Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kỹ năng tạo động lực làm việc cho giáo viên mầm non.

Kỹ năng tạo động lực làm việc cho giáo viên mầm non.

Tải bản đầy đủ - 0trang

* Qua chuyên đề 3 tôi nhận thấy một số vấn đề cơ bản:

- Tạo động lực cho giáo viên thông qua tạo điều kiện cho giáo viên phát

triển như giao cho giáo viên cơng việc mới, mức độ khó nâng dần, khun khích

giáo viên chấp nhận cơng việc khó, có sự kiểm tra hỗ trợ kèm cặp thường xuyên

của nhà trường. Qua đó tạo cơ hội thăng tiến cho giáo viên dựa trên năng lực và

hiệu quả công việc, cơng bằng, bình đẳng trong tiếp cận cơ hội thẳng tiến.

- Tạo động lực qua tiền lương tiền công. Tạo động lực thông qua tiền

thưởng. Tạo động lực thông qua phụ cấp , phúc lợi và dịch vụ. Sự đảm bảo về

lợi ích cho giáo viên là một trong những nhân tố ảnh hưởng quann trọng.

- Động lực được coi là yếu tố bên trong- yếu tố tâm lý - tuy vậy yếu tố tâm

lý này cũng có thể nảy sinh từ các tác động của yếu tố bên ngoài. Các yếu tố bên

ngoài tác động đến cá nhân làm nảy sinh yếu tố tâm lý bên trong thúc đẩy hoạt

động. Do vậy, một cách mở rộng, khái niệm động lực không chỉ đề cập yếu tố

bên trong mà cả các yếu tố bên ngoài thúc đẩy cá nhân tiến hành hoạt động lao

động.

- Động lực làm việc khơng có sẵn, khơng có cá nhân sinh ra đã thiếu động

lực hay có động lực. Động lực cần được tạo ra trong quá trình sống, học tập và

lao động. Động lực luôn gắn liền với dạng hoạt động, lao động.

- Đặc trưng của Giáo viên mầm non là người làm nhiệm vụ ni dưỡng,

chăm sóc và giáo dục trẻ trong trường mầm non và cơ sở giáo dục khác thực

hiện chương trình giáo mầm non. Thời gian lao động dài với khối lượng công

việc lớn: chịu trách nhiệm giảng dạy tất cả các môn học. Đảm nhận các hoạt

động giáo dục. Rèn các kỹ năng, thói quen tác phong cho trẻ. Đối tượng tác

động đặc biệt và yêu cầu chất lượng cao. Đó là trẻ từ 0-6 tuổi. Đòi hỏi sự khéo

léo, kiên trì, và tình yêu thương đối với trẻ.

- Một nhà trường để cho thực khẳng định chất lượng thì đội ngũ giáo viên

sẽ quyết định, do đó tạo động lực cho giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ của minh

một vấn đề quan trọng. Với bản thân tôi ln cố gắng, hồn thành xuất sắc cơng

việc được cấp trên giao cho.

4. Kỹ năng quản lí xung đột

3



* Qua chuyên đề 4 em nhận thức được những vấn đề cơ bản:

- Xung đột là một hiện tượng xã hội được xem xét khơng phụ thuộc vào ý

chí của những người riêng biệt, phản ánh những mâu thuẫn tồn tại khách quan

trong ý thức của con người và ảnh hưởng của sự phản ánh đó đến hành vi của

con người

- Xung đột là một hiện tượng xã hội phổ biến trong các tổ chức. Nhiều

khi, xung đột không được xử lý khơng phải vì người ta khơng nhận ra sự tồn tại

của chúng mà do không biết xử lý như thế nào. vấn đề đặt ra cho các nhà quản

lý không chỉ ở chỗ nắm bắt được lý thuyết về xung đột mà là phải tiến hành giải

quyết xung đột một cách đúng đắn. Vì vậy, nhận thức đúng đắn và xử lý xung

đột theo hướng có lợi cho tổ chức là kỹ năng quan trọng đối với các nhà quản lý

cũng như đối với các thành viên trong tổ chức.

- Nói đến xung đột ở trong trường mầm non thì xảy ra liên tục, việc giải

quyết làm sao cho tình cảm nhẹ nhàng và có hiệu quả đòi hỏi một giáo viên

mầm non phải có tính kiên trì nhẹ nhàng, khi xảy ra vấn đề thì trước hết phải xác

định mục tiêu xử lý tình huống, sau đó xây dựng phân tích và giai quyết tình

huống để hậu quả giảm xuống tối thiểu một cách hài hòa tình cảm nhất.

- Để quản lý xung đột trong trường mầm non, trước hết hiệu trưởng phải

nhận diện tình hình, lắng nghe các bên trình bày quan điểm, dành thời gian thu

nhập thơng tin, tìm hiểu ngun nhân, đưa ra các giải pháp phù hợp và lên kế

hoạch hành động quản lý xung đột.

- Cần xác định hai bên xung đột và mỗi bên có muốn thương lượng về các

vấn đề, người hòa giải phải làm việc một cach cơng băn làm hài lòng tất cả mọi

người.

- Là một giáo viên mầm non việc chính là chăm sóc và giáo dục trẻ cho

nên khi được phân công nhiệm vụ giáo viên phải nắm được, hiểu được tâm lý

của cá nhân trẻ, hoàn cảnh gia đình... để từ đó giúp cho giáo viên hoàn thành tốt

nhiệm vụ được giao, xứng đáng là người mẹ hiền thứ hai.

II. KIẾN THỨC KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH VÀ

4



ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON

1. Quản lí phát triển chương trình giáo dục nhà trường

* Sau khi nghiên cứu chuyên đề 5 em nhận thức được những vấn đề cơ bản:

- Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Trường mầm non đảm nhận chăm sóc, giáo dục trẻ. Làm cơ sở cho sự phát triển

của trẻ, hình thành cơ bản ban đầu nhân cách con người và chuẩn bị những điều

kiện cần thiết cho trẻ vào tiểu học. Một hệ thống trường lớp được trang bị cơ sở

vật chất, đạt chuẩn đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục mầm non chính là mục

tiêu đặt ra cho chương trình giáo dục hiện nay.

- Trong cơng cuộc đổi mới của đất nước, đổi mới giáo dục Đảng những chủ

chương và chính sách để phát triển giáo dục. Hiện nay nhiệm vụ trọng tâm của

đổi mới quản lý giáo dục là đổi mới quản lý chất lượng giáo dục. Vấn đề là có

tính quyết định là xây dựng, hoàn thiện hệ thống chuẩn mực giáo dục và đưa vào

thực hiện trong thực tế. Muốn thực hiện các nhiệm vụ đó thì nhà trường có đầy

đủ điều kiện để đáp ứng được nhiệm vụ trên.

- Quản lý phát triển chương trình giáo dục nhà trường gồm có các kế

hoạch, và tổ chức thực hiện các kế hoạch hiệu quả. Phối hợp chặt chẽ với cha

mẹ trẻ trong việc chăm sóc giáo dục trẻ.

- Để phát triển được chương trình giáo dục mầm non cần phải nắm bắt

được cấu trúc của chương trình, các quan điểm tiếp cận của chương trình.

- Chương trình giáo dục là sự trình bày, diễn tả có hệ thống việc dạy - học

được dự kiến trong một khoảng thời gian xác định mà sản phẩm của sự trình bày

đó là một hệ thống xác định các thành tố khác nhau nhằm chuẩn bị, thực hiện và

đánh giá một cách tối ưu việc dạy - học.

- Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể

các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục

tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ

nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập,

cách đánh giá kết quả học tập nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra.

2. Xây dựng nhà trường thành cộng đồng học tập

5



* Sau k hi học xong chuyên đề “Xây dựng nhà trường thành cộng đồng học

tập”, qua chuyên đề 6 em nhận thức được các vấn đề cơ bản:

- Xây dựng nhà trường thành cộng đồng học tập là quá trình tạo lập và

phát triển các thành tố để nhà trường trở thành cộng đồng học tập trong đó

trẻ,giáo viên, cha mẹ trẻ, cộng đồng cùng học tập lẫn nhau và cùng nhau phát

triển.

-Trường học là cộng đồng học tậptrong đó trẻ em học tập lẫn nhau và phát

triển cùng nhau, giáo viên với tư cách chuyên gia giáo dục học tập lẫn nhau và

cùng nhau phát triển, cha mẹ trẻ và cộng đồng địa phương hỗ trợ và tham gia

các hoạt động ở nhà trường.

- Mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng là mối quan hệ tương hỗ, nói

cách khác nhà trường và cộng đồng có ảnh hưởng và tác động lớn tới sự phát

triển của mỗi học sinh. Nếu chỉ giáo dục học sinh trong nhà trường không thơi

thì những kiến thức sách vở đó sẽ khơng giúp học sinh thích ứng được với cộng

đồng. Chính vì vậy, mỗi nhà giáo dục cần hiểu rõ về nơi mà học sinh mình sinh

sống và tham gia các hoạt động, để coi đó là đơn đặt hàng cho sản phẩm giáo

dục của mình, giúp mỗi học sinh của mình vừa thích ứng cao được với nơi mà

mình sinh sống, lại vừa có khả năng sẵn sàng ứng phó với sự biến động của môi

trường sống. Hơn thế nữa, giáo viên còn cần phối hợp với cộng đồng để có

những tác động phù hợp tới cộng đồng khi có những vấn đề tiêu cực xảy ra, giúp

tạo dựng môi trường lành mạnh để cá nhân mỗi học sinh được sống và phát triển

trong môi trường xã hội lành mạnh.

- Xã hội ngày một phát triển, chính vì vậy mỗi nhà trường không ngừng

nỗ lực để tự đổi mới và phát triển. Trong tiến trình phát triển đó, cần có sự kết

nối và hợp tác với các cơ sở giáo dục khác cũng như với cộng đồng nghề

nghiệp. Việc hợp tác này giúp cho mỗi cơ sở giáo dục học được những bài học

kinh nghiệm quý báu, chia sẻ được những thành tựu mà mình đã đạt được trong

giáo dục.

3. Kiểm định chất lượng giáo dục và đánh giá ngoài trường mầm non

6



- Kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non là hoạt động đánh giá

(bao gồm tự đánh giá và đánh giá ngoài) để xác định mức độ trường mầm non

đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và việc công nhận trường

mầm non đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục của cơ quan quản lý nhà nước.

- Tự đánh giá của trường mầm non là hoạt động tự xem xét, kiểm tra, đánh

giá của trường mầm non để xác định mức độ đạt được theo tiêu chuẩn đánh giá

chất lượng giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

- Đánh giá ngoài trường mầm non là hoạt động đánh giá của cơ quan quản

lý nhà nước nhằm xác định mức độ đạt được tiêu chuẩn đánh giá chất lượng

giáo dục của trường mầm non.

- Mục đích kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non: Kiểm định

chất lượng giáo dục nhằm giúp trường mầm non xác định mức độ đáp ứng mục

tiêu giáo dục trong từng giai đoạn, để xây dựng kế hoạch cải tiến, nâng cao chất

lượng các hoạt động giáo dục; thông báo công khai với các cơ quan quản lý nhà

nước và xã hội về thực trạng chất lượng của trường mầm non; để cơ quan quản

lý nhà nước đánh giá và công nhận trường mầm non đạt tiêu chuẩn chất lượng

giáo dục.

- Chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non là 5 năm, tính từ

ngày ký quyết định cấp giấy chứng nhận chất lượng giáo dục.

- Trường mầm non đạt cấp độ 1 và cấp độ 2 theo quy định tại Điều 22 của

Quy định này, sau ít nhất 2 năm học thực hiện tự đánh giá, được đăng ký đánh

giá ngoài để đạt cấp độ cao hơn.

- Đồn đánh giá ngồi có nhiệm vụ khảo sát, đánh giá và xác định trường

mầm non đáp ứng yêu cầu của các tiêu chí trong tiêu chuẩn đánh giá chất lượng.

- Đánh giá ngồi là một bước có ý nghĩa quan trọng trong quy trình kiểm

định chất lượng giáo dục. Cùng với việc tự đánh giá của các trường mầm non,

đánh giá ngồi sẽ có tác động tích cực đến tồn bộ hoạt động của nhà trường

nhằm khơng ngừng nâng cao chất lượng ni dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ,

đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.

4. Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng trong giáo dục mầm non

7



* Sau khi học xong chuyên đề 8 “Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

trong giáo dục mầm non” bản thân em nhận thấy:

- Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng là một loại hình nghiên cứu

trong giáo dục. Nghiên cứu để thực hiện và đánh giá một tác động can thiệp sư

phạm. Tác động can thiệp đó có thể là việc kiểm chứng tính hiệu quả của việc sử

dụng phương pháp dạy học khác, sử dụng sách giáo khoa theo kiểu riêng, áp

dụng phương pháp quản lý khác, triển khai chính sách mới, sử dụng công cụ

mới vv… do giáo viên, cán bộ quản lý thực hiện. Người thực hiện nghiên cứu

khoa học sư phạm ứng dụng vừa phải tiến hành thực nghiệm, đồng thời kiểm

chứng kết quả và đánh giá ảnh hưởng của tác động can thiệp đó một cách khoa

học để quyết định xem có nên sử dụng và phổ biến can thiệp tác động đó hay

khơng.

- Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng là cách tốt nhất để xác định và

điều tra những vấn đề giáo dục ở tại lớp học và trường học thơng qua việc tích

hợp nghiên cứu tác động vào bối cảnh và để những người đang hoạt động trong

môi trường gia hoạt động nghiên cứu, các phát hiện sẽ được ứng dụng ngay, từ

đó vấn đề được giải quyết nhanh hơn.

- Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng bao gồm quy trình nghiên cứu,

triển khai, tác động sư phạm nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục, phát

triển các mặt toàn diện ở trẻ, tăng cường năng lực đội ngũ giáo viên. Nghiên

cứu khoa học sư phạm ứng dụng cũng là cơ hội để giáo viên mầm non tiếp cận

được các thành tựu khoa học giáo dục trẻ em và áp dụng vào công tác chăm sóc

giáo dục trẻ.

- Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng là một công cụ để từng bước

nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục học sinh trong mỗi nhà trường, đảm

bảo hiệu quả, ứng dụng được các thành tựu của công nghệ thông tin, khoa học

máy tính, dễ thực hiện, được giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục của nhiều nước

trong khu vực và trên thế giới đã và đang thực hiện.

5. Kỹ năng biên soạn tài liệu bồi dưỡng về giáo dục mầm non

8



* Sau khi học xong chuyên đề 9 “Kỹ năng biên soạn tài liệu bồi dưỡng về

giáo dục mầm non” bản thân em nhận thấy:

- Bồi dưỡng là một hoạt động có chủ đích nhằm cập nhật những kiến thức

mới tiến bộ, hoặc nâng cao trình độ giáo viên để tăng thêm năng lực, phẩm chất

theo yêu cầu của ngành học. Công tác bồi dưỡng được thực hiện trên nền tảng

các loại trình độ đã được đào tạo cơ bản từ trước. Hoạt động bồi dưỡng là việc

làm thường xuyên, liên tục cho mỗi giáo viên cấp học ngành học khôn ngừng

nâng cao trình độ của đội ngủ để thích ứng vơí đòi hỏi cua nền kinh tế xã hội.

Nội dung bồi dưỡng được triển khai ở các mức độ khác nhau, phù hợp cho từng

đối tượng. cụ thể.phù hợp với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ được giao trong điều

kiện có sự biến đổi liên tục của mơi trường. Vì thế trong nhiều trường hợp, bồi

dưỡng còn được coi là một quá trình giáo dục liên tụcđể phát triển đội ngũ nhân

sự trong hệ thống.

- Trong bất kỳ một hệ thống nào thì hoạt động bồi dưỡng đều có vai trò đặc

biệt quan trọng. Hoạt động này đảm bảo năng lực của đội ngũ luôn phù hợp với

yêu cầu thực hiện nhiệm vụ được giao trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của

môi trường, giúp chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hồn cảnh

mới. Vì thế trong nhiều trường hợp, bồi dưỡng còn coi là một quá trình giáo dục

liên tục được phát triển đội ngũ nhân sự trong hệ thống.

- Cách tiếp cận phát triển đảm bảo sự quan tâm thỏa đáng đến nhu cầu, lợi

ích và dặc điểm cá nhân của từng người được bồi dưỡng. Tài liệu bồi dưỡng

được xây dựng phù hợp với cách thiết kế hoạt động khác nhau giúp người đọc

lĩnh hội dần các kinh nghiệm học tập thông qua các tình huống, tạo cho người

học có cơ hội vận dụng các kiến thức lý thuyết qua trải nghiệm khác nhau .

- Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên mầm non là hai giai đoạn có liên quan

mật thiết với nhau trong quá trình hình thành và phát triển nghề dạy học ở mầm

non. Đào tạo là giai đoạn đầu hình thành năng lực phẩm chất cần thiết của giáo

viên để hành nghề. Bồi dưỡng chuyên môn là giai đoạn nối tiếp tất yếu đối với

hoạt động đào tạo nghề nghiệp.

9



6. Tổ chức sinh hoạt chuyên môn trong phát triển năng lực nghề

nghiệp dưới hình thức nghiên cứu bài học

* Qua chuyên đề 10 em nhận thức được các vấn đề cơ bản:

- Sinh hoạt chuyên môn là một trong các hình thức bồi dưỡng giáo viên

nhằm nâng cao năng lực của giáo viên, từ đó nâng cao chất lượng học tập cho

trẻ và nâng cao chất lượng giáo dục nói chung.

- Đối với giáo viên mầm non, khác với giáo viên các bậc học khác, để

thực hiện tốt hoạt động cụ thể của mình, đó là ni dưỡng, chăm sóc và giáo

dục các cháu, người giáo viên phải có những năng lực nhất định như:

- Có năng lực xây dựng chương trình giáo dục, năng lực lập kế hoạch giáo

dục dài hạn, năng lực xây dựng môi trường giáo dục thân thiện cho trẻ, năng lực

tổ chức các hoạt động giáo dục..., và kèm theo các kĩ năng cụ thể.

- Có năng lực trong thái độ khi ứng xử và ý thức trong việc chăm sóc sức

khỏe cho trẻ nhỏ, năng lực truyền đạt và hướng dẫn trẻ thực hiện những yêu cầu

của giáo viên, năng lực tổ chức thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho

trẻ.

- Ngồi ra, để thuận lợi trong q trình lựa chọn việc làm, hay có thể thành

cơng hơn trong nghề nghiệp sau này, giáo viên mầm non cần phải có năng lực

sư phạm chuyên biệt, như: hát hay, múa dẻo, đàn giỏi, vẽ tranh đẹp, làm đồ chơi

tài tình, kể chuyện hấp dẫn, ...

- Giáo viên thường xuyên học tập chuyên môn, dự giờ để giáo viên theo

dõi các hoạt động dạy của đồng nghiệp, nhận xét về phương pháp, việc phân bố

thời gian, các bước của giờ dạy. Người dự giờ cũng chú ý đến những câu hỏi, lời

hướng dẫn của giáo viên, đồ dùng của giáo viên sử dụng để xem có gì sai sót,

bất hợp lý khơng.

- Bên cạnh đó, mỗi giáo viên mầm non đều phải hiểu được đặc điểm lao

động của nghề là: luôn thể hiện các chức năng chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ

thơ, lấy quan hệ tình cảm yêu thương mẹ - con làm yếu tố quyết định. Vì thế,

lòng u trẻ là phẩm chất số 1 trong nhân cách một giáo viên mầm non đích

thực.

10



7. Đạo đức của cán bộ quản lí trong giải quyết các vấn đề ở nhà trường

mầm non và cộng đồng

* Sau khi học xong chuyên đề 11 em nhận thức được những vấn đề cơ bản

như sau:

- Đạo đức nhà giáo là phẩm chất của người giáo viên được hình thành do

tu dưỡng, rèn luyện theo các quy định, tiêu chuẩn, yêu cầu....trong hoạt động

nghề nghiệp của người giáo viên và trong cuộc sống với tư cách một nhà giáo,

được thể hiện ra bên ngoài qua nhận thức, thái độ và hành vi của họ.

- Phẩm chất đạo đức của giáo viên mầm non thể hiện ở những điểm sau:

+ Yêu nước, có niềm tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa. Trung thành với lý

tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Chấp hành tốt luật pháp Nhà nước,

chủ trương, chính sách của Đảng và những qui định của ngành, của trường mầm

non;

+ Yêu thương, tôn trọng và công bằng với trẻ. Không phân biệt đối xử với

trẻ và chấp nhận sự đa dạng của trẻ. Xây dựng mối quan hệ thân mật, gần gũi,

ân cần, chu đáo với trẻ . Coi trọng tính tích cực, chủ động, sáng tạo cá nhân của

trẻ; động viên khuyến khích trẻ tích cực tham gia vào hoạt động chung/nhóm;

Xây dựng và duy trì việc phối hợp với gia đình trong việc chăm sóc-giáo dục

trẻ;

+ u nghề, tâm huyết, gắn bó và có trách nhiệm cao với nghề nghiệp.

+ Có ý thức tổ chức, có đạo đức tốt, yêu thương đồng cảm, hiểu biết, sáng

tạo, lối sống lành mạnh, trung thực, giản dị phù hợp với văn hóa dân tộc.

- Cán bộ quản lý phải xây dựng được cầu nối giữa giáo viên, nhân viên

với ban lãnh đạo nhà trường thì mới nắm bắt được thơng tin và sử lý thông tin

nhanh nhất hiệu quả nhất.

- Tạo ra một bầu khơng khí thân thiện, cởi mở là điều rất quan trọng.

Người cán bộ quản lý lúc nào cũng thể hiện khn mặt rạng rỡ, nhiệt tình, sự

quan tâm.

- Cán bộ quản lý cần huy động các nguồn lực cho nhà trường, góp phần

tạo nên những chuyển biến căn bản về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.

11



Phần thứ hai

THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CÔNG TÁC

I.Những nhiệm vụ được giao

Bản thân là một giáo viên trong năm học 2017-2018 tôi được phân công

chủ nhiệm lớp 5 tuổi C trường mầm non Tiên Du, là một giáo viên trẻ tâm huyết

với nghề, luôn yêu nghề mến trẻ, ln có tinh thần học hỏi, có tinh thần trách

nhiệm cao, tích cực tham gia các lớp học về chun mơn để nâng cao trình độ

chun mơn nghiệp vụ. Vì vậy tơi ln vận dụng những kiến thức mà mình đã

học vào chương trình chăm sóc và giáo dục mầm non để đạt được những kết quả

tốt nhất.

Trong quá trình giảng dạy tơi ln thực hiện tốt nhiệm vụ của một người

giáo viên.

1. Đảm bảo an toàn cho trẻ

- Bảo vệ an tồn sức khỏe, tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em ở

nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.

- Thực hiện cơng tác ni dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương

trình giáo dục mầm non: lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục; Xây dựng môi trường

giáo dục, tổ chức các hoạt động ni dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Đánh

giá và quản lý trẻ em; Chịu trách nhiệm về chất lượng ni dưỡng, chăm sóc,

giáo dục trẻ em; Tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn, của nhà trường,

nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.

- Trau dồi đạo đức, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo;

Gương mẫu, thương yêu trẻ em, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của trẻ

em; Bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; Đoàn kết, giúp đỡ đồng

nghiệp.

- Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ

trẻ. Chủ động phối hợp với gia đình trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ em.

- Rèn luyện sức khỏe; Học tập văn hóa; Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ

để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.

12



- Thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của

ngành, các quy định của nhà trường, quyết định của Hiệu trưởng.

* Liên hệ: Trong năm học 2017-2018 tôi được phân công đứng lớp 5 tuổi C

Tôi luôn bảo vệ an tồn sức khỏe, tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ

ở lớp.

+ Với những nhiệm vụ được giao tôi luôn làm tốt công tác chủ nhiệm lớp

5 tuổi C với sỹ số học sinh 35 cháu, đảm bảo sỹ số học sinh theo kế hoạch nhà

trường giao trong năm. Khơng có học sinh bỏ học, 100% học sinh đến lớp được

an tồn về thể chất và tinh thần, khơng có học sinh sảy ra tai nạn dịch bệnh khi

đến lớp

+Trong giao tiếp ứng xử với trẻ bằng những cử chỉ, hành vi dịu hiền, nhẹ

nhàng, cởi mở, vui tươi, tạo cho trẻ một cảm giác an tồn, bình n, dễ chịu khi

được đến lớp, nhờ có cảm giác an tồn, trẻ mới bộc lộ tính hồn nhiên, ngây thơ,

trong trắng của tuổi thơ.Tơi ln hòa đồng, gần gũi với trẻ, phù hợp với tâm

sinh lý của trẻ, gieo vào lòng trẻ những sắc thái cảm xúc tích cực của con người.

2. Thực hiện chương trình giáo dục mầm non

- Thực hiện cơng tác ni dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương

trình giáo dục mầm non: lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục; Xây dựng mơi trường

giáo dục, tổ chức các hoạt động ni dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Đánh

giá và quản lý trẻ em; Chịu trách nhiệm về chất lượng ni dưỡng, chăm sóc,

giáo dục trẻ em; Tham gia các hoạt động của tổ chuyên mơn, của nhà trường,

nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.

* Liên hệ: Trong quá trình thực hiện chương trình giáo dục mầm non tơi

ln thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt trong ngày của trẻ, trang trí lớp theo

chủ điểm, tích cực làm đồ dùng đồ chơi để thực hiện tốt chương trình giáo dục

mầm non theo quy định.

+ Thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt trong ngày của trẻ, trang trí lớp

theo chủ điểm, tích cực làm đồ dùng đồ chơi để thực hiện tốt chương trình giáo

dục mầm non theo quy định

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kỹ năng tạo động lực làm việc cho giáo viên mầm non.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×