Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Diễn biến của tình huống

Diễn biến của tình huống

Tải bản đầy đủ - 0trang

phải có nghĩa vụ thanh tốn cho chị L số tiền 1.760.000.000đồng còn nợ và

khơng có u cầu về lãi suất. Ngồi ra, chị L khơng có u cầu nào khác.

Tại bản tự khai ngày 15/09/2017, bị đơn là chị Trần Thị Phương H xác

định là có vay của chị Phạm Thị L tổng số tiền là 1.760.000.000đồng. Nhưng

do hoàn cảnh khó khăn nên hiện tại chị Hải khơng thể trả chị Liên số tiền này.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải đối với hai bên

về thời hạn thanh toán cũng như phương thức thanh tốn nhưng khơng thành.

Chị Phạm Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận

định: Chị Phạm Thị L và chị Trần Thị Phương H là chỗ quen biết. Vào các

ngày 15/9/2016 và ngày 15/10/2016, chị Liên có cho chị Hải vay tổng số tiền

1.760.000.000đồng, với lãi suất 2%/tháng và khơng có thời hạn trả. Hai bên có

viết giấy biên nhận. Nay chị L có việc cần sử dụng đến số tiền trên, mặc dù chị

đã nhiều lần yêu cầu chị H trả chị số tiền trên, nhưng chị H khơng trả. Nay chị

L đề nghị Tồ án giải quyết buộc chị H phải có nghĩa vụ thanh tốn cho chị L

số tiền 1.760.000.000đồng còn nợ và khơng có u cầu về lãi suất. Ngồi ra,

chị L khơng có u cầu gì khác.

Tại phiên tồ, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu chị H phải có nghĩa vụ thanh

tốn cho chị số tiền 1.760.000.000đồng, chị khơng u cầu về lãi suất. Chị H

xác định còn nợ chị L số tiền 1.760.000.000đồng nhưng do hiện tại hoàn cảnh

kinh tế của chị khó khăn nên chưa thể thanh tốn cho chị L số tiền này trong

(02) hai năm tới được. Chị đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật và tính lại

lãi suất tiền vay của chị L vì theo chị H tiền lãi quá cao.



5



Xét thấy, việc vay nợ giữ chị L và chị H là có thật. Việc chi L yêu cầu chị

Hi phải có nghĩa vụ thanh tốn trả chị số tiền 1.760.000.000đồng còn nợ và

khơng tính lãi suất, xét thấy là hợp pháp nên cần được chấp nhận.

Tại phiên tồ, chị H xuất trình giấy vay nợ lãi suất cao 1.750đồng/1

triệu/ngày ghi ngày 15/9/2016 nhưng việc đó chưa xảy ra và cũng trong ngày

chị H ký vay nợ với lãi suất 2%/tháng, nhưng từ khi hai bên đương sự xác lập

vay tiền vào các ngày 15/9/2016 và ngày 15/10/2016 giữa chị L và chị H chưa

thực hiện việc tính lãi suất. Nay, chị Liên không yêu cầu lãi suất đối với số

tiền chị H vay nợ, nên không chấp nhận yêu cầu của chị Hải về việc tính lại lãi

suất. Còn một số giấy tờ ghi lãi suất có ký nhận giữa chị L và chị H khơng rõ

thời điểm nào, số tiền tính lãi là bao nhiêu và thanh toán lãi ở số nợ nào nên

việc chị H yêu cầu tính lãi suất trên số tiền vay chị L là khơng có căn cứ chứng

minh. Nên bác yêu cầu này của chị H.

Về án phí:Chi cục thi hành án dân sự Tp Bắc Ninh ra quyết định số 305

ngày 3/10/2017 về việc: Chị Trần Thị Phương H phải chịu án phí dân sự sơ

thẩm theo quy định. Trả chị Phạm Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Tồ án quyết định

Áp dụng: Điều 471, Điều 474; Điều 477 của Bộ Luật Dân sự; Điều 25;

Điều 131 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Pháp lệnh về án phí, lệ phí Toà án của

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009.

Xử: Buộc chị Trần Thị Phương H phải có nghĩa vụ thanh toán trả chị

Phạm Thị L số tiền 1.760.000.000đồng (Một tỷ bảy trăm sáu mươi triệu đồng

chẵn).

Kể từ ngày 3/10/2017 thông báo số 305 người được thi hành án có đơn

yêu cầu thi hành án, hàng tháng người có nghĩa vụ phải thi hành còn phải chịu



6



lãi suất theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước quy định trên số tiền

chưa thi hành án và tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật

Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại

Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bác yêu cầu của chị Trần Thị Phương H về việc tính lại lãi suất.

Về án phí: Chị Trần Thị Phương H phải chịu 64.800.000 đồng tiền án phí

DSST.

Trả lại chị Phạm Thị L 30.000.000đồng tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp

theo Biên lai thu số BN/2017/003977 ngày 15/10/2017 của Chi cục thi hành

án thành phố Bắc Ninh .

Thông báo cho nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo trong

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.



PHẦN 2: PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG

1. Cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý.

Q trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự bao gồm

nhiều giai đoạn khác nhau. Việc giải quyết vụ việc dân sự tại Toà án tuy rất

quan trọng nhưng thực ra mới chỉ là giai đoạn đầu của quá trình bảo vệ quyền,

lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong giai đoạn này, Tồ án mới chỉ làm rõ các

tình tiết của vụ việc dân sự và áp dụng các quy phạm pháp luật quyết định



7



quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Quyền và nghĩa vụ của các đương sự

trong vụ việc dân sự đã được Toà án quyết định muốn trở thành hiện thực thì

phải thơng qua việc thi hành án. Do vậy, đã có quan điểm cho rằng: “Bản án,

quyết định của Toà án như là “bản vẽ” hay là “bài lý thuyết” mang tính hướng

dẫn còn việc tổ chức thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự là “người thợ

xây” hay là hoạt động đưa bài lý thuyết đó thực hành trên thực tế.

Tình huống này được áp dụng các văn bản pháp luật như sau:

- Bộ luật dân sự năm 2015;

- Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

-Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định

chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự;

-Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định

chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ

tục thi hành án dân sự;

-Luật đất đai năm 2013;

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định

về hướng dẫn thi hành Luật đất đai.

2. Phân tích tình huống

Khi Bản án nêu trên có hiệu lực pháp luật. Ngày 01/10/2017 Chi cục Thi

hành án dân sự Thành phố nhận được đơn yêu cầu thi hành án của chị Phạm

Thị L, địa chỉ: Thôn A, xã P, thành phố Bắc Ninh, tỉnh B. Nội dung đơn: Yêu

cầu chị Trần Thị Phương H, địa chỉ: Thôn D, xã P, thành phố Bắc Ninh, tỉnh B

phải có nghĩa vụ thanh tốn cho chị số tiền 1.760.000.000đồng và lãi suất

chậm thi hành án theo quy định của pháp luật.



8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Diễn biến của tình huống

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×