Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vừa qua, chính phủ đã ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP, hướng dẫn Luật hỗ trợ DNNVV thay thế Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009. Theo đó, Nghị định quy định chi tiết các tiêu chí xác định DNNVV theo từng lĩnh vực và có sự khác biệt cơ bản so với Nghị

Vừa qua, chính phủ đã ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP, hướng dẫn Luật hỗ trợ DNNVV thay thế Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009. Theo đó, Nghị định quy định chi tiết các tiêu chí xác định DNNVV theo từng lĩnh vực và có sự khác biệt cơ bản so với Nghị

Tải bản đầy đủ - 0trang

74



DN vừa



Tổng nguồn vốn

<=20 tỷ

Số lao động tham gia đóng <=200 người

BHXH bình quân năm

Tổng doanh thu

Tổng nguồn vốn



<=20 tỷ

<=200



<=50 tỷ

<=100



người

người

<=200 tỷ

<=200 tỷ

<=300 tỷ

<=100 tỷ

<=100 tỷ

<=100 tỷ

(Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP)



2.1.1.2. Quá trình phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

Trong hơn 25 năm đổi mới, DNNVV ở nước ta đã phát triển tương đối

nhanh. Năm 1991, cả nước mới có gần 500 doanh nghiệp hoạt động theo Luật

Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty, đến năm 1995 tăng lên 15.276 doanh

nghiệp và năm 1999 là 30.500 doanh nghiệp. Từ tháng 01/2000 Luật Doanh nghiệp

được ban hành và đi vào hoạt động, chỉ trong vòng 1 năm tính đến 31/12/2000 cả

nước đã có 42.288 doanh nghiệp, trong đó 36.305 doanh nghiệp có số vốn dưới 10

tỷ, chiếm 85,85%, tính đến 31/12/2001 tổng số doanh nghiệp của cả nước là 51.680

doanh nghiệp trong đó 44.670 có số vốn dưới 10 tỷ, chiếm 86,44%; tính đến

31/12/2002 tăng lên 62.908 doanh nghiệp trong đó 54.261 doanh nghiệp có số vốn

dưới 10 tỷ chiếm 86,25%. Tính đến thời điểm 31/12/2004 tổng số doanh nghiệp của

cả nước tăng lên là 91.755 doanh nghiệp, trong đó 79.420 doanh nghiệp có số vốn

dưới 10 tỷ chiếm 86,55%. Tính theo quy mơ lao động thì doanh nghiệp có lực lượng

lao động dưới 300 lao động, tại thời điểm 31/12/2004 chiếm 96,14% trong tổng số

91.755 doanh nghiệp.

Sau hơn 10 năm phát triển, DNNVV đã thay đổi nhanh chóng cả về chất và

lượng. Theo “Kết quả tổng điều tra kinh tế năm 2017” của Tổng cục Thống kê

(2018), thì năm 2017, số lượng DNNVV là 507.860 doanh nghiệp chiếm khoảng

98% tổng số doanh nghiệp của cả nước tăng 52,1% (tương đương 174

nghìn doanh nghiệp) so với thời điểm 01/01/2012. Trong đó doanh

nghiệp vừa có gần 8.500 doanh nghiệp, tăng 23,6% (tương đương

gần 1,6 nghìn doanh nghiệp), chiếm 1,6%; DN nhỏ là 114.100

doanh nghiệp, chiếm 22,0%, tăng 21,2% (tương đương gần 20

nghìn doanh nghiệp) và doanh nghiệp siêu nhỏ là 385.300 doanh



75



nghiệp, chiếm cao nhất với 74,4%, tăng 65,5% (tương đương 152

nghìn doanh nghiệp). Tính đến hết năm 2018, có gần 250 DNNVV niêm yết

trên cả 3 sàn chứng khoán Việt Nam, chiếm khoảng 15% tổng số doanh nghiệp niêm

yết (gần 1.600 doanh nghiệp) (số liệu tác giả tổng hợp dựa trên Chỉ số tài chính cơ

bản cơng bố trên trang web cophieu68) và chiếm 0,04% DNNVV.

Bảng 2.3: Cơ cấu doanh nghiệp theo quy mô lao động

Tổng

số



Số lượng doanh nghiệp

Doanh

DNNVV

nghiệp lớn

1,9

98,1

41,5

58,5



Số lượng lao động

Doanh

DNNVV

nghiệp lớn

55,5

44,5

89,7

10,3



Tổng số

Doanh nghiệp nhà



100,0

100,0



nước

Doanh nghiệp ngoài



100,0



1,2



98,8



35,6



64,4



nhà nước

Doanh nghiệp FDI



100,0



18,8



81,2



86,1



13,9



(Nguồn: Tổng cục Thống kê 2018)

Sở dĩ, DNNVV có sự phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng, trước

hết là do sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước với chủ trương mở cửa, đổi mới và hội

nhập. Điều quan trọng hơn là Đảng và Chính phủ ngày càng xác định rõ vai trò

quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân, vai trò của các DNNVV trong nền kinh tế

thị trường nhiều thành phần, từ đó tạo mơi trường pháp lý và cơ chế thơng thống,

khuyến khích các DNNVV phát triển. Chính phủ đã áp dụng một loạt chính sách

kích thích sự phát triển của DNNVV như: chính sách ưu đãi về đầu tư áp dụng

chung và thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp trong nước, hàng loạt các chính

sách riêng về tài chính cũng đã được ban hành, từng bước tạo hành lang pháp lý

thống nhất, đồng bộ hỗ trợ DNNVV. Các DNNVV, một mặt đã nhận được nhiều ưu

đãi từ chính sách hỗ trợ tín dụng đầu tư phát triển thông qua quỹ hỗ trợ phát triển.

Mặt khác, các DNNVV cũng rất năng động, nhạy bén, linh hoạt sáng tạo, dễ

thích ứng và thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, phù hợp với trình độ phát triển



76



lực lượng sản xuất xã hội nên đã khơng ngừng lớn mạnh, góp phần to lớn cho sự

phát triển và tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện chuẩn bị tiềm lực để hội nhập kinh tế

với khu vực và thế giới.

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ

nghĩa, sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước đang trong giai đoạn đầu,

thì việc duy trì và phát triển kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích và phát triển

mạnh mẽ các DNNVV là định hướng chiến lược đúng đắn và cực kỳ quan trọng. Nó

khơng những phù hợp với quy luật khách quan và xu thế hội nhập quốc tế mà còn

mang lại lợi ích lâu dài cho đất nước.

2.1.2. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

Trong những thập niên trở lại đây, sự đóng góp của DNNVV vào sự phát

triển kinh tế, tạo công ăn việc làm và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội được ghi nhận

trên toàn thế giới, và Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Tại Việt Nam,

DNNVV chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các doanh nghiệp. Tính đến năm 201 7,

nước ta đã có khoảng 507.860 DNNVV được thành lập và đăng ký kinh doanh

(Tổng cục Thống kê, 2018). Ngoài việc tăng trưởng khơng ngừng về số lượng,

vai trò của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân cũng ngày càng được khẳng

định. Cụ thể:

- DNNVV đóng góp khoảng 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách

và chiếm khoảng 35% vốn đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp nói chung và đóng

góp gần 50% vào tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia hằng năm, theo đánh giá của

Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam năm 2016

- DNNVV tạo khối lượng việc làm lớn cho nền kinh tế. Số lượng lao động

làm việc cho các DNNVV chiếm 29,4% năm 2000 nhưng con số này đã nhanh

chóng tăng lên hơn 44% năm 2017, thu hút hơn 11 triệu việc làm (Tổng cục Thống

kê, 2018)

- DNNVV thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế. Sự hoàn thiện khung pháp

lý về kinh tế thị trường giúp cho quá trình sàng lọc tự nhiên diễn ra mạnh mẽ hơn,

buộc doanh nghiệp phải lớn mạnh về cả chất và lượng, tạo sự năng động và nâng



77



cao khả năng cạnh tranh của DNNVV. Từ đó, tạo sức ép đổi mới doanh nghiệp nhà

nước, dẫn tới nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế.

- DNNVV góp phần cải thiện thu nhập cho người lao động. Thu nhập trung

bình một năm của người lao động cũng thay đổi nhanh chóng theo quy mơ doanh

nghiệp. Nếu năm 2007 thu nhập trung bình năm của người lao động vào khoảng

hơn 20 triệu cho doanh nghiệp nhỏ và gần 30 triệu cho doanh nghiệp vừa thì đến

năm 2015 con số này đã tăng lên gần 70 triệu cho doanh nghiệp nhỏ và gần 80 triệu

cho doanh nghiệp vừa.

- DNNVV góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tính đến

năm 2017, trong số các doanh nghiệp đang hoạt động, có khoảng 98% là DNNVV

nếu chia theo quy mô lao động. DNNVV hoạt động chủ yếu trong ngành bán buôn,

bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; và ngành

xây dựng. DNNVV có ý nghĩa lớn trong việc phát triển cơng nghiệp và dịch vụ ở

nơng thơn, xố dần tình trạng thuần nơng và độc canh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

nơng thơn, từ đó làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế.



2.1.3. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam ảnh hưởng đến

báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNNVV trên thế giới nói chung và DNNVV ở Việt Nam nói riêng có nhiều

đặc điểm đặc trưng, khác biệt với những doanh nghiệp quy mơ lớn và hồn tồn

khơng phải là phiên bản thu nhỏ của doanh nghiệp lớn. Những đặc điểm này có ảnh

hưởng nhất định đến hệ thống BCTC của DNNVV như sau:

Một là, các DNNVV ở Việt Nam thường không phải là các doanh nghiệp đại

chúng. Chứng khoán hoặc các cơng cụ tài chính do các doanh nghiệp này phát hành

thường không được trao đổi rộng rãi trên thị trường. Đối tượng sử dụng thơng tin kế

tốn của các DNNVV tập trung vào chủ sở hữu, chủ nợ hiện tại và tiềm năng cũng

như cơ quan thuế. Do vậy, nghĩa vụ pháp lý cơng bố thơng tin tài chính của các

doanh nghiệp này có những giới hạn nhất định và đơn giản hơn so với các doanh

nghiệp đại chúng có quy mô lớn. Điều này lý giải tại sao hệ thống BCTC của

DNNVV Việt Nam đơn giản hơn của doanh nghiệp lớn, ví dụ DNNVV Việt Nam



78



khơng bắt buộc phải lập BCLCTT, Thuyết minh BCTC cũng lược bỏ nhiều nội

dung như không thuyết minh liên quan đến các khoản phải thu, phải trả, đến các

khoản dự phòng trên BCTHTC, khơng thuyết minh về các khoản liên quan đến các

khoản giảm trừ phát sinh trong kỳ, các khoản tính vào giá vốn hàng bán, chi phí tài

chính phát sinh trong kỳ…Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, thị trường chứng

khoán Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định. Nếu như năm 2017, số các

doanh nghiệp niêm yết trên cả 3 sàn chứng khốn Việt Nam là 1400 doanh nghiệp

(Hồng Trung, 2017), thì đến hết năm 2018, con số này đã tăng lên gần 1600, trong

đó DNNVV gần 250 doanh nghiệp tính theo quy mơ vốn, chiếm khoảng 15% tổng

số doanh nghiệp niêm yết (cophieu68). Chính vì vậy, nhà đầu tư cũng đang trở

thành một trong các đối tượng quan trọng sử dụng BCTC của DNNVV khi các

doanh nghiệp này muốn mở rộng kinh doanh, huy động vốn từ thị trường chứng

khốn (Nguyễn Long, 2018). Vì thế, nhiều DNNVV đã tự nguyện lựa chọn các quy

định pháp lý áp dụng cho doanh nghiệp lớn với mục đích minh bạch hóa thông tin

như tự nguyện lập BCLCTT hay tự nguyện thuyết minh chi tiết các thông tin trên

TMBCTC.

Hai là, lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các DNNVV thường tập trung vào

những ngành nghề kinh doanh chính. Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các

doanh nghiệp này thường là những nghiệp vụ cơ bản gắn liền với hoạt động sản

xuất kinh doanh chủ yếu. Các quan hệ kinh tế, tài chính phức tạp thường hiếm khi

xảy ra. Do vậy DNNVV Việt Nam chỉ áp dụng đầy đủ 7 chuẩn mực kế tốn thơng

dụng, áp dụng khơng đầy đủ 12 chuẩn mực kế tốn và khơng áp dụng 7 chuẩn mực

do không phát sinh hoặc do quá phức tạp không phù hợp với DNNVV. Chính vì thế,

các chỉ tiêu trên BCTC của DNNVV cũng đơn giản hơn rất nhiều so với BCTC của

doanh nghiệp lớn.

Ba là, do các nguồn lực và u cầu đặt ra đối với cơng tác kế tốn có giới

hạn, nên việc đầu tư vào trang thiết bị, nguồn nhân lực cho cơng tác kế tốn ở các

DNNVV có nhiều hạn chế, dẫn đến chất lượng thơng tin trên BCTC cung cấp cho

các đối tượng sử dụng không cao.



79



2.2. Nhu cầu của người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của

doanh nghiệp nhỏ và vừa và mức độ đáp ứng nhu cầu

2.2.1. Khảo sát về nhu cầu thơng tin trên báo cáo tài chính của doanh

nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

2.2.1.1. Nhu cầu sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của ngân hàng

thương mại

a. Vai trò của báo cáo tài chính so với các nguồn thơng tin khác

Để tìm hiểu nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC của DNNVV, tác giả thực

hiện phỏng vấn với nhóm cán bộ tín dụng các ngân hàng thương mại. Bảng phỏng

vấn cán bộ tín dụng ngân hàng được trình bày trong phụ lục 2.1.

Phụ lục 2.1. Bảng phỏng vấn bán cấu trúc dành cho nhân viên tín dụng ngân hàng

Với câu hỏi “Để đưa ra quyết định cho vay, anh/chị quan tâm đến những vấn

đề gì của doanh nghiệp? Vấn đề nào theo anh/chị là quan trọng nhất? Vì sao?” thì

6/7 cán bộ tín dụng được phỏng vấn đều cho rằng những nhân tố như “uy tín của

doanh nghiệp và chủ sở hữu của doanh nghiệp”, “tình hình tài chính”, “giá trị tài

sản đảm bảo” là những nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định cho vay của Ngân

hàng. “Tình hình tài chính” của doanh nghiệp thể hiện qua BCTC được 5/7 cán bộ

tín dụng đề cập đến bởi đây là “nguồn thơng tin chính thống”. Nguồn thơng tin trên

BCTC giúp cán bộ tín dụng đánh giá khả năng thu hồi nợ gốc và lãi cho ngân hàng

đúng hạn. Tuy nhiên, hình thức tiếp cận vốn chủ yếu của DNNVV là vay có tài sản

đảm bảo (98%) (Nguyễn Thị Kim Lý, 2013). Trong trường hợp này thì giá trị tài

sản đảm bảo lại là thông tin quan trọng nhất mà ngân hàng quan tâm. 5 trong số 7

người được hỏi cho rằng BCTC là một thủ tục bắt buộc phải có để ngân hàng đưa ra

quyết định cho vay nhưng không phải là nguồn thông tin quan trọng nhất bởi tính

minh bạch của các thơng tin trên báo cáo.

“Chúng tôi không thực sự sử dụng BCTC. Tôi có thể xem xét thơng tin về

doanh thu nhưng cần kiểm tra với sao kê ngân hàng của doanh nghiệp”

“BCTC ít có tác dụng, chỉ nhằm mục đích đáp ứng tính tn thủ với chính

sách của ngân hàng. Chúng tơi sẽ khơng chấp nhận khoản vay nếu doanh nghiệp có



80



lỗ dồn tích vì vậy đầu tiên chúng tơi sẽ kiểm tra xem khách hàng có lỗ dồn tích liên

tiếp 3 năm khơng... Nếu BCTC được lập khơng nhằm mục đích nộp thuế thì sẽ có

ích hơn cho chúng tơi”

Lập lại BCTC cho khách hàng là một cách để thu thập thơng tin cho quyết

định cho vay. Thơng tin tài chính được lấy từ các sổ kế toán nội bộ, phỏng vấn chủ

sở hữu hoặc có khi đến khảo sát tại doanh nghiệp. BCTC thường được sử dụng làm

cơ sở cho những yêu cầu và kiểm tra tiếp sau đó:

“Phỏng vấn cá nhân với quản lý và nhân viên kế toán là một cách để kiểm tra

lại độ tin cậy của các con số trên BCTC”

Chính vì vậy, khi u cầu xếp hạng các thông tin mà Ngân hàng quan tâm thì

thơng tin trên BCTC đứng thứ 3 cùng với thơng tin về phương án sử dụng vốn, sau

thông tin về tài sản đảm bảo và thơng tin về uy tín của doanh nghiệp cũng như uy

tín của chủ sở hữu.

b. Xu hướng sử dụng BCTC trong việc đưa ra quyết định cho vay của

ngân hàng

Như vậy từ thực tế trên có thể thấy rằng BCTC chưa có tác dụng nhiều cho

các NHTM khi đưa ra quyết định cho vay bởi các ngân hàng ở Việt Nam vẫn

thường xem xét cho vay dựa vào giá trị tài sản đảm bảo, đồng thời theo đánh giá

của họ thì tính đáng tin cậy của BCTC DNNVV là không cao. Mặc dù vậy, khi được

hỏi về “xu hướng sử dụng BCTC trong tương lai khi ngân hàng đưa ra quyết định

cho vay” thì các nhân viên tín dụng đều khẳng định đó là điều tất yếu bởi:

Thứ nhất, việc xử lý tài sản đảm bảo là biện pháp cuối cùng của các ngân

hàng buộc phải thực hiện để xử lý các món nợ xấu. Thực tế, các ngân hàng thương

mại đang gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, ảnh

hưởng trực tiếp đến quá trình xử lý tài sản bảo đảm nợ vay và thu hồi nợ của ngân

hàng. Cụ thể, để đem tài sản ra bán đấu giá phải trải qua nhiều giai đoạn, thời gian

kéo dài so với quy định như các thủ tục liên quan đến xác minh tài sản, cưỡng chế

tài sản, cách định ranh, đo vẽ lại tài sản, thẩm định giá tài sản.



81



Thứ hai: theo xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán hiện nay, các

doanh nghiệp muốn niêm yết để huy động vốn từ nhà đầu tư sẽ phải hồn thiện

BCTC theo hướng minh bạch hóa và đáng tin cậy hơn. Xu hướng sử dụng và phân

tích các thông tin từ BCTC của doanh nghiệp sẽ giúp Ngân hàng giảm thiểu rủi ro

phát sinh các khoản nợ xấu trong tương lai do đánh giá đúng được tình hình và kết

quả kinh doanh của doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn.

Như vậy có thể khẳng định xu hướng sử dụng BCTC để đưa ra quyết định

cho vay là yêu cầu tất yếu.



2.2.1.2. Nhu cầu sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của nhà đầu tư

Nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC của DNNVV của nhà đầu tư được tác

giả tìm hiểu thơng qua phỏng vấn bằng bảng hỏi. Nội dung bảng hỏi được trình bày

ở phụ lục 2.2 của luận án.

Phụ lục 2.2. Bảng phỏng vấn bán cấu trúc dành cho nhà đầu tư

Với câu hỏi “Để đưa ra quyết định đầu tư, anh/chị quan tâm đến những vấn

đề gì của doanh nghiệp? Vấn đề nào theo anh/chị là quan trọng nhất? Vì sao?” thì

các nhà đầu tư khẳng định, tùy thuộc vào việc lựa chọn phương pháp đầu tư mà họ

quan tâm đến các vấn đề khác nhau của doanh nghiệp.

Nếu đầu tư dựa trên phương pháp phân tích theo yếu tố cơ bản, thì sức khỏe

của công ty niêm yết thể hiện qua BCTC, kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp,

báo cáo phân tích của các cơng ty chứng khốn là những nhân tố quan trọng. Một số

yếu tố khác như thông tin nội bộ, chính sách vĩ mơ, dòng tiền và tính thanh khoản

của cổ phiếu niêm yết cũng được các nhà đầu tư quan tâm. Theo phương pháp đầu

tư này, thì BCTC được nhiều nhà đầu tư nhắc đến nhất bởi nó cung cấp những

thơng tin căn bản về tình hình tài chính và kinh doanh của cơng ty niêm yết và được

cung cấp hàng quý, do đó khá kịp thời và có ảnh hưởng đến quyết định của họ. Đây

cũng là “nguồn thơng tin chính thống” và “đáng tin cậy về mặt pháp lý”. Trong đó,

có 2/5 người trả lời phỏng vấn nhận thấy BCTC của các doanh nghiệp niêm yết là

nguồn thông tin rất quan trọng trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến mua,

bán và nắm giữ các cổ phiếu trên TTCK Việt Nam. Mặc dù vậy, cũng khơng ít



82



người (3/5) cho rằng BCTC của các doanh nghiệp thường được công bố chậm nên

phù hợp hơn với các quyết định dài hạn. Mặt khác, tính minh bạch của thông tin

trên các báo cáo cũng cần phải xem xét lại.

Sau BCTC, thơng tin từ phân tích tài chính của các cơng ty chứng khốn,

thơng tin của doanh nghiệp thơng qua trang web hoặc các diễn đàn, chính sách vĩ

mơ là các nhân tố có ảnh hưởng tiếp theo đến quyết định của nhà đầu tư. Một số nhà

đầu tư cũng khẳng định bị ảnh hưởng một phần bởi tâm lý đám đông khi đưa ra

quyết định đầu tư.



2.2.1.3. Nhu cầu sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của cơ quan thuế

Để tìm hiểu nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC của DNNVV của cơ quan

thuế, luận án cũng thực hiện phỏng vấn qua bảng hỏi. Nội dung bảng hỏi được trình

bày ở phụ lục 2.3 của luận án.

Phụ lục 2.3. Bảng phỏng vấn bán cấu trúc dành cho cán bộ thuế

Cơ quan thuế nhận thức được động cơ về thuế của DNNVV nhưng họ cho

rằng BCTC là một phần của thông tin sẽ được sử dụng để kiểm tra tờ khai thuế thu

nhập doanh nghiệp. Họ thường xuyên sử dụng BCTHTC và BCKQHĐKD. Đây là

thông tin hữu ích đóng vai trò như nguồn thơng tin ban đầu của cơ quan thuế:

“BCTC là một phần của thông tin được sử dụng… Khi kiểm tra thuế, tôi

thường phải phân tích tờ khai thuế, kiểm tra tại doanh nghiệp, đặt câu hỏi với đơn vị

nộp thuế, tuy nhiên việc kiểm tra tại doanh nghiệp theo tôi là quan trọng nhất”

“Nói chung, tơi thấy tương đối hài lòng với BCTC của đối tượng nộp thuế

nhưng vẫn cần phải điều tra thêm”

Trong bộ tiêu chí đánh giá rủi ro phục vụ thanh tra thuế, Tổng cục thuế đưa

ra 5 nhóm tiêu chí:

- Nhóm tiêu chí đánh giá về tn thủ kê khai thuế, tính thuế

- Nhóm tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo loại hình kinh tế

- Nhóm tiêu chí đánh giá sự biến động về kê khai giữa các năm

- Nhóm tiêu chí đánh giá về tình hình tài chính

- Lịch sử thanh tra của người nộp thuế



83



Như vậy có thể thấy rằng nhóm tiêu chí đánh giá về tình hình tài chính của

doanh nghiệp căn cứ trên BCTHTC và BCKQHĐKD là một trong 5 yếu tố góp

phần đánh giá rủi ro phục vụ thanh tra thuế doanh nghiệp.



2.2.2. Khảo sát về mức độ quan tâm của người sử dụng đến các thơng tin

trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

2.2.2.1. Mức độ quan tâm đến từng báo cáo tài chính

a. Kết quả từ phỏng vấn bán cấu trúc

i. Đối tượng sử dụng là ngân hàng thương mại

Khi được hỏi “anh/chị sẽ tập trung vào BCTC nào khi đưa ra quyết định cho

vay?” thì đa số cán bộ tín dụng đều chỉ ra 2 loại báo cáo là BCTHTC và BCKQHĐKD

là tương đối quan trọng. Trong đó, BCKQHĐKD được các cán bộ tín dụng nhắc tới

nhiều nhất, bởi báo cáo này phản ánh thực trạng hoạt động kinh doanh và khả năng

sinh lời của doanh nghiệp. Chính khả năng sinh lời sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng

thu hồi nợ gốc cũng như lãi vay của ngân hàng.

BCLCTT thường không được các ngân hàng chú trọng nhiều. Một số ngân

hàng không yêu cầu doanh nghiệp nộp BCLCTT, một số ngân hàng có phần mềm tự

động lập BCLCTT theo phương pháp gián tiếp dựa trên BCTHTC và BCKQHĐKD

của doanh nghiệp.

Đối với Thuyết minh BCTC, cán bộ tín dụng chưa sử dụng nhiều mà thường

kiểm tra ngay vào sổ chi tiết một số tài khoản quan trọng đối với họ mà doanh

nghiệp nộp lên. Tuy nhiên, họ cũng chia sẻ “Thuyết minh BCTC đáng lẽ ra rất quan

trọng bởi các báo cáo kia chỉ cung cấp cho chúng tôi thông tin về con số, bản chất

của con số thì cần xem xét kỹ hơn trong thuyết minh”. “Nếu thuyết minh được lập

đáng tin cậy và đầy đủ hơn thì sẽ rất có ích cho chúng tơi”

ii. Đối tượng sử dụng là nhà đầu tư

Trong bộ BCTC của doanh nghiệp, nhà đầu tư đánh giá BCKQHĐKD

và BCTHTC là quan trọng nhất bởi nó phản ánh những thơng tin thuộc lợi ích

“sát sườn” của nhà đầu tư như chỉ số Giá trên lợi nhuận một cổ phiếu PE hay

chỉ số lợi nhuận tính trên một cố phiếu EPS. Thuyết minh BCTC cũng được



84



đánh giá tương đối cao, thậm chí một số nhà đầu tư khẳng định “tơi thường

đọc Thuyết minh BCTC trước những báo cáo khác”. Thuyết minh BCTC giúp

nhà đầu tư hiểu được chất lượng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh cốt lõi

hay hoạt động khác.

Ảnh hưởng của BCLCTT đến quyết định của nhà đầu tư phụ thuộc vào

nhận thức của nhà đầu tư. Với nhà đầu tư cá nhân, BCLCTT ít được sử dụng, nhà

đầu tư khơng hình dung được báo cáo này lập trên cơ sở nào, liên kết với

BCTHTC và BCKQHĐKD như thế nào. Ngược lại, với những nhà đầu tư tổ chức,

BCLCTT được đánh giá khá cao bởi họ hiểu được sự khác biệt giữa lợi nhuận và

dòng tiền, doanh nghiệp có đủ tiền để hoạt động không, tiền đến từ đâu và sử dụng

tiền như thế nào. Theo các nhà đầu tư, nên “xem xét kỹ BCLCTT khi cơng ty có

vấn đề về tính thanh khoản hoặc nghi ngờ cơng ty gian lận sổ sách vì ln chuyển

dòng tiền được phản ánh chính xác nhất qua BCLCTT”. Nhà đầu tư đưa ra ví dụ

về trường hợp của Cơng ty cổ phần Tập đồn xây dựng Hòa Bình HBC, lợi nhuận

tốt, nhưng khoản phải thu chủ yếu từ một vài đối tác chính tăng lên rất nhanh dẫn

đến vay nợ ngân hàng tăng lên tương ứng. Mặc dù lợi nhuận tăng nhiều nhưng chỉ

cần một hoặc hai đối tác không trả được tiền cho doanh nghiệp thì rủi ro về thanh

khoản của doanh nghiệp là rất lớn. Nhà đầu tư đánh giá được điều này nên giá cổ

phiếu HBC thấp hơn so với những doanh nghiệp cùng ngành, cùng quy mô và kết

quả kinh doanh.

iii. Đối tượng sử dụng là cơ quan thuế

Khi được hỏi trong hệ thống BCTC, thanh tra thuế quan tâm đến báo cáo nào

và vì sao, thì các cán bộ thuế đều nhất trí về tầm quan trọng của BCKQHĐKD và

BCTHTC. Việc so sánh và phân tích chỉ số ban đầu cũng đều dựa vào các số liệu

trên hai báo cáo này. Ví dụ, việc tính Tỷ suất doanh thu trên hàng tồn kho, Tỷ lệ

phần trăm sinh lời, Tỷ lệ phần trăm lợi nhuận.

Tuy nhiên, các cán bộ thuế cũng khẳng định rằng công việc của họ sẽ thuận

lợi hơn nhiều nếu các thông tin chi tiết trên Thuyết minh BCTC đáp ứng được nhu

cầu sử dụng của thuế. “Một tỷ suất chúng tơi tính được chỉ cho thấy tình trạng bình



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vừa qua, chính phủ đã ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP, hướng dẫn Luật hỗ trợ DNNVV thay thế Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009. Theo đó, Nghị định quy định chi tiết các tiêu chí xác định DNNVV theo từng lĩnh vực và có sự khác biệt cơ bản so với Nghị

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×