Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG

II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sau 20 năm tái lập, tỉnh Bắc Ninh đang thay ðổi từng ngày với nhiều

kết quả ðạt ðýợc ngoạn mục, thu hút nhiều nhà đầu tư, nhiều dự án lớn, gặt

hái nhiều thành tựu về phát triển kinh tế - an sinh xã hội nằm trong tốp ðầu

cả nýớc. Cùng với những tiềm năng phát triển trong tương lai, thì nhu cầu

về đất đai, nhà ở tại Bắc Ninh trở nên bức xúc. Năm 2017, 2018 giá nhà đất

ở Bắc Ninh tăng lên chóng mặt, dẫn đến phát sinh tranh chấp, khiếu nại về

đất gia tăng.

Thủ tục hành chính tuy đã được cải cách và có nhiều chuyển biến

tích cực, tuy nhiên vẫn còn nhiều thủ tục rườm ra, khó hiểu, không cần

thiết.Việc tuyên truyền pháp luật ở cơ sở được chú trọng nhưng hiệu quả

tuyên truyền chưa cao dẫn dến người dân chưa hiểu hết trách nhiệm- nghĩa

vụ và quyền lợi của mình.

Hiện nay, bộ máy tổ chức chính quyền cấp xã, phường còn nhiều bất

cập tồn tại, trong đó là vấn đề số lượng, chất lượng cán bộ, công chức…

II.2. Cơ sở lý luận

Do đưa đẩy, tránh né trách nhiệm hoặc do thiếu hiểu biết về pháp

luật, ở đây là cán bộ tư pháp, xây dựng- địa chính xã X đã làm cho vụ việc

thêm phức tạp.

Người dân do thiếu hiểu biết về pháp luật đã kiện sai nhưng khơng

được giải thích ngay từ cơ sở, cán bộ quản lý hành chính nhà nước khơng

nắm chắc các quy định của pháp luật nên đã tự tiện giải quyết vụ việc

khơng thuộc thẩm quyền của mình. Do đó, dẫn đến việc ra quyết định hành

chính sai.

II.3. Phân tích diễn biến của tình huống

II.3.1.

Tại UBND xã X:

Trước tiên, phải xác định nôi dung vụ kiện giữa bà Nguyễn Ngọc

Điền với bốn người con riêng của ông Nguyễn Văn Khuê là tranh chấp tài

sản thừa kế khơng có di chúc.

Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 nãm

2014, trong chương 13, tại mục 2, Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai:

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải

hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thơng qua hòa giải ở cơ sở.

6



6



2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp khơng hòa giải được thì

gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa

giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực

hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ

chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải

tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn

không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh

chấp đất đai.

Như vậy, UBND xã X sau khi nhận đơn của bà Nguyễn Ngọc Điền

đã không tiến hành tổ chức hòa giải giữa bà Nguyễn Ngọc Điền với bốn

người con riêng của ông Nguyễn Văn Khuê mà chuyển ngay đơn đến

UBND huyện Tiên Du là trái với quy định của pháp luật.

Cũng trong trong chương 13, tại mục 2, điều Ðiều 203. Thẩm quyền

giải quyết tranh chấp ðất ðai, “Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy

ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một

trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về

tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự khơng có Giấy chứng nhận hoặc

khơng có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì

đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp

đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có

thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của

pháp luật về tố tụng dân sự;...

Như vậy, 1000 m2 đất của ông Nguyễn Văn Khuê tuy chưa có giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng có giấy tờ viết tay cho tặng của thế

hệ trước để lại, nên theo quy định, khi đã tiến hành hòa giải khơng thành thì



7



7



UBND xã X hướng dẫn cho các bên tranh chấp nộp đơn khởi kiện tòa án

nhân dân có thẩm quyền.

II.3.2.

Tại UBND huyện Tiên Du:

Theo quy định, sau khi nhận đơn khiếu kiện của bà Nguyễn Ngọc

Điền, do UBND xã X chuyển đến, UBND huyện Tiên Du phải giải quyết

như sau:

- Xem xét hồ sơ. Nếu UBND xã X chưa tiến hành hòa giải thì trả hồ sơ lại và

yêu cầu UBND xã X tổ chức hòa giải giữa bà Nguyễn Ngọc Điền và bốn

người con riêng ơng Nguyễn Văn Kh.

- Nếu đã hòa giải rồi mà khơng thành thì chỉ đạo và chuyển hồ sơ về UBND

xã X để hướng dẫn các đương sự nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân

để giải quyết vụ khởi kiện tranh chấp. Như tình huống nêu trên, việc

UBND huyện Tiên Du chưa xem xét kỹ hồ sơ đã được hòa giải ở cấp xã

hay chưa mà đã chấp thuận theo nội dung đơn khiếu nại của bà Nguyễn

Ngọc Điền là không đúng quy định. Việc UBND huyện Tiên Du ra quyết

định giải quyết tranh chấp đất đai thừa kế là không đúng thẩm quyền.

Nội dung xử lý đơn khiếu kiện sai với quy định pháp luật. Cụ thể:

1. Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên không được phân

chia tài sản. Nội dung khiếu kiện này là sai, vì 1000 m2 đất này ông

Nguyễn Văn Khuê được thừa hưởng hợp pháp của thế hệ trước để lại (có

giấy viết tay cho tặng của đời trước để lại), đã sử dụng ổn định lâu dài. Tuy

ông Khuê chưa làm thủ tục để xin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

nhưng vẫn là đất hợp pháp.

2. Bà Nguyễn Ngọc Điền được toàn quyền sử dụng ngôi nhà là không đúng.

Theo quy định hiện hành, trường hợp khơng để lại di chúc hoặc có để lại di

chúc nhưng được xác định là khơng hợp pháp… thì di sản thừa kế của

người chết được chia theo pháp luật.

Theo quy định tại Điều 651 của Bộ luật Dân sự 2015, hàng thừa kế

thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con

nuôi của người chết ...

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

8



8



Khoản 3 Điều này quy định những người ở hàng thừa kế sau chỉ

được hưởng thừa kế, nếu khơng còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết,

khơng có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối

nhận di sản.

Căn cứ quy định nói trên, do ơng Kh khơng để lại di chúc nên di

sản của ông Khuê sẽ được chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất gồm: bà

Điền và bốn người con của ông.

Về mảnh đất 1.000 m2 của ơng Kh có trước khi kết hơn với bà

Điền, ơng Kh được thừa kế riêng thì tồn bộ được xác định là tài sản

riêng của ông Khuê. Theo quy định, 1.000 m2 sẽ được chia đều cho bà Điền

và bốn người con riêng (mỗi người 200 m2).

Về ngôi nhà là tài sản có sau khi kết hơn với Bà Điền, thì bà Điền và

ơng Kh, mỗi người được hưởng một nửa giá trị căn nhà. Vậy giá trị một

nửa căn nhà thuộc sở hữu của ông Khuê phải chia đều thành 5 phần cho 5

người ở hàng thừa kế thứ nhất (là bà Điền và 4 người con riêng). Do đó, bà

Điền muốn sở hữu tồn bộ căn nhà thì cần trả cho phần giá trị căn nhà mà

bốn người con riêng được thừa kế từ ông Khuê (4/10 giá trị căn nhà).

Qua phân tích ở trên, ta thấy rằng, vụ kiện giữa bà Nguyễn Ngọc

Điền và bốn người con riêng của ơng Nguyễn Văn Kh có thể giải quyết

ngay tại UBND xã X thông qua bước giải tại UBND xã. Có như vậy sẽ hạn

chế tình trạng kiện tụng, khiếu nại đến nhiều cấp, nhiều nơi, gây phức tạp

mà vẫn không giải quyết đến nơi, đến chốn, đúng pháp luật.

III. XỦ LÝ TÌNH HUỐNG

III.1.

Mục tiêu xử lý tình huống

- Đảm bảo kỷ cương pháp luật, phù hợp với nguyên tắc cơ bản mà Hiến

pháp đã nêu: Đất đai thuộc sở hữu của toàn dân.

- Giảm tối đa các mức thiệt hại kinh tế (nếu có), bảo vệ lợi ích Nhà nước,

lợi ích chính đáng của công dân.

- Giải quyết hài hòa giữa các lợi ích trước mắt và lâu dài, các lợi ích kinh

tế - xã hội và tính pháp lý.

- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.



9



9



Mục tiêu của việc xử lý tình huống được đưa ra là vụ kiện về tranh

chấp tài sản thừa kế khơng có di chúc giữa bà Nguyễn Ngọc Điền và bốn

người con riêng ông Nguyễn Văn Khuê. Vậy ta cần xác định rõ:

+ Đối tượng cần giải quyết?

+ Cấp nào, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vụ khởi kiện trên

theo đúng quy định của pháp luật?

+ Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vụ kiện được xác định

như thế nào?

+ Làm thế nào để giải quyết nhanh, có hiệu quả cao đối với các vụ

việc hành chính trong bộ máy quản lý hành chính Nhà nước, mang lại sự

hài lòng cho người dân.

+ Từ vụ khiếu kiện tranh chấp quyền thừa kế trở thành vụ khiếu nại

đối với quyết định hành chính của cơ quan quản lý hành chính nhà nước.

+ Đã làm phức tạp thêm tình hình, từ khởi kiện rồi đến khiếu nại kéo

dài, qua nhiều cấp, nhiều nơi giải quyết nhưng vẫn chưa giải quyết được

mâu thuẫn trong tranh chấp.

Để đạt được các mục tiêu trên, cần phải căn cứ vào cơ sở pháp luật.

Phân tích được nguyên nhân và hậu quả của vụ việc.Từ đó tìm ra giải pháp

đúng đắn để giải quyết vụ việc hành chính đối với cơ quan quản lý hành

chính Nhà nước sao cho hợp tình, hợp lý.

III.2.

Xây dựng và lựa chọn phương án, giải pháp tối ưu để xử lý

Như phân tích ở trên, phương án giải quyết tình huống như sau:

III.2.1.

Phương án 1: giả thuyết

Nếu mọi công dân đều được tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp

luật cụ thể thì sẽ khơng có khiếu kiện, khiếu nại xảy ra.

Tất cả cán bộ công chức từ phường, xã đến thành phố chịu khó

nghiên cứu, học hỏi, trau dồi kiến thức, làm việc tập trung, tự đề cao trách

nhiệm, nắm vững luật pháp, quy trình thực hiện khi thực thi nhiệm vụ được

giao… thì khơng có khiếu nại, khiếu kiện xảy ra.

III.2.2.

Phương án 2: Thuyết phục, giáo dục

Phương án này áp dụng đối với các trường hợp đơn giản, tính chất

mức độ sự việc khơng nghiêm trọng. Chỉ đạo tổ dân phố và các tổ chức

đoàn thể để thuyết phục, giải quyết.

10



10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×