hạng từ Aaa tới A2, doanh nghiệp có khả năng

hồn trả nợ ngắn hạn chấp nhận được.



1.2. Thực tiễn xếp hạng tín dụng ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay, tổ chức chuyên về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp

phổ biến nhất là Trung tâm Thơng tin tín dụng Quốc gia Việt Nam - CIC. Được

Ngân hàng Nhà nước thành lập vào năm 1999, trung tâm có chức năng thu nhận,

lưu trữ, phân tích, xử lý, dự báo thơng tin tín dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý

nhà nước của Ngân hàng Nhà nước; thực hiện các dịch vụ thông tin ngân hàng

theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và của pháp luật. CIC xây dựng chỉ số

xếp hạng tín dụng bằng phương pháp chấm điểm. Quy trình phân tích xếp hạng

tín dụng tại CIC gồm các bước sau:

Bước 1: Thu thập thông tin

Bước 2: Phân loại doanh nghiệp theo ngành

Bước 3: Phân loại doanh nghiệp theo quy mô

Bước 4: Xây dựng các chỉ tiêu phân tích

Bước 5: Tổng kết kết quả tính điểm

Bước 6: Đưa ra chỉ số xếp loại

Bước 7: Nhận xét tình hình hoạt động của doanh nghiệp

• Trước đây, CIC phân loại doanh nghiệp thành 4 ngành kinh tế chủ yếu:

- Ngành nông, lâm, ngư nghiệp.

- Ngành công nghiệp.



Nguyễn Nhật Linh - 11132244



8



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Khoa Toán Kinh tế



- Ngành xây dựng.

- Ngành thương mại dịch vụ.

• Hiện nay, CIC phân doanh nghiệp thành 8 ngành kinh tế:

- Trồng trọt, chăn nuôi.

- Chế biến các sản phẩn nông lâm ngư nghiệp

- Xây dựng.

- Thương mại hàng hóa.

- Dịch vụ

- Cơng nghiệp năng lượng (điện, than, dầu khí).

- Cơng nghiệp chế tạo.

- Cơng nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.

Đối với các doanh nghiệp có nhiều lĩnh vực hoạt động kinh doanh khác

nhau thì CIC phân loại dưa vào ngành kinh doanh chính. Ngành kinh doanh

chính của doanh nghiệp (theo CIC) là hoạt động tạo ra doanh thu lớn nhất cho

doanh nghiệp.

Tại một số ngân hàng, tổ chức tài chính có hệ thống kiểm sốt rủi ro khắt

khe, khi doanh nghiệp chạm mức nợ xấu nhóm 3 thì khơng bao giờ ngân hàng đó

cấp tín dụng cho doanh nghiệp đó nữa, cho dù là bao nhiêu năm đã qua đi nữa.

• Về q trình xây dựng các chỉ tiêu phân tích, CIC phân loại các chỉ tiêu

đánh giá gồm các chỉ tiêu tài chính và các chỉ tiêu phi tài chính.

Các chỉ tiêu tài chính được sử dụng trong xếp hạng tín dụng được chia làm

các nhóm như sau:

- Nhóm chỉ tiêu thanh khoản.

- Nhóm chỉ tiêu hoạt động.

- Nhóm chỉ tiêu cân nợ.

- Nhóm chỉ tiêu thu nhập.

Các loại chỉ tiêu được chia vào các nhóm trên bao gồm:

- Khả năng thanh tốn ngắn hạn (đơn vị: lần)



Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết quy mô những khoản phải trả ngắn

hạn được bù đắp bởi những tài sản có dự kiến sẽ chuyển đổi thành tiền trong một

thời gian ngắn, dùng để kiểm tra trạng thái vốn lưu động và tính thanh khoản;

xem xét mức độ bảo vệ người cho vay trong trường hợp doanh nghiệp vay ngắn

hạn để tài trợ vốn lưu động, thể hiện sự an toàn của người cho vay ngắn hạn. Chỉ

tiêu này sẽ gây ảnh hưởng ngược chiều với xác suất vỡ nợ.



Nguyễn Nhật Linh - 11132244



9



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Khoa Toán Kinh tế



Đối với chỉ tiêu này:

Khoảng giá trị từ 1  4 là chấp nhận được.

Nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1: Dùng vốn ngắn hạn để đầu tư cho tài sản cố

định  Rủi ro trong thanh toán ngắn hạn.

Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 4: Khơng tốt, có thể vì sử dụng không tốt khoản

tiền đi vay, quỹ tiền mặt tồn động nhiều.

- Khả năng thanh toán nhanh (đơn vị: lần)



Tỉ lệ này cho biết khả năng chuyển đổi các tài sản có của doanh nghiệp

thành tiền để đáp ứng yêu cầu thanh toán cấp thiết cho các khoản nợ.

Giá trị của tỉ lệ càng cao chứng tỏ độ rủi ro thấp. Tuy nhiên điều này cũng

có ý nghĩa rằng hiệu quả quản lí tài sản lưu động chưa tốt vì những tài sản này có

tỉ lệ sinh lời thấp đối với doanh nghiệp. Nếu tỉ lệ nhỏ thì khả năng đáp ứng nghĩa

vụ nợ ngắn hạn kém. Giá trị có thể chấp nhận được là 1  2.

-



Vòng quay hàng tồn kho (đơn vị: vòng)



Hệ số này thấp chứng tỏ giá trị của các loại hàng hóa tồn kho quá cao so

với doanh thu; số ngày hàng năm trong kho lâu; hiệu quả quản trị ngân quỹ của

doanh nghiệp thấp vì lượng tiền tồn động trong hàng hóa q lâu. Vì vậy, chỉ tiêu

này có tác động ngược chiều tới xác suất vỡ nợ.

- Kì thu tiền bình quân (đơn vị: ngày)



Hệ số này cho biết số ngày thu hồi tiền bán hàng bình quân. Giá trị này

càng cao chứng tỏ hiệu quả thu hồi nợ của doanh nghiệp càng thấp, khả năng vỡ

nợ cao. Có thể nói chỉ tiêu này có tác động ngược cùng chiều với khả năng xảy ra

tình trạng vỡ nợ của doanh nghiệp. Giá trị kì thi tiền bình qn có thể chấp nhận

được là 30  60 ngày.

-



Hiệu quả sử dụng tài sản (đơn vị: lần)



Nguyễn Nhật Linh - 11132244



10



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Khoa Toán Kinh tế



Hệ số này thể hiện một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo ra được bao

nhiêu đồng doanh thu trong kì. Giá trị này càng cao thể hiện hiệu quả hoạt động

nhằm tăng thị phần và sức cạnh tranh càng lớn. Vì vậy chỉ tiêu này có tác động

ngược chiều với khả năng xảy ra tình trạng vỡ nợ của doanh nghiệp.

- Nợ phải trả trên tổng tài sản (đơn vị: %)



Hệ số này phản ánh cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp. Trên phương diện

chủ nợ: tỉ lệ này càng cao thì khả năng thu hồi nợ càng thấp, mức độ phá sản của

doanh nghiệp càng cao. Trên phương diện doanh nghiệp: tỉ lệ cao chứng tỏ thành

tích vay mượn tốt, nếu doanh nghiệp có tỉ suất lợi nhuận cao hơn tỉ lệ lãi vay thì

tỉ lệ cao là tốt. Ngược lại nếu tỉ suất lợi nhuận thấp hơn tỉ lệ lãi vay thì doanh

nghiệp sẽ bị lỗ nặng, độ phá sản cao.

- Nợ phải trả trên nguồn vốn chủ sở hữu (đơn vị: %)



Hệ số này phản ánh mức độ đảm bảo cho các khoản nợ bằng vốn riêng

của doanh nghiệp. Giá trị này càng cao chứng tỏ mức độ rủi ro đối với các chủ

nợ lớn.

- Nợ quá hạn trên tổng dư nợ ngân hàng (đơn vị: %)



Tỉ số này thể hiện việc hoàn trả vốn vay ngân hàng đúng hạn của doanh

nghiệp, đây là chỉ tiêu quan trọng khi xét duyệt cho vay.

- Tổng lợi tức sau thuế trên doanh thu (đơn vị: %)



Tỉ số này phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Tỉ số này càng

cao và doanh thu của doanh nghiệp lớn thì tiềm năng sinh lời càng lớn. Vì vậy

chỉ tiêu này có tác động ngược chiều tới xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp.

- Tổng lợi tức sau thuế trên tổng tài sản (ROA) (đơn vị: %)



Chỉ tiêu này dùng để so sánh với chi phí vốn (chi phí sử dụng ngân quỹ

của doanh nghiệp. Nếu tỉ lệ này lớn hơn chi phí vốn thì doanh nghiệp kinh doanh

có lãi, nếu nhỏ hơn chi phí vốn thì doanh nghiệp bị thua lỗ. Chỉ tiêu này có ảnh

hưởng ngược chiều đối với xác suất vỡ nợ.



Nguyễn Nhật Linh - 11132244



11



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Khoa Toán Kinh tế



-



Tổng lợi tức sau thuế trên nguồn vốn (ROE) (đơn vị: %)



Hệ số này có ý nghĩa quan trọng đối với chủ sở hữu và tiềm lực của doanh

nghiệp, nó cho biết khả năng thu nhập có thể nhận được khi họ đầu tư vốn vào

công ty. Tỉ số này thể hiện sức hấp dẫn của doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư

tiền tàng, rất hữu ích khi so sánh với tí lệ sinh lời khi cần thiết của thị trường (trái

phiếu chính phủ).

Nếu tỉ lệ này cao hơn tỉ lệ lãi trung bình trên thị trường thì hiệu quả hoạt

động của doanh nghiệp cao, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư, do đó nó có tác động

ngược chiều tới xác suất vỡ nợ.

Nếu tỉ lệ này bằng tỉ lệ lãi trung bình trên thị trường của doanh nghiệp thì

hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ở mức trung bình, có thể chấp nhận được.

Nếu tỉ lệ này nhỏ hơn tỉ lệ lãi trung bình thì doanh nghiệp hoạt động hiệu

quả thấp, không tạo được sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư.

Bảng 1-6: Bảng phân loại các chỉ tiêu tài chính của CIC

STT

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11



Chỉ tiêu tài chính

Khả năng thanh tốn ngắn hạn

Khả năng thanh tốn nhanh

Vòng quay hàng tồn kho

Kì thu tiền bình quân

Hiệu quả sử dụng tài sản

Nợ phải trả trên tổng tài sản

Nợ phải trả trên nguồn vốn chủ sở hữu

Nợ quá hạn trên tổng sư nợ ngân hàng

Tổng lợi tức sau thuế trên doanh thu

Tổng lợi tức sau thuế trên tổng tài sản

Tổng lợi tức sau thuế trên nguồn vốn chủ sở hữu



Nhóm

Thanh khoản

Thanh khoản

Hoạt động

Hoạt động

Hoạt động

Cân nợ

Cân nợ

Cân nợ

Thu nhập

Thu nhập

Thu nhập



Các chỉ tiêu phi tài chính được sử dụng gồm:

- Thời gian hoạt động của doanh nghiệp: Hoạt động dưới 2 năm được 2

điểm, hoạt động từ 3 đến 5 năm được 3 điểm, hoạt động trên 5 năm được 5 điểm.

- Số năm kinh nghiệm của giám đốc (tổng giám đốc): 2 điểm cho dưới 2

năm kinh nghiệm, 3 điểm cho từ 3 đến 5 năm kinh nghiệm, 5 điểm cho trên 5

năm kinh nghiệm.

- Trình độ của giám đốc (tổng giám đốc): 2 điểm cho trình độ dưới Đại

học, 3 điểm cho trình độ Đại học, 5 điểm cho trình độ trên Đại học.

Sau khi tiến hành các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, CIC xác định

điểm cho từng chi tiêu của doanh nghiệp bằng cách so sánh với trung bình ngành



Nguyễn Nhật Linh - 11132244



12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phương pháp nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×