Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG ĐÔNG

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG ĐÔNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



còn xuất khẩu vào những nước khác trong nội khối Trung Đông.

2.1.2.2. Đối thủ cạnh tranh của nông sản Việt Nam tại thị trường Trung Đơng

Các đối tác chính của Trung Đông về hàng nông sản của Việt Nam là Thái

Lan, Ấn Độ, các quốc gia Bắc Phi, Hoa Kỳ.... Đây là các quốc gia lớn trên thế giới

và có thế mạnh về cung cấp lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng. Đây đồng thời

cũng chính là các đối thủ cạnh tranh lớn với hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam

trên thế giới. Ngồi ra còn có các doanh nghiệp kinh doanh nông sản của một số

nước trong nội khối Trung Đơng như: Thổ Nhĩ Kì, Israel, Iran,…

2.1.2.3. Chính sách kinh tế vĩ mô và các quy định của Trung Đơng đối với

hàng nhập khẩu

Nhìn chung các nước Trung Đơng khơng áp dụng các chính sách hạn chế

hàng nơng sản nhập khẩu. Tuy nhiên có một số lưu ý trong chính sách thương mại

đối với hàng nơng sản nhập khẩu của một số quốc gia Trung Đông:

Đối với thủ tục nhập khẩu và chứng từ thì sản phẩm nơng sản nhập khẩu vào

UAE cần có các giấy tờ sau: Tờ khai hải quan đi kèm với bản vận đơn gốc, hóa đơn

thương mại có cơng chứng, phiếu đóng gói, chứng nhận xuất xứ được chứng thực

bởi Lãnh sự quán UAE, giấy chứng nhận vệ sinh dịch tễ theo yêu cầu. UAE áp dụng

biểu thuế nhập khẩu chung của khối GCC với biểu thuế mức giá chung là từ 0-5%.

2.1.3. Khái quát thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường Trung

Đông

Các mặt hàng nông sản là những mặt hàng chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim

ngạch xuất khẩu sang Thị trường Trung Đông với các sản phẩm chủ yếu: Gạo, hạt

tiêu, hạt điều, cà phê, hoa quả, chè...

Bảng 2.2: Một số mặt hàng nông sản xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang

một số thị trường ở Trung Đơng năm 2016

Đơn vị: triệu USD

Tên

mặt Kim

Thị trường chính

STT

hàng

ngạch

1

Gạo

44

Iraq, Iran, Yemen, UAE. Arap Saudi,...

2

Hạt tiêu

151

UAE, Yemen, Arap Saudi, Israel,...

3

Chè

16.5

UAE, Arap Saudi, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran...

4

Cà phê

26

UAE, Arap Saudi, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran...

5

Rau, củ, quả 31.9

Chủ yếu vào 6 nước GCC, Shíp...

Nguồn: Vụ Châu Phi, Tây Á, Nam Á, Bộ Công thương

Các sản phẩm nông sản xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường Trung

Đơng trong những năm qua thường biến động không chỉ ở sản phẩm xuất khẩu mà

còn biến động cả về thị trường. Các sản phẩm xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam bao

gồm gạo, hạt tiêu, hạt điều, rau quả, cà phê và chè. Thị trường nhập khẩu lớn và ổn

định nhất ở Trung Đông chủ yếu vẫn là 6 nước GCC và một số quốc gia khác: Thổ

Nhĩ Kỳ, Li băng,...



11



2.1.4. Đặc điểm của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị

trường Trung Đông

Các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường

Trung Đông chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi thị trường này còn

khá xa xơi đối với Việt Nam nên thời gian chu chuyển hàng nông sản sẽ dài hơn,

chứa nhiều rủi ro liên quan đến việc chất lượng một số mặt hàng nơng sản đi xuống.

Điều này có thể làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt

Nam, đồng thời tạo ra tâm lý e ngại cho doanh nghiệp khi có ý định xâm nhập thị

trường này.

Nhiều doanh nghiệp đã thực hiện cam kết thanh tốn qua L/C khơng hủy

ngang mở tại các ngân hàng uy tín với các đối tác. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp xuất

khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường Trung Đơng vẫn gặp nhiều khó khăn trong

việc thanh toán, đặc biệt là vấn đề trả chậm.

2.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu

Việt Nam sang thị trường Trung Đông

2.2.1. Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản

xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Trung Đông

2.2.1.1. Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng gạo xuất khẩu Việt Nam sang thị

trường Trung Đông

- Kim ngạch và sản lượng gạo xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Trung Đông:

Trong những năm qua, sản lượng gạo xuất khẩu gạo của Việt Nam đó tăng

mạnh. Đến nay Việt Nam đó trở thành nước xuất gạo lớn thứ hai trên thế giới, sau

Thái Lan. Trong khu vực Trung Đơng, ngồi Thái Lan, còn có 3 nước khác có khả

năng cạnh tranh với Việt Nam là Ấn Độ, Pakistan và Trung Quốc.

- Thị phần gạo xuất khẩu: Sự tăng lên về sản lượng gạo xuất khẩu làm cho thị

phần gạo của Việt Nam trên thị trường Trung Đông cũng tăng lên. So với một số

nước có khả năng cạnh tranh cao như Thái Lan, Pakistan và Ấn Độ thì tốc độ mở

rộng thị phần gạo của Việt Nam trên thị trường Trung Đông tăng lên nhanh hơn. Đến

năm 2017, thị phần gạo xuất khẩu của các nước Pakistan chiếm 39%, Ấn Độ chiếm

32% và Thái Lan chiếm khoảng 20%.

So sánh với các đối thủ cạnh tranh tại thị trường Trung Đông như Ấn Độ,

Pakistan, Thái Lan, Trung Quốc... về năng lực cạnh tranh và vị trí mặt hàng gạo xuất

khẩu của các nước trên thị trường Trung Đông được thể hiện qua bảng sau:



Bảng 2.7: Hệ số RCA của một số quốc gia xuất khẩu gạo sang thị trường Trung



12



Đông giai đoạn 2012 - 2017

Năm

2012

2013

2014

2015

2016

2017

Ấn Độ

11,18

11,25

11,33

12.56

12,95

12,40

Pakistan

35,14

35,26

35,91

36,54

38,79

37,39

Thái Lan

4,05

4,16

4,40

4,45

4,25

7,44

Việt Nam

0,62

0,78

0,99

0,924

1,22

3,12

Trung

0,0016

0,002

0,0025

0,003

0,007

0,05

Quốc

Campuchia

0

0

0,0015

0,0021

0,004

0,022

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Trademap, Tổng cục thống kê Việt Nam

Chỉ số RCA mặt hàng gạo xuất khẩu sang Trung Đơng của Pakistan có RCA

cao và ổn định nhất từ 35,14 năm 2012 đến 37,39 năm 2017. Tiếp theo là RCA của

Ấn Độ từ 11,18 năm 2012 đến 12,40 năm 2017. RCA gạo xuất khẩu của Thái Lan

sang Trung Đông cũng rất cao, từ 4,05 năm 2012 đến 7,44 năm 2017. Tuy chưa thể

cạnh trạnh mặt hàng gạo với Pakistan, Ấn Độ hay Thái Lan trên thị trường Trung

Đông nhưng Việt Nam có chỉ số RCA cao hơn khá nhiều so với các đối thủ cạnh

tranh khác như Trung Quốc, Campuchia,...

2.2.1.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng cà phê xuất khẩu Việt Nam

sang thị trường Trung Đông

Thị phần cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới ngày càng được khẳng định

rõ nét. Nếu như trước đây, cà phê của Việt Nam chưa có được một vị trí đáng kể trên

thị trường Trung Đơng, thì đến nay Việt Nam đó trở thành nước có thị phần cà phê

xuất khẩu lớn trên thị trường này.

So sánh hệ số RCA mặt hàng cà phê của Việt Nam với một số đối thủ khác tại

Trung Đông giai đoạn 2012 - 2017, ta thấy cà phê xuất khẩu của Việt Nam có NLCT

tương đối cao so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường này.

Bảng 2.9: Hệ số RCA của một số quốc gia xuất khẩu cà phê sang thị trường

Trung Đông giai đoạn 2012 - 2017

Năm

2012

2013

2014

2015

2016

2017

Brazil

18,74

19,92

21,9

21,68

19,14

20,05

Colombia

17,97

18,4

18,25

31,28

22,66

19,65

Indonesia

6,64

6,58

6,51

7,19

7,62

8,22

Việt Nam

16,61

6,69

7,61

4,62

7,73

3,98

Honduras

3,17

1,41

1,54

1,65

1,32

2,40

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp, tính tốn từ Trademap và Tổng cục Thống kê

Việt Nam

Các quốc gia Nam Mỹ thường là các đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam

tại thị trường Trung Đông như Brazil, Colombia,,...Chỉ số RCA mặt hàng cà phê của



13



các quốc gia này tại thị trường Trung Đông cao hơn so với các quốc gia khác như

Việt Nam hay Indonesia. Mức RCA của các quốc gia Nam Mỹ này đều ở mức trung

bình 20, cao hơn khá nhiều so với Việt Nam.

2.2.1.3. Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng chè xuất khẩu Việt Nam sang

thị trường Trung Đông

Trong số những mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực thị

trường Trung Đông, chủ yếu là chè xanh. Tuy nhiên mặt hàng chè xuất khẩu có xu

hướng giảm mạnh trong giai đoạn 2012-2017. Cụ thể năm 2012 kim ngạch xuất

khẩu chè sang thị trường Trung Đông đạt hơn 20.45 triệu USD và đến năm 2016 chỉ

còn đạt 7.7 triệu USD.

Theo tính tốn của tác giả dựa trên dữ liệu Trademap thì RCA của Việt Nam

năm giai đoạn 2012 - 2017 có mức trung bình 2.1. Đây là mức thấp hơn 2,5. Điều

này chứng tỏ lợi thế cạnh tranh của chè xuất khẩu Việt Nam tại thị trường Trung

Đông khá thấp. So với các đối thủ cạnh tranh lớn nhất như Srilanka, Keynia,

Paskistan, UAE, Ấn Độ thì RCA mặt hàng chè của Việt Nam thấp hơn rất nhiều.

Còn các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam như Trung Quốc, Indonesia,... thì

Việt Nam có lợi thế cạnh tranh cao hơn trên thị trường Trung Đông.

2.2.1.4. Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng hồ tiêu xuất khẩu Việt Nam

sang thị trường Trung Đông

Hồ tiêu Việt Nam hiện đã xuất khẩu đi 97 quốc gia và vùng lãnh thổ và luôn

dẫn đầu thế giới về xuất khẩu trong thời gian qua. Đối với thị trường Trung Đông

giai đoạn 2012 - 2017, Việt Nam xuất khẩu hồ tiêu sang thị trường này tăng từ

138.609 triệu USD năm 2012 đến 154.732 triệu USD năm 2017.

Theo tính tốn của tác giả dựa trên dữ liệu Trademap và Tổng cục Thống kê

Việt Nam thì RCA hồ tiêu xuất khẩu Việt Nam đạt cao nhất giai đoạn 2012 - 2017 là

năm 2016 với 87,2. Chỉ số RCA của Việt Nam cao hơn rất nhiều so với chỉ số RCA

của các đối thủ cạnh tranh chính tại thị trường Trung Đơng như Ấn Độ, Trung Quốc,

Indonesia, UAE...Mặc dù thị trường Trung Đông đánh giá hồ tiêu Việt Nam rất thơm

và khá ngon nhưng hồ tiêu Việt Nam chủ yếu vẫn xuất khẩu tiêu đen nên giá trị gia

tăng chưa cao.

2.2.2. Thực trạng về chất lượng hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam sang thị

trường Trung Đông

Mặc dù các tiêu chuẩn chất lượng nông sản Việt Nam đáp ứng được các yêu

cầu cơ bản của các quốc gia Trung Đông như: Hạt điều chế biến, hạt tiêu, đậu

phộng, cà phê, trà, mật ong, gia vị chế biến, gạo và các chế phẩm từ gạo, bột chiên

giòn, bột ngũ cốc, bột gạo lứt, hạt sen, trái cây tươi-khô,...song hiện nay tỷ trọng chế

biến sâu của nơng sản Việt Nam nói chung chỉ đạt 25-30% tổng sản lượng nông sản

xuất khẩu. Nhiều sản phẩm nông sản được đưa đi xuất khẩu chỉ ở dạng sơ chế hoặc

chế biến thô nên giá bán không cao và không cạnh tranh được với sản phẩm của các

đối thủ.



14



Về đánh giá chất lượng hàng nông sản Việt Nam phù hợp với tiêu chuẩn Halal

qua nhận định ý kiến “Nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam phù hợp với tiêu

chuẩn Halal và các thị hiếu người Hồi giáo” được đánh giá ở mức thấp (2,34/5,0)

điểm. Có 60/90 ý kiến rất khơng đồng ý với nhận định trên.

2.2.3. Thực trạng giá cả hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường Trung Đông

của Việt Nam

Nói chung, giá sản phẩm của mỗi loại nơng sản Việt Nam nhìn chung là khá

cạnh tranh trên thị trường Trung Đông. Mỗi mặt hàng nông sản thường được phân

ra làm các loại khác nhau. Ví dụ như gạo, Trung Đông chủ yếu nhập các loại gạo

như: Gạo Basmati, gạo trắng hạt dài, cơm dừa sấy khơ,...Trong khi đó, Việt Nam lại

chỉ chủ yếu xuất khẩu loại gạo trắng hạt dài, cơm dừa sấy khơ vào thị trường này.

Còn gạo Basmati lại chỉ chủ yếu do Ấn Độ, Pakistan cung cấp. Các loại gạo xuất

khẩu sang Trung Đông phải cạnh tranh khá gay gắt với các loại gạo của Thái Lan,

Trung Quốc, Ấn Độ...

2.2.4. Thực trạng về chi phí sản xuất hàng nông sản xuất khẩu

Trong các quốc gia xuất khẩu nông sản sang thị trường Trung Đông, Việt

Nam vẫn là quốc gia có chi phí về nhân cơng tương đối rẻ so với các đối thủ cạnh

tranh. Chính vì nhờ lợi thế nhân cơng thấp nên giá sản phẩm nơng sản Việt Nam có

mức cạnh tranh vừa phải, tuy giá một vài sản phẩm nơng sản có giá khá cao tại thị

trường Trung Đông nhưng vẫn được khách hàng chấp nhận.

Đối với nhận định “Giá thành các sản phẩm nơng sản nhìn chung vẫn thấp

hơn so với các đối thủ cạnh như Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc trên thị

trường Trung Đơng” với mức điểm bình qn 3.21. Đây là mức điểm trung bình.

Điều này cho thấy rằng, giá thành các sản phẩm nông sản Việt Nam thấp hơn so

với các đối thủ cạnh như Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc trên thị trường

Trung Đông trong những năm qua.

2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hướng đến năng lực cạnh tranh hàng nông sản

Việt Nam sang thị trường Trung Đông

2.3.1. Thực trạng các yếu tố nội sinh

2.3.1.1. Thực trạng về sự đa dạng hóa hàng nơng sản xuất khẩu

Nông sản Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế trên thị trường nông sản Trung

Đông bằng việc khơng chỉ nâng cao chất lượng, đa dạng hóa chủng loại, mẫu mã

cũng như đảm bảo sức cung ổn định. Thêm vào đó, chính sách đa dạng hóa sản

phẩm xuất khẩu khơng chỉ ở chủng loại hàng hóa mà còn đẩy mạnh các sản phẩm

được chế biến sâu hơn. Ví dụ như gạo, hiện nay Việt Nam không những xuất khẩu

gạo tấm mà còn xuất khẩu gạo trắng hạt dài, cơm dừa sấy,... sang thị trường Trung

Đông.

2.3.1.2. Thực trạng về thiết kế, bao bì, mẫu mã và nhãn mác hàng nông sản

xuất khẩu



15



Các thương hiệu gạo, cơm dừa khô, chè, cà phê Trung Nguyên,... đã và đang

tiếp tục được chào bán tại thị trường Trung Đông với nhiều thương hiệu khác nhau.

Tuy nhiên kiểu dáng, mẫu mã hàng nông sản Việt Nam vẫn còn đơn điệu, chưa đa

dạng, phong phú nên NLCT đang đạt ở mức trung bình. Ở nhiều thị trường Trung

Đông hiện nay như GCC sự cạnh tranh hàng nông sản giữa các nước chủ yếu dựa

trên kiểu dáng mẫu mã vì các yếu tố giá cả, chất lượng sản phẩm nông sản tương

đối giống nhau.

2.3.1.3. Thực trạng về kênh phân phối

Thị trường hàng nông sản nhập khẩu của Trung Đông hiện nay vẫn chủ yếu từ

các quốc gia như Trung Quốc, một số quốc gia Nam Á, Mỹ, Ấn Độ,...Trong khi Việt

Nam cũng mới chỉ xuất khẩu hàng nông sản sang Trung Đông hơn 15 năm qua và

vẫn còn gặp nhiều khó khăn về khoảng cách địa lý, văn hóa, tơn giáo, phong tục, tập

qn, ngơn ngữ...nên phần lớn hàng nông sản Việt Nam vẫn tiếp tục phải xuất khẩu

qua thương nhân của quốc gia thứ ba như: Ấn Độ, Malaysia, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ...

Các quốc gia trung gian này đã thiết lập được hệ thống phân phối hàng nông sản ở

khu vực Trung Đông từ khá sớm.

2.3.1.4. Thực trạng về hoạt động xúc tiến thương mại

Việt Nam hiện nay đã mở được 6 thương vụ tại khu vực Trung Đông như: ở

Iran, Kuwait, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ, Các Tiểu vương quốc Ảrập thống nhất (UAE),

Arap Saudi, và Iraq (tạm thời đóng cửa). Về cơ bản chương trình XTTM quốc gia đã

có những tác động tích cực đến hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu nói chung và xuất khẩu

nơng sản nói riêng, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, sức cạnh tranh của các doanh

nghiệp.

2.3.1.5. Thực trạng về dịch vụ khách hàng

Do điều kiện về khoảng cách địa lý cũng như chưa đủ điều kiện để phân phối

trực tiếp tất các cả sản phẩm nông sản của Việt Nam tại Trung Đông nên hoạt động

dịch vụ khách hàng của các doanh nghiệp nông sản Việt Nam vẫn còn nhiều hạn

chế. Các hoạt động dịch vụ thương mại mới chủ yếu thực hiện với các đối tác trung

gian chứ chưa có nhiều hoạt động dịch vụ khách hàng với trực tiếp người tiêu dùng

Trung Đông nên chưa có nhiều điều kiện hiểu hơn về thói quen, phong tục, tập quán

kinh doanh, tập quán tiêu dùng của người Trung Đông.

2.3.1.6. Thực trạng về thương hiệu hàng nông sản xuất khẩu

Các thương hiệu hàng nông sản xuất khẩu lớn của Việt Nam sang thị trường

Trung Đông những năm qua bao gồm: Gạo trắng hạt dài, Cơm dừa sấy khô, Cà phê

Trung Nguyên, Chè Tân Cương, Trà Ô Long, Hồ tiêu Phú Quốc, Hạt Điều Bình

Phước, Dứa Đồng Giao, Ngơ Ngọt Ninh Bình, Chuối Lào Cai, Chơm Chơm Java,

Xồi Cát Hòa Lộc, Dưa chuột Tiên Lãng... đã dần thâm nhập sâu hơn vào thị trường

Trung Đông, đặc biệt là ở các nước GCC và Thỗ Nhĩ Kỳ.

2.3.1.7. Khả năng tham gia của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam vào chuỗi

giá trị hàng nông sản thế giới



16



Những lợi thế mà nền nơng nghiệp Việt Nam nói chung và hàng nơng sản Việt

Nam có thể kể đến như: Cơ chế, chính sách phát triển nơng nghiệp hàng hóa ngày

càng được bổ sung, hoàn chỉnh phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, tạo

thuận lợi, minh bạch và ổn định dài hạn để thu hút đầu tư, thúc đẩy các doanh

nghiệp có sức cạnh tranh liên kết với nơng dân theo chuỗi giá trị.

Tuy nhiên, hàng nông sản Việt Nam cũng còn nhiều tồn tại và phải đối mặt với rất

nhiều thách thức trên thị trường quốc tế nói chung và thị trường Trung Đơng nói riêng.

Theo đánh giá của các chuyên gia, có tới trên 80% lượng hàng nông sản của nước ta ra

thị trường thế giới phải thơng qua trung gian bằng các “thương hiệu” nước ngồi.

2.3.2. Thực trạng các yếu tố ngoại sinh

2.3.2.1. Thực trạng về các yếu tố sản xuất

Về giống: Hiện nhiều địa phương đã chủ động đổi mới cơ cấu giống lúa theo

hướng tăng tỉ trọng các giống lúa có chất lượng cao nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu

xuất khẩu. Các tỉnh vùng ĐBSCL đã chú trọng đến việc tăng diện tích lúa hàng hóa

chất lượng cao phục vụ xuất khẩu như An Giang, Tiền Giang, …Các tỉnh đồng bằng

sông Hồng đã bước đầu hình thành nên các vùng sản xuất lúa đặc sản như lúa đặc

sản Tám Thơm, Nam Định, Hưng Yên…Tuy nhiên, việc áp dụng và phổ biến giống

lúa chất lượng cao chưa thật sự rộng rãi.

Về việc cơ giới hóa vào trong nơng nghiệp: Hiện có thể thấy, từ khâu làm đất tới

khâu gieo cấy, thu hoạch, bảo quản chế biến đều có sự tham gia của máy móc hiện

đại thay cho sức lao động tay chân. Tuy nhiên, cơ giới hóa chủ yếu được áp dụng

phổ biến rộng rãi trong khâu làm đất và thu hoạch, các khâu còn lại người dân chủ

yếu vẫn thực hiện thủ cơng.

2.3.2.2. Thực trạng về nhu cầu trong nước đối với hàng nông sản

Trong những năm qua nhu cầu về hàng nông sản nói chung ở trong nước ngày

càng gia tăng. Tổng mức bán lẻ các mặt hàng nông sản tăng hàng năm. Mặc dù vậy,

các doanh nghiệp vẫn chủ yếu hướng đến xuất khẩu hàng nơng sản, chiếm khoảng

62%, còn tiêu thụ nội địa chỉ chiếm khoảng 38%.

2.3.2.3. Thực trạng về các ngành hỗ trợ và liên quan

Đối với nâng cao NLCT hàng nơng sản xuất khẩu thì vai trò của các ngành hỗ

trợ là rất quan trọng trong việc góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho hàng nông sản

xuất khẩu, đó là các ngành về cơng nghệ sản xuất, công nghệ thu hoạch nông sản và

công nghệ chế biến. Các ngành công nghiệp hỗ trợ này sẽ giảm thiểu được tổn thất

sau thu hoạch đối với các loại sản phẩm nông sản Việt Nam.

2.3.2.4. Thực trạng về môi trường cạnh tranh và cơ cấu ngành

Hiện nay, các sản phẩm nông sản Việt Nam phải cạnh tranh khá gay gắt với các

quốc gia tại thị trường Trung Đông như: Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan,

Srilanka, Brazil,...Ngoài ra, đối thủ cạnh tranh còn đến từ một số quốc gia trong nội

khối Trung Đơng như Isael, Thổ Nhĩ Kỳ. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam đã xác định rõ

tầm quan trọng về công tác nghiên cứu thị trường Trung Đông thông qua việc mở



17



các thương vụ tại nhiều quốc gia thuộc khu vực này.

2.3.2.5. Thực trạng về vai trò của nhà nước và cơ hội

Về vai trò của Chính phủ Việt Nam: Trong thời gian qua, để hỗ trợ cho việc nâng

cao NLCT hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam sang thị trường thế giới nói chung và

thị trường Trung Đơng nói riêng, Chính phủ đã xây dựng nhiều chính sách tác động

tích cực đến sản xuất và xuất khẩu mặt hàng nông sản.

Về cơ hội: Hiện nay, các nước Trung Đông đa phần đều đã là thành viên của tổ

chức thương mại thế giới WTO và năm 2007, Việt Nam cũng đã tham gia vào tổ

chức này. Như vậy, Việt Nam có thể thuận lợi hơn trong việc xuất khẩu nông sản vào

các nước này do được hưởng đãi ngộ tối huệ quốc MFN (Most Favor Nation) và chế

độ đãi ngộ quốc gia NT (National Treatment).

2.4. Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu Việt

Nam sang thị trường Trung Đông

2.4.1. Đánh giá năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu dựa vào ma trận

SWOT

Bảng 2.17: Đánh giá NLCT hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam sang Trung

Đông qua SWOT

Điểm mạnh

- Kim ngạch và sản lượng xuất khẩu

- Chỉ số RCA của nhiều mặt hàng nơng vẫn còn thấp và chưa thực sự ổn định

sản tương đối cao như cà phê, hồ tiêu - Giá cả một số mặt hàng nông sản

trên thị trường Trung Đông. Trong khi chưa thực sự cạnh tranh được trên thị

chỉ số DRC của nhiều mặt hàng nông trường Trung Đơng

sản vẫn còn nhỏ hơn 1.

- RCA của gạo, chè tại thị trường

- Hàng nông sản Việt Nam ngày càng Trung Đơng vẫn còn thấp

được mở rộng và thâm nhập sâu hơn - Chủ yếu xuất khẩu qua nước thứ ba

tại thị trường Trung Đơng.

- Bao bì, nhãn mác vẫn chủ yếu là

tiếng anh, chưa nhiều nhãn hiệu sử

dụng tiếng Arập.

Cơ hội

- Cầu thị trường Trung Đông ngày

càng tăng về hàng nông sản nhập khẩu

- Hàng nông sản là mặt hàng kém lợi

thế so sánh của Trung Đơng

- Chính sách nhập khẩu hàng nông sản

của Trung Đông không quá khắt khe



Thách thức

- Tình hình chính trị xã hội của một số

quốc gia khu vực Trung Đơng vẫn còn

bất ổn.

- Ảnh hưởng rất lớn của các tôn giáo như

đạo Hồi, đạo Do thái, đạo Thiên chúa tới

nhu cầu tiêu thụ hàng nông sản.



Nguồn: NCS tự tổng hợp

2.4.2. Những mặt thành công

Thứ nhất, kim ngạch và sản lượng xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị

trường Trung Đơng nhìn chung có mức tăng nhất định.



18



Thứ hai, chất lượng hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam ngày càng được nâng

cao và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường Trung Đông.

Thứ ba, một số mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam đã dần tạo lập và

khẳng định được vị thế nhất định trên thị trường Trung Đông.

2.4.3. Một số hạn chế và nguyên nhân

2.4.3.1. Một số hạn chế

Kim ngạch và sản lượng xuất khẩu hàng nông sản sang thị trường Trung

Đông trong những năm qua vẫn chưa thực sự ổn định và tương xứng với tiềm năng

của mỗi bên.

Khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn, quy định nhập khẩu của thị trường Trung

Đông của hàng nông sản Việt Nam còn hạn chế.

2.4.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế

a) Các nguyên nhân chủ quan

- Nguyên nhân từ phía cơ quan nhà nước: Vai trò của Nhà nước trong việc định

hướng và tạo môi trường thuận lợi để nâng cao NLCT hàng nông sản xuất khẩu Việt

Nam sang thị trường Trung Đơng còn hạn chế; Chất lượng hàng nơng sản Việt Nam

mặc dù đáp ứng nhiều tiêu chuẩn thế giới nhưng với thị trường Trung Đơng.

- Ngun nhân từ phía doanh nghiệp xuất khẩu nông sản sang Trung Đô

Các doanh nghiệp chưa đầu tư nhiều vào các công nghệ, đặc biệt là công nghệ

chế biến hàng nông sản; Các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn chủ yếu xuất khẩu sang

các thị trường truyền thống của Việt Nam như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc,... mà

chưa thực sự quan tâm nhiều đến thị trường Trung Đơng.

- Ngun nhân về phía các Hiệp hội nông sản: chưa hỗ trợ nhiều cho các

doanh nghiệp xuất khẩu nông sản trong việc cung cấp thông tin thị trường Trung

Đông, các tiêu chuẩn nhập khẩu, tiêu chuẩn Halal, văn hóa Hồi giáo,... cho các

doanh nghiệp, hộ nơng dân sản xuất và kinh doanh nông sản.

b) Các nguyên nhân khách quan

Khu vực Trung Đơng vẫn còn nhiều bất ổn về chính trị, chiến tranh, vấn đề

hạt nhân, mâu thuẩn tôn giáo và khoảng cách địa lý khá xa với Việt Nam.

Sự khác biệt về văn hóa và thơng tin về thị trường Trung Đơng còn ít khiến

doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường Trung Đông gặp khó

khăn trong việc xác định nhu cầu thị trường.

Tập tục mua hàng, thói quen thanh tốn, tiêu chí chọn nhà nhập khẩu của các

nước Trung Đông khác biệt so với những thị trường khác.



19



Chương 3

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG SẢN

XUẤT KHẨU VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG ĐÔNG TỪ NAY

ĐẾN NĂM 2025 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

3.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế ảnh hướng đến năng lực cạnh tranh hàng

nông sản xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Trung Đông

3.1.1. Bối cảnh quốc tế

Hiện nay, Trung Đông là khu vực được các nước trên thế giới đặc biệt quan

tâm vì khu vực này có vị trí địa chính trị và kinh tế hết sức quan trọng. Đây là khu

vực hết sức nhảy cảm, là nơi cung cấp dầu lớn nhất thế giới. Bối cảnh quốc tế có ảnh

hưởng quan trọng đến xuất khẩu và việc ra chính sách thương mại để thúc đẩy xuất

khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường này.

3.1.2. Bối cảnh trong nước

Cách mạng công nghiệp 4.0 là cơ hội quý giá cho Việt Nam nắm bắt các cơng

nghệ mới để đẩy nhanh hơn tiến trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thu hẹp

khoảng cách phát triển với các nền kinh tế phát triển khác trên thế giới nói chung và

đẩy mạnh sự phát triển của ngành nơng nghiệp Việt Nam nói riêng. Việc ứng dụng

cơng nghệ 4.0 trong sản xuất nông nghiệp thực sự trở thành xu hướng và đem lại

hiệu quả về chất lượng sản phẩm, giảm thiểu chi phí và rủi ro hư hỏng.

3.2. Quan điểm và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản

xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Trung Đông

3.2.1. Quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu Việt

Nam sang thị trường Trung Đông

- Việc nâng cao NLCT hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường Trung Đơng

phải đảm bảo tính đồng bộ, có lộ trình phù hợp theo bối cảnh trong nước và quốc tế

trên cơ sở năng lực cạnh tranh sản phẩm nông sản cốt lõi

- Việc cao năng lực cạnh tranh cho hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường

Trung Đơng phải dần góp phần đưa hàng nơng sản xuất khẩu Việt Nam tham gia vào

chuỗi giá trị toàn cầu ngành nông sản

3.2.2. Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu

Việt Nam sang thị trường Trung Đông

3.2.2.1. Định hướng chung

Căn cứ Quyết định số 2471/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày

28/12/2011 về Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa giai đoạn 2011-2020, định

hướng đến năm 2030 cũng như mục tiêu tổng quát của ngành nơng nghiệp giai đoạn

2016-2020 thì tăng trưởng bình qn giai đoạn 2016-2020 đạt 2,5-3%; giá trị sản xuất

bình quân 5 năm 2016-2020 đạt 3,5-4%. Giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt

khoảng 39-40 tỷ USD năm 2020.

3.2.2.2. Mục tiêu, chỉ tiêu nâng cao NLCT hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam

sang thị trường Trung Đông



20



a) Về mục tiêu sản xuất và chế biến một số hàng nông sản

Chế biến lúa gạo: Đầu tư công suất chế biến công nghiệp đạt 25 triệu tấn/năm, đủ

năng lực chế biến 60% tổng sản lượng thóc.

Chế biến cà phê: Bằng các hình thức kinh tế hợp tác giữa doanh nghiệp và nông

dân, tăng tỷ lệ cà phê được chế biến ở quy mô công nghiệp từ 40% năm 2015 lên

70% năm 2025.

Chế biến hồ tiêu: Đầu tư mở rộng công suất và đầu tư mới các nhà máy chế biến

tiêu trắng, nâng tỷ lệ sản phẩm tiêu trắng từ 22% năm 2025 lên 30% vào năm 2030.

Chế biến chè: Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm theo hướng: 55% chè đen và 45% chè

xanh; đến năm 2025 giá chè Việt Nam xuất khẩu ngang bằng giá bình quân thế

giới.

b) Mục tiêu xuất khẩu hàng nông sản

Định hướng của Việt Nam là cố gắng nỗ lực đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu

nông sản ở mức 22-25%/năm. Tăng tỷ trọng cơ cấu hàng chế biến sâu trong xuất

khẩu nông sản, đạt mức từ 40-60% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản.

c) Chỉ tiêu xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sang thị trường Trung Đông

Đối với thị trường UAE: Phấn đấu đến năm 2025, Việt Nam sẽ đưa kim ngạch

xuất khẩu nông sản sang UAE với mức tăng trưởng bình quân 25%/năm. Các mặt

hàng xuất khẩu nông sản chủ yếu là: Hồ tiêu, hải sản, sản phẩm gỗ, chè, gạo, rau

quả…Đây vẫn là thị trường trọng điểm nhất của Việt Nam tại Trung Đông.

Đối với thị trường Thổ Nhĩ Kỳ: Phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu của Việt

Nam sang Thổ Nhĩ Kỳ đến năm 2025 đạt trên 1.505 triệu USD với mức tăng trưởng

bình qn 22%/năm. Các mặt hàng nơng sản xuất khẩu chủ yếu là: hạt tiêu, chè, cao

su, cà phê..

Đối với thị trường Arap Saudi: Phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu của Việt

Nam sang Arap Saudi đến năm 2025 là trên 800 triệu USD với mức tăng trưởng

bình quân 22%/năm. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu là: hải sản, hạt điều,

hạt tiêu, chè,...

d) Mục tiêu nâng cao NLCT hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam sang thị

trường Trung Đông

Xác định rõ nâng cao NLCT hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường Trung

Đông là nhiệm vụ quan trọng, lâu dài và liên tục. Việt Nam cần phải thể hiện tầm

quan trọng này thông qua các chiến lược, kế hoạch và chương trình triển khai cụ thể

tới các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, các Hiệp

hội nông sản và các hộ nông dân.

Vừa nâng cao NLCT hàng nông sản xuất khẩu ở các khâu mà Việt Nam có lợi

thế vừa chuẩn bị các điều kiện để thâm nhập vào các khâu có giá trị gia tăng cao

trong chuỗi giá trị tồn cầu hàng nông sản.

3.3. Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG ĐÔNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×