Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Chất lượng tín dụng ngân hàng

2 Chất lượng tín dụng ngân hàng

Tải bản đầy đủ - 0trang

bộ tín dụng cần hiểu rõ về khách hàng, am hiểu về thị trường và thực hiện tốt những

nội dung cơ bản mang tính nguyên tắc của hoạt động tín dụng Ngân hàng nhằm

ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro – muốn vậy phải nâng cao chất lượng tín dụng. Đề

cập đến vấn đề chất lượng tín dụng khơng phải là điều mới mẻ nhưng là vấn đề quan

tâm hàng đầu của Ngân hàng thương mại.

Chất lượng tín dụng phải được hiểu theo 2 khía cạnh đó là: hiệu quả kinh tế

và hiệu quả xã hội. Vốn vay của Ngân hàng được khách hàng sử dụng đưa vào quá

trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ sau một chu kỳ sẽ tạo ra số tiền lớn hơn số tiền

ban đầu. Số tiền này khách hàng dùng để trang trải các chi phí ban đầu bỏ ra và hồn

trả nợ vay ngân hàng gồm cả gốc và lãi, đồng thời còn dành được một phần lợi

nhuận. Về mặt xã hội, thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ sẽ tạo ra

công ăn việc làm hạn chế các tệ nạn xã hội phát sinh, thúc đẩy kinh tế trên địa bàn

phát triển.

Chất lượng tín dụng của ngân hàng được hình thành và đảm bảo từ 2 phía đó

là từ ngân hàng và khách hàng:

- Về phía ngân hàng: trước khi cho vay, ngân hàng cần phải cân nhắc vừa đảm

bảo không vi phạm luật Ngân hàng, các quy trình nghiệp vụ vừa giải quyết được đầu ra

và có hiệu quả. Đây là một vấn đề khó trong q trình thực hiện, vì vậy khi quyết định

cho vay đòi hỏi ngân hàng cần phải nghiên cứu, thẩm định kỹ, nắm bắt được thông tin

về khách hàng vay vốn, tiền vay được sử dụng vào mục đích gì, được sử dụng như thế

nào, khả năng sử dụng số tiền vay đó ra sao và có hiệu quả khơng?....

- Về phía khách hàng: nếu như khách hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả

thì ngân hàng sẽ nhanh chóng thu hồi được phần gốc và lãi khoản vốn mà ngân hàng

đã cho vay, ngược lại doanh nghiệp hoạt động kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến

thua lỗ khơng có khả năng trả nợ, số nợ vay ngân hàng quá hạn tăng lên và sẽ có thể

dẫn đến ngân hàng khơng có khă năng thu hồi vốn. Vì vậy nếu các doanh nghiệp, tổ

chức kinh tế cá nhân có trình độ quản lý, năng lực kinh doanh tốt, hiệu quả kinh



16



doanh cao bảo tồn và phát triển được vốn thì chất lượng đầu tư tín dụng ngân hàng

sẽ cao và ngược lại.

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá và phân loại chất lượng tín dụng ngân hàng

Hiện nay chất lượng tín dụng ngân hàng được đánh giá qua 2 nhóm chỉ tiêu:

nhóm chỉ tiêu định tính và nhóm chỉ tiêu định lượng

a) Nhóm chỉ tiêu định tính

Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh giá và chấp hành các văn bản pháp quy như:

Luật Ngân hàng và luật các tổ chức tín dụng, các quy chế, quy trình nghiệp vụ, chế

độ thể lệ tín dụng và các văn bản chỉ đạo của ngân hàng cũng như của Chính phủ

trong quá trình thực hiện quy trình cho vay. Việc thực thi các văn bản này phụ thuộc

vào năng lực trình độ chun mơn và thơng tin nghiệp vụ của cán bộ tín dụng, năng

lực chỉ đạo điều hành của người quản lý.

Khi cho vay ngân hàng phải tuân thủ các ngun tắc tín dụng đó là:

- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng;

- Phải được hồn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp

đồng tín dụng;

- Việc đảm bảo tiền vay phải được thực hiện theo quy định của Chính phủ và

Thống đốc ngân hàng nhà nước.

Đồng thời cũng phải tuân thủ 2 điều kiện cho vay:

- Về mặt pháp lý, là điều kiện liên quan đến việc ràng buộc người vay theo

luật định;

- Về kinh tế, là điều kiện ràng buộc trách nhiệm khách hàng về phương diện

tài chính và là điều kiện liên quan đến tính tốn cho vay, thu nợ của ngân hàng.

Các nguyên tắc, điều kiện tín dụng là những yêu cầu bắt buộc không thể thiếu

được. Thực tế cho thấy một trong các nguyên tắc, điều kiện ấy bị coi nhẹ thì sẽ dẫn

đến tình trạng khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, khơng quan tâm đến hiệu

quả đầu tư...



17



Hoạt động kinh doanh của khách hàng kém hiệu quả, thua lỗ mất khả năng

thanh tốn Nhóm chỉ tiêu định lượng nhằm đánh giá chất lượng tín dụng được thể

hiện qua việc chấp hành chỉ tiêu cụ thể trên cơ sở so sánh số thực tế với con số giới

hạn cho phép mà các văn bản đã đề ra. Thơng qua các chỉ tiêu đó đánh giá được

thực trạng chất lượng tín dụng của ngân hàng.

b) Nhóm chỉ tiêu định lượng

- Khối lượng tín dụng và tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm của

chi nhánh:

+ Doanh số cho vay

+ Doanh số thu nợ

+ Dư nợ

+ Cơ cấu dư nợ: Dư nợ theo thời gian; Dư nợ theo thành phần kinh tế; Dư nợ

theo ngành kinh tế...

- Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng:



Vòng quay vốn tín dụng =



Tỷ lệ nợ quá hạn =



Tổng doanh số trả nợ

Dư nợ bình quân

Nợ quá hạn

Tổng dư nợ của tổ chức tín dụng



Đây là chỉ tiêu phản ánh thực trạng chất lượng tín dụng của các tổ chức tín

dụng, song cũng cần phải đi sâu xem xét phân loại nợ quá hạn để đánh giá thực chất

của các khoản nợ quá hạn.

Phân loại nợ quá hạn theo thời gian: Đến 6 tháng; từ 6 tháng đến 12 tháng;

trên 13 tháng;

Phân loại nợ quá hạn theo nguyên nhân: Khách quan, chủ quan của khách

hàng, chủ quan của ngân hàng;

Phân loại nợ quá hạn theo khả năng thu hồi: khả năng thu hồi 100%, khả

năng thu hồi một phần, khơng có khả năng thu hồi.

18



Ngồi ra còn sử dụng một số các chỉ tiêu để phân tán phòng ngừa và hạn chế

rủi ro như:

- Giới hạn cho vay đối với một khách hàng của tổ chức tín dụng: khơng được

vượt q 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng;

- Các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng: tỷ lệ cho

vay tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn, tỷ lệ về

khả năng chi trả, tỷ lệ an tồn vốn tối thiểu.

Qua 2 nhóm chỉ tiêu ta thấy việc đánh giá chất lượng tín dụng thơng qua các

chỉ tiêu định tính là đánh giá việc tuân thủ quy trình cho vay, các văn bản pháp quy

mà nhà nước, ngành ngân hàng ban hành. Việc thực hiện tùy thuộc vào trình độ

nhận thức, ý thức chấp hành thể lệ tín dụng, tn thủ quy trình cho vay của ngân

hàng.

Đối với nhóm chỉ tiêu định lượng, việc đánh giá chất lượng tín dụng thơng

qua các chỉ tiêu định lượng có nhiều thuận lợi hơn, việc đánh giá chủ yếu so sánh

các số liệu thực tế với kế hoạch, năm nay so với năm trước, với các tỷ lệ và các chỉ

tiêu giới hạn mà các văn bản đã quy định.

1.2.3 Mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng với tổng cơng ty

Tín dụng ngân hàng và tổng cơng ty có mối quan hệ qua lại với nhau: trong

hoạt động của các tổng cơng ty thì nguồn vốn tín dụng ngân hàng giữ vai trò quan

trọng đặc biệt là tín dụng trung hạn và dài hạn. Mối quan hệ này được thể hiện ở

một số khía cạnh sau:

- Ngân hàng áp dụng cơ chế tín dụng cho vay có đảm bảo bằng tài sản và

khơng có đảm bảo bằng tài sản bình đẳng với các tổng cơng ty vay vốn;

- Việc cho vay có đảm bảo bằng tài sản có cơ sở pháp lý để thực hiện vì các

tổng cơng ty đã có các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng

đất theo quy định của pháp luật;



19



- Đối với các tổng cơng ty tạm thời khó khăn về tài chính thì được các ngân

hàng áp dụng việc cơ cấu lại nợ theo cơ chế hiện hành và tiếp tục cho vay mới để

tổng công ty tiếp tục phát triển sản xuất kinh doanh;

- Việc thiếu một hệ thống thông tin tài chính mang tính trung thực, minh bạch

và hệ thống kiểm sốt hiệu quả, đồng bộ trong các tổng cơng ty, làm cho các nhà đầu

tư và cho vay như ngân hàng khó đánh giá được thực trạng, tình hình tài chính khả

năng sinh lời và thanh tốn các khoản nợ vay của tổng cơng ty, do đó cản trở việc ra

quyết định cho vay. Các ngân hàng thường thiếu các thơng tin tài chính đáng tin cậy

từ phía tổng cơng ty để làm cơ sở cho việc ra quyết định của việc cho vay. Điều này

làm tăng tính rủi ro của các khoản vay, do đó các ngân hàng có xu hướng dựa vào

điều kiện về tài sản bảo đảm để giảm thiểu rủi ro hoặc phải dựa trên sự tin cậy và các

mối quan hệ cá nhân với các tổng công ty để đnáh giá mức độ rủi ro hợp lý.

Trên đây là một số khía cạnh thể hiện mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng

với tổng cơng ty, mối quan hệ này có tính chất qua lại với nhau đem lại nhiều lợi

nhuận cho các bên. Tuy nhiên, những bất cập nhất định vẫn còn tồn tại trong mối

quan hệ này và cần phải được tìm cách khắc phục kịp thời.

1.3 Chất lượng tín dụng ngân hàng đối với Tổng cơng ty

1.3.1. Vai trò của việc nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng đối với các Tổng

cơng ty

Như ta đã biết, tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với tồn thể

các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung và đối với các Tổng cơng ty nói riêng,

bởi vậy mà việc nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng cũng đóng một vai trò hết

sức quan trọng. Các tổng cơng ty trong nước ta hiện nay đã và đang phát triển rất

mạnh mẽ, các lĩnh vực hoạt động ngày càng mở rộng, các giao dịch thanh tốn

khơng chỉ dừng lại ở trong nước mà còn mở rộng thanh tốn với các đối tác nước

ngoài, lượng vốn để đáp ứng cho các hoạt động kinh doanh của các tổng công ty

cũng rất lớn. Do đó mà việc thanh tốn giao dịch hợp tác với ngân hàng là một đòi

hỏi tất yếu của các tổng cơng ty, và kéo theo đó là việc các ngân hàng phải nâng cao

20



chất lượng dịch vụ tín dụng để đáp ứng yêu cầu khách hàng. Việc làm này có một số

vai trò to lớn như:

- Nó nâng cao khả năng tài trợ tín dụng cho các hoạt động cơng nghiệp,

thương nghiệp, nơng nghiệp của đất nước nói chung và của các lĩnh vực kinh doanh

trong các tổng công ty nói riêng. Tín dụng ngân hàng sẽ tạo khả năng cung ứng vốn

cho hoạt động của nền kinh tế, bởi vậy mà việc nâng cao chất lượng này sẽ giúp cho

các doanh nghiệp cũng như các tổng công ty trong việc hỗ trợ tài trợ vốn kinh doanh

được nhanh chóng và dễ dàng hơn. Tất cả các q trình hoạt động của nền kinh té,

các quá trình kinh doanh của các tổng công ty, các doanh nghiệp đều cần đến vốn từ

khâu sản xuất – phân phối – tiêu dùng đều cần phải có vốn, nếu hoạt động tín dụng

của ngân hàng thương mại tạo ra khả năng thực hiện tồn bộ q trình kinh tế cho

đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng thì việc nâng cao chất lượng của dịch vụ

tín dụng ngân hàng sẽ giúp cho q trình này diễn ra nhanh hơn, trơi chảy hơn, sản

phẩm xã hội tạo ra nhiều hơn, giảm thiểu các rủi ro phiền hà khi thanh toán với các

đối tác trong và ngoài nước, tăng lợi nhuận cho các tổng cơng ty.

- Nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng giúp cho các tổng cơng ty có thể

thanh tốn với các đối tác nước ngồi nhanh hơn, tốn ít chi phí hơn vì thế mà hoạt

động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa được diễn ra nhanh hơn, tiết kiệm thời

gian chi phí tăng lợi nhuận cho cơng ty, tăng uy tín cho cơng ty trên thị trường.

- Nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng còn giúp cho q trình làm việc

của các nhân viên trong cơng ty và nhân viên ngân hàng được dễ dàng hơn, không

gặp phải nhiều vướng mắc do thủ tục ngân hàng rườm ra, việc cấp vốn, thanh tốn

nhanh chóng giúp cơng ty khơng bị mất các cơ hội kinh doanh của mình.

Như vậy có thể thấy việc nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng của các ngân hàng

thương mại đóng một vai trò to lớn trong đối với tồn bộ nền kinh tế nói chung và

cho các tổng cơng ty trong nền kinh tế nói riêng.



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Chất lượng tín dụng ngân hàng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×