Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: XÍ NGHIỆP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN NAM BÌNH DƯƠNG

CHƯƠNG 2: XÍ NGHIỆP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN NAM BÌNH DƯƠNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Như vậy cơng tác xử lý rác của Bình Dương được ví như người sinh sau so với

nhiều đồng nghiệp trong ngành

2.2. TỔNG QUAN VỀ THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN

Tọa lạc tại phường Chánh Phú Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, mỗi ngày

Khu LH xử lý chất thải Nam Bình Dương trực thuộc BIWASE tiếp nhận trên 1.100 tấn

rác SH và 250 tấn rác CN;

Đây là 1 Khu Liên hợp xử lý rác với diện tích 100ha;

Rác CN/CNNH: sau khi tập kết về, rác được phân loại và xử lý một cách khoa

học. Đa phần được đốt và tro nghiền nhỏ làm VLXD;

Rác CN được phân loại những thành phần khác nhau như rác CN nguy hại, rác

CN thông thường, rác khô, bùn thải…… rác xây dựng.

Xỉ tro sau khi đốt cũng được chế biến lại làm VLXD loại gạch không nung lát vỉa

hè;

Bùn thải hữu cơ dùng làm phân bón;

Bùn thải vơ cơ dùng làm gạch có nung.

Tận dụng khí thải phát điện.

2.2.1. Xử lý rác sinh hoạt

Rác sinh hoạt được các xe vận chuyển đến Khu liên hợp. Sau khi cân xe đưa rác

đến hố tập kết giao lại cho phân xưởng tái chế rác sinh hoạt thành phân compost (mùn

hữu cơ) với nhãn hiệu “Con Voi Bình Dương”.

Trong quá trình phân loại một số rác được gọi là ve chai được tận dụng, chất vô

cơ chuyển sang khu vực vật liệu của bê tông/gạch. Số rác sơ, sợi, vô cơ không làm

phân được được đem chôn, giai đoạn tiếp theo sẽ đưa qua đốt.

2.2.2. Xử lý rác công nghiệp

Xe vận chuyển về tới Khu Liên hợp, qua trạm cân đến phân xưởng đốt giao nhận,

nhập kho, tại đây sẽ phân loại sơ bộ, có những loại có thể tận dụng tái chế thì qua kho

trữ, các loại khác lên kế hoạch đốt, trước khi đốt rác được băm nhỏ, phối trộn với bùn

thải, qua khâu sấy và sau đó qua lò đốt 2 cấp ở nhiệt độ 1.1000C ÷1.1500C.

2.2.3. Xử lý rác cơng nghiệp nguy hại

48



Ngay từ khi đưa lên xe là có yếu tố phân loại. Khi về nhập kho cũng để riêng rẻ

tùy theo đặc điểm của chất thải nguy hại, đánh dấu chủ nguồn thải. Sau đó phân loại,

cái gì tận dụng, tái chế được, cái gì có thể phối trộn đốt, đốt như thế nào cho an toàn v.

v. . Đa phần rác công nghiệp nguy hại được phối trộn hợp lý và đốt là phương án sạch

nhất. Lò đốt rác cơng nghiệp nguy hại cũng có 2 cấp, nhiệt độ đốt từ 1.1000C÷1.1500C.





Xử lý xỉ tro sau khi đốt

Xỉ tro từ lò đốt -> phối trộn àvật liệu bê tơng -> hóa rắn.

Xỉ tro từ lò đốt -> phối trộn -> nguyên liệu







Gạch (tự chèn, terazo, con sâu…)



2.2.4. Xử lý rác y tế

Như chúng ta đã nhìn thấy và cảm nhận, rác y tế hết sức nguy hại và ô nhiễm, xe

chở rác y tế là xe chuyên dùng tuyệt đối kín và dùng thiết bị nâng hạ. Các thùng rác y

tế cho đến khi nhập kho cũng theo băng chuyền, nạp liệu đều bằng những thiết bị thủy

lực, hạn chế người lao động tham gia trực tiếp việc khuân vác. Người lao động được

trang bị bảo hộ tương đối an toàn, giữ vệ sinh, hạn chế lây nhiễm. Qui trình đốt tương

tự như rác cơng nghiệp nguy hại.

2.2.5. Sản xuất bê tông tái chế (bê tông bùn)

Vật liệu ->Kiểm tra-> nghiền sàn tro bùn-> tính tỉ lệ phối trộn cốt liệu -> nạp vật

liệu -> bê-tông thành phẩm.

2.2.6. Tái chế bùn thải từ nhà máy cấp nước

Bất cứ nhà máy xử lý nước cấp nào cũng có lượng bùn thải, công suất càng lớn,

độ đục cao hay sắt cao thì có nhiều bùn. Bùn này tuy khơng độc hại nhưng bỏ đi đâu

cho ổn đây?

Trước tình hình trên Cơng ty Cấp Thốt Nước Mơi Trường Bình Dương nghiên

cứu phối trộn với một số loại đất đá khác tạo thành nguyên liệu làm gạch xây dựng có

nung. Hiện nay công ty đã sản xuất ổn định gạch 4 lỗ, 2 lỗ đạt chất lượng gạch xây

dựng theo tiêu chuẩn Việt Nam. Mỗi ngày sản xuất được 20.000 viên gạch 4 lỗ và

5.000 viên gạch 2 lỗ và được thị trường chấp nhận.

2.2.7. Xử lý bùn thải công nghiệp



49



Đa phần bùn thải công nghiệp đều không thể tái chế làm phân, mà phải hủy như

rác công nghiệp, bùn đem về tập kết vào kho có mái che, có hệ thống thu nước rỉ từ

bùn. Nước rỉ được thu hồi xử lý khơng để lan ra ngồi, bùn được làm khơ bằng

phương pháp phơi vắt ép, độ ẩm còn dưới 30%, có thể đem phối trộn với rác cơng

nghiệp và đốt.

2.2.8. Xử lý bóng đèn, thiết bị điện tử

Thiết bị điện tử bỏ vào rác dường như không đáng kể. Người dân và cơ quan đã

bán cho người đi mua đồng nát tận dụng. Còn các loại bóng đèn thì hủy, đập vỡ theo

qui trình một cách an tồn. Sau đó các chất thủy tinh được phối trộn vào vật liệu xây

dựng dùng cho phân xưởng bê tông.

2.2.9. Xử lý giấy vụn, giấy văn phòng

Cơng ty thu giấy vụn, giấy văn phòng được bảo quản theo chế độ mật. Sau khi

quan hệ với nhà máy sản xuất giấy, vào thời điểm thích hợp hai bên cùng thống nhất

có thể xeo. Giấy được xuất kho bán cho nhà máy giấy và sau khi qua cân nhà máy

giấy, xe chở giấy cũ đến thẳng hố xeo hủy ngay. Sau khi giấy phân hủy hết nhân viên

giao giấy cùng ký xác nhân với nhà máy hồn tất qui trình giao/hủy.

2.2.10. Chưng cất dung môi

Dung môi từ chất tẩy rửa điện tử được thu gom về tạm trữ vào các thùng nhựa,

sau đó đưa vào chưng cất lại làm sạch ra aceton và phục vụ lại các ngành sản xuất

khác.

Chúng ta thấy phần lớn rác công nghiệp và bùn thải đều tốt.

2.2.11. Phân xưởng gạch có nung

Với những nỗ lực khơng ngừng, cơng ty đã nghiên cứu phối trộn lượng tro trên

vào hỗn hợp của vật liệu bê tơng và hóa rắn lượng tro trên thành những sản phẩm bê

tơng hữu ích. Cơng ty đã đầu tư một trạm trộn bê tông tươi công suất 60m 3/giờ và kèm

theo xe vận chuyển chuyên dụng. Sản phẩm làm ra được thị trường chấp nhận.

2.2.12. Phân xưởng gạch khơng nung

Để góp phần làm phong phú sản phẩm xây dựng, đẩy nhanh tiêu thụ sản phẩm và

giải quyết nguồn xỉ tro, công ty đã phối trộn thành công xỉ tro làm nguyên liệu cho

gạch tự chèn, gạch không nung như gạch terazo 30cm x 30cm, 40cmx40cm hay gạch



50



tự chèn kiểu con sâu 11cm x 22cm, gạch phục vụ sân đỗ xe v.v. . . . với mẫu mã, hình

dáng, màu sắc khá đa dạng, phong phú.

2.3. CÁC QUY TRÌNH XỬ LÝ CHẤT THẢI TẠI NHÀ MÁY

2.3.1. Nhà máy xử lý phân compost

2.3.1.1. Giới thiệu

Nhà máy sản xuất phân compost từ chất thải sinh hoạt với công nghệ Phần Lan,

công nghệ Châu Âu với công suất 420 tấn/ngày, thời gian làm việc tại nhà máy là 16

giờ/ngày,mối ngày có 2 ca làm việc, mỗi ca 8 tiếng.

Rác thải được thu gom từ các hộ gia đình, cơ quan, trường học, các trung tâm

dịch vụ,thương mại… trên địa bàn tỉnh Bình Dương sẽ được qua trạm cân để xác nhận

khối lượng, loại rác thải của từng đơn vị. Sau đó, qua trạm rửa xe, ép rác để làm giảm

bớt một lượng nước rỉ rác lớn và vận chuyển đến nhà máy sản xuất phân compost.

2.3.1.2. Sơ đồ công nghệ xử lý



51



Hình 2.1: Quy trình sản xuất phân compost

2.3.1.3. Mơ tả quy trình

Chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, cơ quan, trường học, trung tâm thương

mại,… được thu gom và vận chuyển vể khu liên hợp để xử lý. Sau khi qua trạm cân,

rửa xe, ép rác để giảm bớt đi lượng nước rỉ rác, rác thải được xe chở rác vận chueyenr

về nhà máy sản xuất phân hữu cơ 2 chuyền hoạt động độc lập.

Đầu tiên, rác thải được đưa vào 2 hố tiếp nhận với kích thước mỗi hố là L×B×H

= 7×6×7m. Hai hố này được xây dựng ngầm dưới đất và được gắn thêm các cánh quạt

để hỗ trợ việc phun chế phẩm khử mùi để làm giảm mùi hôi, tỉ lệ pha chế phẩm tùy

thuộc vào mùi hôi của rác thải. Rác thải sinh hoạt được tiếp nhận hằng ngày liên tục,

nếu hố tiếp nhận đầy rác thì rác sẽ được chuyển thẳng đến bãi chơn lấp. Sau đó,

CTRSH được gàu ngoạm rác với công suất hoạt động 1,5 tấn/lần ngoạm hoạt động

bằng động cơ Diezen, dùng bơm thủy lực để vận hành và được điều khiển bởi công

52



nhân đứng ở trên sàn công tác. Cơng nhân có nhiệm vụ giữ lại các loại rác có kích

thước lớn, vải, quần áo trước khi gàu ngoạm rác đưa rác vào máy mở bao để tránh bị

kẹt vào trục quay của dao cắt ở máy mở bao. Rác thải được máy mở bao xé ra, đánh

tơi và đưa lên băng tải đi vào sàng thùng quay. Tại đây rác thải có kích thước lớn hơn

9cm sẽ được giữ lại trên sàng và theo băng tải đưa đi phân loại bằng thủ công. Một dây

chuyền phân loại bằng thủ cơng gồm 7 ơ, mỗi ơ có 2 công nhân đứng 2 bên băng tải để

phân loại ra các thành phần có thể tái chế được như nylon, lon hộp, giày dép, bao tải…

Ở 4 ô đầu tiên sẽ phân loại ra nylon có kích thước giảm dần. Ô chứa thứ 5 sẽ phân tách

ra bao tải. Ở ô thứu 6, một bên công nhân sẽ phân loại ra da và giày dép, một bên sẽ

thu gom các vỏ chai nhựa, vỏ lon, đồ hộp và kim loại. Ô thứ 7 được bỏ trống. Phần rác

phân tách để tái chế sẽ được vận chuyển đến các nhà máy tái chế mà khơng qua rửa

hay phơi, phần còn lại (phần không tái chế được) sẽ được đưa đi chôn lấp. Rác thải có

kích thước nhỏ hơn 9cm sẽ được lọt qua các lỗ sàng thùng quay theo băng tải qua thiết

bị tách nylon. Tại đây, các vật liệu nylon sẽ được giữ lại và đưa ra ngăn chứa, nylon

này có thể tái chế được. Tiếp theo, rác thải theo băng tải qua thiết bị tách từ để tách

kim loại như vỏ nắp chai, đinh, mảnh sắt, thép vun…. Sau đó rác thải theo băng

chuyền đưa vào ngăn chưa rác hữu cơ. Tại đây, rác thải được phun chế phẩm phân hủy

trước khi đưa vào nhà ủ lên men (ủ hiếu khí). Rác hữu cơ được ủ lên men trong thời

gian 21 ngày, đạt độ ẩm 40 – 50% sẽ chuyển qua nhà ủ chín. Tại nhà ủ lên men được

lắp đặt máy thổi khí để bổ sung khí cho vi sinh vật phân giải hoạt động. Khí sinh ra

trong quá trình ủ lên men được thu lại và theo ống dẫn qua hệ thống xử lý khí ở lò đốt;

nước rỉ rác từ các bể ủ men được thu lại và dẫn vào hệ thống xử lý nước rỉ rác của khu

liên hợp. Sau 21 ngày ủ, độ ẩm phân hữu cơ đạt 40-50% sẽ được xe chuyên chở vận

chuyển đến nhà ủ chín. Tại đây phân hữu cơ sẽ được ủ trong thời gian thường là 19

ngày, thường xuyên đảo trộn để thu lượng mịn và có độ ẩm cần đạt được nhỏ hơn

25%. Sau đó, xe xúc đưa qua nhà tinh chế để tách nylon, tách từ để loại bỏ các nylon

và ki loại không thể loại bỏ ở công đoạn ban đầu. Phân hữu cơ sau khi qua thiết bị tinh

chế sẽ thu được lượng mùn tinh và được vận chuyển đến kho chứ lưu trữ trong vòng 23 tháng để ổn định thành phần. Cuối cùng, mùn tinh được đưa vào hệ thống khuấy

trộn, đóng bao.

2.3.1.4. Các cơng trình đơn vị





Hố tiếp nhận và gàu ngoạm rác



53



Hố tiếp nhận có nhiệm vụ lưu chứa rác thải được vận chuyển đến nhà máy, phun

chế phẩm khử mùi để làm giảm mùi hôi. Hố tiếp nhận được xây dựng âm dưới đất với

kích thước L×B×H = 7×6×7m.

Gàu ngoạm rác với cơng suấ 1,5 tấn/lần có nhiệm vụ ngoạm rác từ hố tiếp nhận

đưa vào máy mở bao.



Hình 2.2: Hố tiếp nhận và gàu ngoạm rác





Máy mở bao



Máy mở bao được cấu tạo gồm nhiều dao đặt theo hình xương cá theo 2 trục,

quay theo 2 hướng ngược nhau, nhờ các lưỡi dao này mà các túi nylon, bao tải đựng

rác… được mở ra và đánh tới. Tại mỗi thiết bị máy mở bao có 1 nhân viên đứng trên

sàn cơng tác phía trên miệng máy mở bao để giữ lại các rác thải có kích thước lớn như

vải, áo quần… để tránh bị kẹt vào trục quay của dao cắt.



Hình 2.3: Máy mở bao

54







Băng tải

Băng tải có nhiệm vụ vận chuyển rác thải từ thiết bị này đến thiết bị khác.



Hình 2.4: Băng tải





Sàng thùng quay



Sàng thùng quay hoạt động bằng động cơ điện với kích thước lỗ sàng là 9cm,

dạng hình tròn có lò quay kích thước 1m75. Tại đây rác thải có kích thước lớn hơn

9cm được giữ lại trên mặt sàng và theo băng tải đưa đi phân loại bằng thủ cơng. Phần

rác có kích thước nhỏ hơn 9cm sẽ lọt qua các lỗ sàng thùng quay và theo băng tải đi

qua thiết bị tách nylon.



Hình 2.5: Sàng thùng quay

55



Hình 2.6: Dây chuyền phân loại rác thủ công





Thiết bị tách nylon



Thiết bị tách nylon gồm phễu chụp có gắn quạt hút và đường ống để đưa nylon ra

ngăn chứa, nylon này có thể tái chế được.



Hình 2.7: Máy tách nylon





Thiết bị tách từ



Thiết bị tách từ có cấu tạo gồm một cục nam châm điện được gắn phía trên băng

tải vận chuyển rác để tách các kim loại như nắp chai, đinh, mảnh sắt, thép vụn,…



56



Hình 2.8: Thiết bị tách từ





Nhà ủ lên men



Nhà ủ lên men gồm 48 bể ủ với kích thước mỗi bể là L×B×H = 12,8×5,8×22,3m.

Quy trình ủ lên men:

- Rác hữu cơ sau khi qua thiết bị tách từ theo băng chuyền đến bể lưu trữ, tại

đây RHC được trộn với chế phẩm vi sinh Esol 268 (tỉ lệ pha trộn 1:100) với

liều lượng 3,6 l/bể ủ trước khi đưa vào bể ủ nhằm tăng khả năng phân hủy rác

thải.

- Sau đó rác thải được vận chuyển đến các bể ủ bằng xe xúc.

- Khi bể ủ men đầy rác thì đóng cửa bể ủ, san gạt đều trên diện tích bể, cắm cây

can nhiệt cách tường 8m (tính từ trong ra) với chiều sâu 0,3m (tính từ trên

xuống), rãi vôi đều lên nhằm để khử mùi và chống cơn trùng, bắt đầu q trình

ủ lên men.

- Tại mỗi bể ủ có hệ thống cấp khí, cấp nước, thu nước rỉ rác và thu khí gây mùi

hơi.

- Thời gian ủ tại mỗi bể là 21 ngày, yêu cầu RHC sau khi ủ tại nhà ủ men phải

đạt độ ẩm từ 40-50%.



57



Hình 2.9: Bể ủ lên men





Hệ thống cấp khí



Máy thổi khí được lắp đặt bên ngồi bể ủ, ống thổi khí lắp đặt dưới bể ủ. Nhờ

q trình thổi khí mà các giai đoạn chuyển hóa của vi sinh vật diễn ra nhanh hơn.



Hình 2.10: Hệ thống cấp khí

Hệ thống cấp khí được cài đặt tự động, chia làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn 1 (2 ngày, 45oC): Đây là giai đonạ thích nghi của VSV. Máy thổi khí

sẽ cấp khí liên tục cho đến khi nhiệt độ trong bể ủ đạt 45oC. Sau khi đạt được

nhiệt độ yêu cầu thì máy thổi khí tự động chuyển sang chế độ cấp khí 10 phút

trong 1 giờ.

- Giai đoạn 2 (2 ngày, 55oC): Giai đoạn sinh trưởng và phát triển.

58



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: XÍ NGHIỆP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN NAM BÌNH DƯƠNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×