Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TÀI CHÍNH

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TÀI CHÍNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

So sánh quy mơ thị trường trái phiếu Chính phủ của Việt Nam với một số

nước trong khu vực ASEAN + 3 qua 5 năm gần đây thì thấy quy mơ thị trường

TPCP Việt Nam vẫn còn nhỏ.

Chỉ tiêu giá trị giao dịch/GDP: Giá trị giao dịch TPCP trên thị trường thứ

cấp so với GDP của Việt Nam ở mức thấp, cao nhất năm 2016 cũng chỉ chiếm

khoảng 35% GDP.

Chỉ tiêu giá trị giao dịch Việt Nam/ giá trị giao dịch khu vực: So sánh giá

trị giao dịch của thị trường thứ cấp TPCP Việt Nam với một số thị trường trong khu

vực như Indonesia, Malaysia, và Thái Lan có thể thấy quy mô thị trường Việt Nam

tăng dần qua các năm

3.3.1.2. Chỉ tiêu đánh giá mức độ bền vững của thị trường

Lãi suất TPCP các kỳ hạn

Lãi suất có xu hướng giảm dần qua các năm ở tất cả các kỳ hạn. Q trình tự

do hóa lãi suất TPCP, tuân theo thị trường đã được chủ trương thực hiện từ rất sớm

nhưng q trình tự do hố lãi suất trên thị trường TPCP diễn ra chậm, việc đưa lãi

suất chỉ đạo vào đấu thầu đã làm ảnh hưởng đến mức độ tự do của thị trường TPCP,

lãi suất không phản ánh đúng đánh giá của thị trường về TPCP.

Tỷ trọng TPCP có kỳ hạn dài/ tổng TPCP

Cùng với sự phát triển của thị trường, kỳ hạn của TPCP cũng có sự thay đổi

theo hướng tích cực, ngày càng được kéo dài, phù hợp với thời gian sử dụng vốn của

Chính phủ. Kỳ hạn phát hành của TPCP được kéo dài cải thiện cơ cấu kỳ hạn TPCP,

giảm thiểu rủi ro, tăng mức độ bền vững của thị trường. Năm 2017, kỳ hạn còn lại

của TPCP dưới 5 năm chỉ còn khoảng 60%, giảm rõ rệt so với tỷ lệ 88% năm 2013

và 100% năm 2000.

Tỷ trọng TPCP/ Tổng giá trị TP: TPCP chiếm phần lớn trong tổng giá trị

TP trên thị trường TP Việt Nam trong khi TP doanh nghiệp chiếm một phần rất nhỏ

gây ra hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân.

Hệ thống chỉ tiêu giám sát và cảnh báo rủi ro: chưa có

3.3.1.3. Chỉ tiêu đánh giá mức độ hội nhập thị trường

Chênh lệch lãi suất TPCP các kỳ hạn giữa Việt Nam và Thái Lan: giảm

dần qua các năm thể hiện sự hội nhập ngày càng tăng của thị trường TPCP Việt

Nam. Tuy nhiên chỉ số này vẫn ở mức khá cao những năm gần đây (khoảng 2%)

chứng tỏ thị trường TPCP Việt Nam vẫn còn khoảng cách hội nhập với thị trường

khu vực.



Chỉ số beta hội tụ: Trong khi hệ số beta của Thái Lan với Mỹ khá ổn định

và có xu hướng tiến dần tới 1 (khoảng 0,8 những năm gần đây) thể hiện mức độ hội

nhập khá cao của thị trường TPCP Thái Lan với thị trường TPCP thế giới thì hệ số

beta của Việt Nam với Thái Lan liên tục biến động, không ổn định, và thường xuyên

ở mức thấp, trung bình khoảng 0,2, khẳng định mức độ hội nhập của Việt Nam với

khu vực còn thấp.

Hệ số chặn : Kết quả hệ số α của Việt Nam thu được cho thấy mức độ biến

động lãi suất của Việt Nam chênh lệch khá lớn một cách có hệ thống và độc lập so

với mức độ biến động lãi suất của Thái Lan, chứng tỏ thị trường TPCP hội nhập yếu

với khu vực

3.3.1.4. Chỉ tiêu đánh giá mức độ tiếp cận thị trường

Tỷ trọng TPCP phát hành trong nước/ Tổng giá trị TPCP: TPCP Việt Nam

chủ yếu được phát hành trên thị trường trong nước, số lượng TPCP phát hành quốc

tế rất hạn chế.

Giá trị TPCP quốc tế/ GDP: không đáng kể

Về cơ sở NĐT tham gia giao dịch

Chỉ tiêu sự đa dạng của các loại NĐT trên thị trường TPCP: Hệ thống nhà

đầu tư trên thị trường trái phiếu chính phủ đã có những tiến triển tích cực. Nhưng có

thể thấy cơ sở NĐT vẫn chưa có sự đa dạng.

Chỉ tiêu tỷ lệ nắm giữ TPCP của NĐT nước ngoài trên tổng số TPCP: Tỷ

trọng nắm giữ TPCP của NĐT nước ngoài đã tăng dần qua các năm, từ 5-6% năm

2014 đã tăng lên 8,35% năm 2015 và 12,38% năm 2016, nhưng đây vẫn là mức

thấp.

Về phương thức phát hành và giao dịch

Phương thức phát hành: Đấu thầu dần trở thành phương thức phát hành phổ

biến và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số TPCP được phát hành ở Việt Nam. Điều

này phù hợp với thông lệ quốc tế.

Phương thức giao dịch: Khi thị trường trái phiếu chính phủ chuyên biệt ra

đời, chỉ duy nhất phương thức giao dịch thoả thuận được thực hiện. Điều này phù

hợp với đặc điểm hiện tại của thị trường Việt Nam là tần suất giao dịch không nhiều,

nhưng giá trị mỗi giao dịch lớn. Nhà đầu tư có thể thực hiện giao dịch thoả thuận

điện tử hoặc thông thường.

Giao dịch repo: Từ khi thị trường TPCP chuyên biệt ra đời năm 2009, giao

dịch repo bắt đầu được tách biệt với giao dịch outright. Trong ba năm đầu, giao dịch

repo đạt giá trị thấp, không đáng kể so với giá trị giao dịch outright, giao dịch

outright vẫn chiếm trên 90% giá trị giao dịch toàn thị trường. Những năm tiếp theo,



giá trị giao dịch repo tăng dần. Xu thế này vẫn tiếp tục trong năm 2017, giá trị giao

dịch repo chiếm 47% tổng giá trị giao dịch, tiếp tục theo sát giá trị giao dịch

outright.

Chất lượng và sự đa dạng của các công cụ giao dịch trên thị trường: các

sản phẩm giao dịch vẫn còn đơn giản và sơ sài mặc dù đã có thêm các cơng cụ khác

ngồi trái phiếu trả lãi định kỳ. Bên cạnh đó, chất lượng hàng hố trên thị trường

chưa tốt khi có quá nhiều mã trái phiếu trên thị trường và khối lượng trái phiếu cho

mỗi mã còn nhỏ.

Cơ sở hạ tầng hiện đại, đồng bộ

3.3.1.5. Chỉ tiêu đánh giá mức độ hiệu quả

Chênh lệch giá chào mua- chào bán (lãi suất TPCP kỳ hạn 10 năm):

Chênh lệch giá chào mua –chào bán TPCP trên thị trường TPCP Việt Nam ở mức

cao, trung bình khoảng 25 điểm cơ bản. Trong 10 năm từ năm 2007 đến 2017, độ

biến động mức chênh lệch giá chào mua- chào bán TPCP tại Việt Nam khá lớn, nhất

là khi so với một số nước trong khu vực như Philipines hay Malaysia.

Chỉ tiêu vòng quay trái phiếu (bonds turnover ratio): Những năm đầu tiên

của thị trường thứ cấp TPCP, chỉ số vòng quay trái phiếu (bonds turnover ratio) từ

mức rất thấp, chỉ 0,000089, đã tăng dần qua các năm, lên đến 1,22 vào năm 2008.

Chỉ số vòng quay trái phiếu đạt 2,25971 vào năm 2017, mức cao nhất từ trước đến

nay.

3.3.1.6. Chỉ tiêu đánh giá mức độ ổn định

Mức độ biến động, độ lệch của chỉ số giá trái phiếu chính phủ: Mức sinh

lời TPCP Việt Nam ở mức khá cao so với một số nước trong khu vực. Tuy nhiên khi

đánh giá hệ số rủi ro CV của TPCP Việt Nam so với các quốc gia còn lại thì hệ số

rủi ro thấp nhất. Điều này chứng tỏ TPCP Việt Nam ít rủi ro hơn. Xét chỉ số độ lệch

(skewness) mức sinh lời TPCP Việt Nam có độ lệch dương giống như Thái Lan,

Indonesia, nhưng có độ lệch lớn nhất, chứng tỏ thị trường biến động và có những

mức sinh lời dương cực lớn.

Chỉ tiêu tỷ lệ nắm giữ TPCP của các NĐT dài hạn: giảm tỷ lệ nắm giữ của

các ngân hàng thương mại, tăng tỷ lệ nắm giữ TPCP của các NĐT dài hạn.

3.3.2. Đánh giá sự phát triển thị trường trái phiếu chính phủ Việt Nam

trong bối cảnh hội nhập

3.3.2.1. Kết quả đạt được

Thứ nhất, thị trường TPCP đã có sự mở rộng đáng kể về quy mô.

Thứ hai, thị trường phát triển hướng dần tới sự bền vững

Thứ ba, thị trường TPCP ngày càng hội nhập hơn với khu vực



Thứ tư, phần lớn TPCP Việt nam được phát hành trên thị trường tài chính

trong nước, đây là nguồn cung cấp vốn quan trọng và bền vững cho thị trường.

Thứ năm, thị trường TPCP trở nên dễ tiếp cận hơn với các NĐT thể hiện ở

cơ sở NĐT ngày càng đa dạng.

Thứ sáu, loại TPCP phát hành đã có sự đa dạng hơn, ngoài sản phẩm truyền

thống là trái phiếu trả lãi định kỳ chuẩn, thì thị trường đã có thêm sản phẩm trái

phiếu không trả lãi định kỳ và trái phiếu có kỳ trả lãi đầu tiên dài hoặc ngắn hơn kỳ

hạn chuẩn.

Thứ bảy, thị trường TPCP thể hiện sự hiệu quả hơn khi chỉ số vòng quay

TPCP được cải thiện đáng kể

Thứ tám, mức độ ổn định thị trường TPCP được cải thiện đáng kể thông qua

việc cải thiện kỳ hạn và cơ cấu NĐT.

3.3.2.2. Hạn chế

Thứ nhất, quy mơ thị trường còn hạn chế.

Thứ hai, thị trường chưa phát triển bền vững

Thứ ba, mức độ hội nhập còn thấp

Thứ tư, mức độ tiếp cận thị trường vốn quốc tế của Việt Nam còn thấp

Thứ năm, mức độ tiếp cận của các NĐT đến thị trường TPCP còn hạn chế.

Cơ sở nhà đầu tư vẫn thiếu vắng sự tham gia tích cực của các nhà đầu tư dài hạn có

tiềm lực tài chính mạnh như các quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm. Các sản phẩm

của thị trường còn khá đơn giản, chưa có các sản phẩm phức tạp

Thứ sáu, thị trường TPCP chưa hoạt động hiệu quả, chưa thể hiện được vai

trò là tham chiếu cho các thị trường khác. Chênh lệch giá chào mua, chào bán TPCP

lớn.

Thứ bảy, thị trường TPCP còn thiếu sự ổn định.

3.3.2.3. Ngun nhân

Quy mơ nền kinh tế còn nhỏ

Các điều kiện vĩ mơ còn kém

Sự tín nhiệm của chính phủ với tư cách là tổ chức phát hành còn hạn chế

Sự phát triển của khu vực tài chính còn thấp

Khn khổ pháp lý liên quan đến thị trường TPCP và các chủ thể tham gia

thị trường còn hạn chế

Tính minh bạch của thị trường chưa cao



CHƯƠNG 4: MƠ HÌNH KIỂM ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG

TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ

TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TÀI CHÍNH

4.1. Cơ sở dữ liệu và phương pháp

Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu bảng cân bằng, bao gồm 9

nước trong khu vực ASEAN + 3 gồm 3 nước ngoài ASEAN là Nhật Bản, Hàn Quốc,

Trung Quốc, và 6 nước trong khu vực ASEAN gồm Indonesia, Malaysia,

Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Luận án thực hiện kiểm định các

nhân tố tác động tới sự phát triển của thị trường trái phiếu Chính phủ trong bối cảnh

hội nhập tài chính trên dữ liệu thu thập từ 9 quốc gia trên do các quốc gia đều nằm

trong cùng một khu vực liên kết ở Đơng Á, có các thể chế hợp tác trên nhiều lĩnh

vực trong đó có sáng kiến thị trường trái phiếu Châu Á nhằm phát triển thị trường

trái phiếu trong khu vực. Dữ liệu của các biến liên quan trong mơ hình được thu

thập trong giai đoạn 17 năm từ năm 2000 đến năm 2016.

4.1.3. Giả thuyết và mơ hình nghiên cứu

Mơ hình hồi quy có dạng như sau:

GBMsizeit = βo + β1t*GDPit + β2t*EXFLUCit + β3t*KAOPENit +

β4t*FISBALit + β5t*BANKSIZEit + β6t* SPREADit + β7t* MONFREEit +

β8t*GOVSTABit + Uit

Trong đó:

i : quốc gia thứ i (i = 1-9)

t: năm (từ 2000-2016)

Biến phụ thuộc:

- GBMsize it : quy mô thị trường trái phiếu (% GDP) ở nước i trong năm t

Các biến độc lập:

- GDPit: Tổng sản phẩm quốc nội- ngang giá sức mua (GDP PPP) của nước i

tại năm t

- EXFLUCit: Biến động tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ của quốc gia i với

đồng USD tại thời điểm t

- KAOPENit : Độ mở tài khoản vốn quốc gia i tại thời điểm t

- FISBALit : tỷ lệ thặng dư/ thâm hụt NSNN % GDP của quốc gia i tại thời

điểm t

- BANKSIZEit : Tỷ lệ tín dụng trong nước cấp bởi các ngân hàng % GDP

của quốc gia i tại thời điểm t

- SPREADit : Chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động của quốc gia i

tại thời điểm t



- MONFREEit : mức độ tự do tiền tệ của quốc gia i tại thời điểm t

- GOVSTABit : chỉ số ổn định của Chính phủ của nước i tại năm t

- Uit : phần nhiễu

Các giả thuyết nghiên cứu:

Giả thuyết H1: Quy mơ nền kinh tế có mối quan hệ cùng chiều với quy mô

thị trường TPCP

Giả thuyết H2: Biến động tỷ giá có mối quan hệ ngược chiều với quy mô thị

trường TPCP

Giả thuyết H3: Mức độ hội nhập tài chính có mối quan hệ cùng chiều hoặc

ngược chiều với quy mô thị trường TPCP

Giả thuyết H4: Mức độ cân bằng ngân sách có mối quan hệ ngược chiều với

quy mô thị trường TPCP

Giả thuyết H5: Quy mô ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều hoặc ngược

chiều với quy mô thị trường TPCP

Giả thuyết H6: Chênh lệch lãi suất có mối quan hệ ngược chiều với quy mô

thị trường TPCP.

Giả thuyết H7: Mức độ tự do tiền tệ có quan hệ cùng chiều với quy mơ thị

trường TPCP

Giả thuyết H8: Sự ổn định Chính phủ có quan hệ cùng chiều với quy mô thị

trường TPCP.

4.2. Kết quả của mơ hình định lượng

4.2.1. Phân tích thống kê mơ tả

4.2.2. Kết quả phân tích hồi quy

Luận án tiến hành hồi quy mơ hình ước lượng với các phương pháp bình

phương tối thiểu gộp Pool OLS, mơ hình các tác động cố định FEM, và mơ hình các

tác động ngẫu nhiên REM.

Kiểm định Hausman nhằm mục đích kiểm tra sự phù hợp giữa mơ hình tác

động cố định FEM và mơ hình tác động ngẫu nhiên hay mơ hình Pooled OLS cho

kết quả mơ hình hiệu ứng cố định FEM là phù hợp hơn để giải thích kết quả. Kiểm

định Modified Wald test được thực hiện để kiểm tra hiện tượng phương sai sai số

thay đổi cho thấy phương pháp ước lượng FEM có hiện tượng phương sai sai số

thay đổi. Do phương pháp ước lượng FEM có hiện tượng phương sai sai số thay đổi

và tự tương quan, luận án sử dụng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất

GLS để khắc phục các hiện trượng trên.

Kết quả thu được như sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TÀI CHÍNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x