Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Hoạt động thương mại dịch vụ:

a. Hoạt động thương mại dịch vụ:

Tải bản đầy đủ - 0trang

trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Vì vậy nếu huy

động được nhiều vốn thì có thể mang lại lợi nhuận cao cho ngân

hàng cũng như có thể mở rộng hoạt động và cung cấp vốn cho

hoạt động kinh tế. Trên thị trường có rất nhiều loại KH khác nhau,

trong đó gồm có hai loại chính: KH là cá nhân và KH là đơn vị

kinh tế, doanh nghiệp Nhà nước, công ty TNHH, công ty cổ phần,

doanh nghiệp tư nhân. Vì thế các hình thức huy động vốn cũng rất

đa dạng để thích hợp với từng loại KH. CN Thăng Long hiện tại

tập trung vào hình thức huy động vốn dưới dạng phát hành các sản

phẩm gửi tiền vào NH để tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm, là nguồn tài

nguyên quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, khi một ngân

hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản

tiền gửi để giữ tiền, tài sản và thanh tốn hộ KH, bằng cách đó

ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân

cư. Cùng với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế và sự cạnh

tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại, CN Thăng Long

cùng với NH LVP đã có nhưng sản phẩm tiết kiệm phù hợp với

các đối tượng KH khách nhau (xem thêm mục 1.3). Tại CN hiện

đang diễn ra hoạt động kinh doanh các loại tiền gửi thanh tốn,

tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và tiền gửi tiết kiệm. Ngồi ra

còn có một khoản không nhỏ là tiền gửi của các ngân hàng khác.





Hoạt động cho vay là một hoạt động kinh doanh chủ chốt của CN

Thăng Long để tạo ra lợi nhuận. Các khoản cho vay thường chiếm

tỷ trọng lớn từ 60-80% tổng số tài sản có của CN và đem lại hơn

60% doanh lợi cho CN. Đại bộ phận tiền huy động được ngân

hàng cho vay theo 2 loại chính là cho vay ngắn hạn và cho vay

trung – dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất,

kinh doanh, dịch vụ, đời sống. CN Thăng Long hiện đang áp dụng

các hình thức cho vay như cho vay từng lần, cho vay theo dự án

đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức

tín dụng,…với các sản phẩm đa dạng phong phú tùy nhu cầu của

KH (Xem thêm tại mục 1.3)



24







Hoạt động phục vụ nhu cầu thanh toán của KH: Hiện CN Thăng

Long đang có hai hình thức thanh tốn phí dịch vụ giúp KH như

sau:

 Dịch vụ thu hộ KH: là dịch vụ mà NH LVP làm trung gian thu

hộ tiền từ KH cho các đơn vị nhờ thu.

 Dịch vụ chi hộ KH: là dịch vụ mà NH LVP làm trung gian chi

trả tiền cho KH theo yêu cầu của các đơn vị nhờ thu.







Hoạt động kinh doanh ngoại tệ: Là hoạt động mua và bán ngoại tệ

có thể là tiền mặt hoặc diễn ra các loại giao dịch trên tài khoản

bằng ngoại tệ. Hiện tại, CN Thăng Long chủ yếu phụ trách mua và

bán ngoại tệ bằng tiền mặt, chưa thực hiện việc giao dịch bằng

ngoại tệ.



b. Hoạt động marketing:





Chính sách dịch vụ:

Là một ngân hàng phát triển theo hướng đa dạng hóa, NH LVP

tham gia vào rất nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng tập

trung vào những nhóm sản phẩm cơ bản sau:

 Dịch vụ tín dụng, bảo lãnh.

 Dịch vụ huy động vốn.

 Dịch vụ thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại.

 Dịch vụ thanh toán thẻ quốc tế và nội địa: Visa, Master, …

 Nhóm dịch vụ ngân hàng điện tử:

banking, Mobile banking, SMS banking…



POS,



Internet



 Nhóm dịch vụ có thu phí khác: Kiều hối, chuyển tiền trong

nước, thu đổi ngoại tệ, thu chi tiền mặt tại đơn vị…



25







Chính sách giá: NH LVP CN Thăng Long định giá theo các căn

cứ, quy định về lãi suất, phí dịch vụ của NH LVP và tham khảo giá

của các đối thủ cạnh tranh trên địa bàn thành phố Hà Nội.







Chính sách phân phối: Hiện tại có hai kênh phân phối trực tiếp và

gián tiếp. Kênh phân phối trực tiếp được chia thành hai kênh

phân phối truyền thống và hiện đại.







Chính sách truyền thơng, cổ động:

Chính sách truyền thông, cổ động hiện tại chỉ được chú ý vài năm

trở lại đây cho phù hợp với môi trường kinh doanh. Tuy vậy việc

thực hiện vẫn còn chưa đồng bộ và thiếu tính chun nghiệp.



Như vậy, có thể thấy, hoạt động kinh doanh của CN Thăng Long rất đa

dạng, có mặt ở mọi phuơng diện, nhắm tới mọi nhu cầu của KH.

2.2.2 Thị trường kinh doanh của CN Thăng Long NH LVP:

Thị trường thường được phân khúc thành các đoạn thị trường nhỏ hơn,

mục địch giúp doanh nghiệp nhận định và định hướng rõ ràng thị trường

mục tiêu và đối tượng KH của mình là gì. Từ lâu, các nhà kinh doanh NH đã

nhận thức rõ ràng sự cần thiết của việc phải phân khúc thị trường, lựa chọn

thị trường mục tiêu, định vị sản phẩm của mình. NH LVP cũng không ngoại

lệ.. Cùng với việc xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của KH ngày càng

tăng lên, NH nhận thấy cần có những định hướng về thị trường cụ thể, từ đó

đưa ra việc phân đoạn thị trường cụ thể rõ ràng giành cho những KH khách

nhau. Giống như thị truờng mà NH LVP hướng đến, CN Thăng Long cũng

có chung mục tiêu hướng đến các đối tuợng KH như sau:

a. KH cá nhân:





KH cá nhân theo giới tính:



Hiện nay, phụ nữ ngày càng tham gia nhiều vào các cơng tác xã

hội, chính trị, kinh tế, vì vậy cũng càng thêm được ưu tiên nhiều hơn.

Vào các ngày lễ lớn giành cho phụ nữ, CN Thăng Long ln có những

chương trình q tặng giành riêng, các chương trình tăng lãi suất tiền

gửi giành riêng cho nữ. Đồng thời có những dịch vụ thanh tốn tiêu

26



dụng tiện ích cho phụ nữ mỗi khi đi mua sắm, đảm bảo sự tiện lợi cho

những đối tượng KH này.





KH cá nhân phân theo độ tuổi:



Đối với phân khúc thị trường này, CN Thăng Long lại tập trung

hơn cả đối với hai đối tượng là người cao tuổi và trẻ em với những

chương trình đặc biệt. Đối với người cao tuổi, sản phẩm Tiết kiệm An

nhàn tuổi hưu đã giành được rất nhiều ưu ái của KH. Đối tượng gửi

tiết kiệm này đa phần đều là người cao tuổi có tự chủ về kinh tế hoặc

người thân gửi tiết kiệm cho cha mẹ, ơng bà. Mặt khác, CN Thăng

Long còn phát triển NH thế hệ mới, giành riêng cho KH dưới 18 tuổi,

với các sản phẩm như sản phẩm tiết kiệm Hoa Trạng Nguyên, nhằm

giúp các em học cách chi tiêu hợp lý hoặc bố mẹ muốn tiết kiệm

khoản riêng giành cho con cái mình; các khoản cho vay du học phục

vụ có các em muốn đi du học nhưng lại có vấn đề về tài chính,… Đây

là mảng NH được đánh giá vơ cùng tích cực của NH LVP, tuy nhiên,

tại CN Thăng Long thì mảng này lại khơng q phát triển mà tập trung

phát triển ở phân khúc thị trường khác.







KH phân theo thu nhập:



Xã hội ngày càng phát triển, mức thu nhập của người dân cũng

ngày càng tăng lên, vì vậy việc các NH chú trọng vào phân khúc thị

trường có những KH VIP đã khơng còn hiếm lạ. CN Thăng Long nói

riêng cũng như NH LVP nói chung cũng đưa là những chính sách ưu

đãi về lãi xuất giành cho các KH ưu tiên. Các KH này thường sẽ luôn

sẽ nhận được quà từ CN những ngày lễ, Tết lớn, cũng các chương

trình ưu đãi kèm theo.







KH phân theo hành vi:



Nhu cầu càng nhiều thì các sản phẩm phù hợp cũng ra mắt càng

nhiều. CN Thăng Long NH LVP hỗ trợ các khoản cho vay tiêu dùng

với mức lãi suất hợp lý, cho vay đến 80% vốn cần thiết. Ngồi ra còn

có hoạt động thanh tốn thu chi tiền điện, nước, BHXH,…giúp KH.

Hiện tại, đối với những phân đoạn thị trường này, CN Thăng Long

NH LVP đang lựa chọn phân khúc KH phân theo hành vi để tập trung

27



khai thác và phát triển. Những KH này thường có nhu cầu mục đích rất

đa dạng, thường là để tiết kiệm, hoặc vay vốn để khám chữa bệnh, mua,

làm nhà, đầu tư bất động sản, hoặc đơn giản là muốn tiết kiệm. Các phân

khúc thị trường khác cũng được khai thác tuy nhiên chưa thực sự phát

triển.

b. KH doanh nghiệp:





KH phân theo khu vực địa lý: Ở đâu cũng có người muốn làm

giàu, ở đâu cũng có người muốn kinh doanh, không bất kể là thành

thị hay nông thôn. Bởi vì khu vực thành thị vốn ln phát triển và

có nhiều cơ hội hơn, NH LVP đã chú trọng đầu tư hơn vào khu

vực nông thôn.







KH phân theo quy mô doanh nghiệp: dù là doanh nghiệp nào thì

cũng cần phải có vốn để đầu tư. Các doanh nghiệp lớn thường có

số vốn đầu tư sẵn có lớn, vì thế, họ khá hạn chế vay nợ NH, nhưng

các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì lại cần có khoản vốn lớn để đầu

tư xây dựng và phát triên. Nhìn thấy được vấn đề này, CN đã tập

trung vào các KH là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể dễ dạng

quản lý và phục vụ.



Đối với các KH này, CN tập trung phát triển các KH theo quy mơ

doanh nghiệp bởi vị trí CN đặt ở trung tâm thành phố, các KH tìm đến

thương xuyên là những KH doanh nghiệp, chỉ có số nhỏ khách là có nhu

cầu về nơng thơn hoặc vay theo ưu đãi khu vực.

2.2.3 Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của NH LVP CN Thăng

Long:

Căn cứ vào Báo cáo kết quả kinh doanh các đối tượng quan tâm có thể

đánh giá về kết quả và hiệu quả hoạt động sau mỗi thời kì, trên cơ sở đó dự

báo về tương lai của doanh nghiệp. Trong những năm vừa qua, với tình hình

kinh tế đầy biến động với những đối thủ cạnh tranh vô cùng lớn, NH LVP đã

và đang không ngừng cải thiện và nâng cao các hiệu quả hoạt động kinh

doanh, không ngừng đưa ra những ý tưởng, các hướng đi mới. Những quyết

định này được CN Thăng Long nghiêm túc thực hiện và phát triển, từ đó

28



đem lại những khoản lợi nhuận khổng lồ, cụ thể, từ việc nâng cao hiệu quả

hoạt động kinh, CN Thăng Long đã mang lại cho NH LVP kết quả như sau:

Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh của NH LVP CN Thăng Long

(Đơn vị tính: tỷ đồng)



CHỈ

TIÊU



2016



Thu nhập 114.625



2017



2018



Chênh lệch

2017/2016



Chênh lệch

2018/2017



ST



TT (%)



ST



TT (%)



147.80

5



169.911



33.180



28,95



22.106



14,96



Chi phí



19.220



20.696



20.919



1.476



7,68



223



1,08



Lợi nhuận



95.405



127.10

9



148.99

1



31.704



33,23



21.882



17,21



(Nguồn: Bảng cân đối kế toán của CN Thăng Long NH TMCP Bưu điện Liên Việt)



Dựa vào Bảng 2.3 ta có thể thấy:

 Thu nhập:

Ta thấy, thu nhập năm 2017 là 147.805 triệu đồng, tăng 33.180

triệu đồng tương ứng 28,95% so với năm 2016. Năm 2018 thu nhập

đạt mức 169.911 triệu đồng, tăng 22.106 triệu đồng tức 14,96% so

với năm 2017. Để đạt được kết quả này, CN Thăng Long đã phải vơ

cùng tích cực trong công việc thu hồi và xử lý nợ quá hạn đã phát

sinh, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, đem lại nguồn thu nhập

đáng kể cho CN.

Mặt khác, từ nhu cầu đầu tư kinh doanh hoặc học tập,…KH

đang ngày càng có nhu cầu vay nhiều hơn, khiến các khoản nợ vay

của CN Thăng Long cũng tăng lên đáng kể. Không những thế, hoạt

động kinh doanh của KH ngày càng trở nên phát triển, tạo điều kiện

để họ trả nợ vay cho NH. Từ đó làm cho doanh số cho vay tăng cao,

29



tổng doanh số cho vay năm 2016 chỉ ở mức 17.758 tỷ đồng, đến

năm 2017 đã tăng lên 21.561 tỷ đồng, tăng 3.803 tỷ đồng, tương ứng

60,01% so với năm 2016, năm 2018 đạt mức 27.982 tỷ đồng, so với

2017 đã tăng 6.421 tỷ đồng, tương đương 61,11%. Chính kết quả

này đã làm tổng thu nhập của CN Thăng Long NH LVP gia tăng

đáng kể trong những năm gần đây.





Chi phí:

Trái ngược với thu nhập, tổng chi phí của CN Thăng Long lại khơng

tăng lên qua nhiều. Chi phí năm 2017 chỉ ở mức 20.696 triệu đồng,

tăng 1.476 triệu, tương ứng 7,68% so với năm 2016. Mặc dù đây là

con số tương đối lớn, tuy nhiên so với mức thu nhập CN đạt được thì

mức chi phí này tăng khơng đáng kể và khơng ảnh hưởng quá nhiều

đến lợi nhuận doanh nghiệp. Năm 2018, chi phí chỉ nhỉnh nhẹ một

khoảng 223 triệu đồng, tương ứng 1,08% so với năm 2017. Nguyên

nhân này là do các khoản chi phí cho quản lý hoạt động kinh doanh

tăng nhẹ, CN chỉ cần bỏ ra một khoản nhỏ để tăng lương nhân viên

và chi phí đào tạo nhân viên mới do thiếu hụt lượng lớn nhân viên

trong CN và do Hội sở điều chuyển bớt nhân viên cứng của CN sang

PGD, CN khác mới mở cửa.







Lợi nhuận:

Năm 2017, lợi nhuận ròng của CN Thăng Long ở mức 127.109 triệu

đồng, tăng 31.704 triệu tương ứng với 33,23% so với năm 2016. Lợi

nhuận ròng của năm 2018 đạt 148.991 triệu đồng, tăng 21.882 triệu

(17,21%) so với năm 2017. Như vậy, có thể thấy, lợi nhuận ròng của

năm 2017 so với năm 2016 có sự tăng mạnh rõ rệt, cho thấy hiệu

quả của hoạt động kinh doanh với việc áp dụng các chính sách,

chương trìn ưu đãi cho KH. Hoạt động tín dụng vốn được chú trọng

phát triển, những không thể không quan tâm đến các hoạt động

thanh toán, hoặt động huy động vốn bởi đây cũng là những nguồn

lợi nhuận cho NH. Năm 2017 mặc dù chi phí tăng cao hơn năm

2018, tuy nhiên mức tăng của lợi nhuận (33.180 triệu đồng) đã bù

đắp lại mức tăng của chi phí, từ đó làm cho lợi nhuận ròng của năm

2017 tăng cao hơn. Năm 2018, lợi nhuận ròng cũng tăng tuy nhiên

30



lại có vẻ hơi chững lại so với năm 2017. Nguyên nhân của việc này

là do lạm phát tăng cao cùng sự cạnh tranh lách huy động vốn với lãi

suất cao đã khiến thị trường tiền tệ mất đi sự cân bằng. Thu nhập của

ngân hàng đến chủ yếu từ hoạt động cho vay, tuy nhiên trong những

năm gần đây, với điều kiện kinh tế nói chung và thị trường tài chính

nói riêng, nguồn thu từ hoạt động tín dụng của hầu hết các ngân

hàng bị ảnh hưởng, dẫn đến hiệu quả hoạt động của hầu hết ngân

hàng bị giảm sút đáng kể. Vì vậy, tuy đã rất cố gắng, mặc dù tổng

chi phí tăng ít, nhưng mức lợi nhuận thu về lại bị chững lại và có

hướng thụt lùi. Điều này dẫn đến cảnh báo về một năm 2019 đầy

khó khăn, mà CN Thăng Long cũng cần có những biện pháp chiến

lược thúc đẩy tăng trưởng hợp lý để tránh bị thụt lùi so với toàn hệ

thống CN/PGD của NH LVP.

Qua bảng báo cáo hoạt động kinh doanh ở bảng trên nhìn chung doanh

thu, lợi nhuận trong 3 năm có sự tăng trưởng nhiều. Đặc biệt năm 2018 là

một năm kinh tế đầy khó khăn nó là ngun nhân chính giải thích vì sao các

chỉ tiêu kinh tế tăng trưởng chậm và có dấu hiệu chững lại. Để khắc phục

những khó khăn chung của nền kinh tế công ty đã không ngừng khắc phục

khó khăn để đưa ra chiến lược kinh doanh phù hợp.

2.3 Phân tích tình hình hoạt động quản trị tài chính tại CN Thăng Long

NH LVP:

2.3.1 Cơng tác hoạch định về hoạt động tài chính tại CN Thăng Long

NH LVP:

2.3.1.1 Mục tiêu trong phân tích hoạt động tài chính của CN Thăng

Long NH LVP:

a. Mục tiêu: Hoạch định tài chính là việc dùng các chỉ tiêu kinh tế, kỹ

thuật trong một thời kỳ cụ thể để đánh giá kết kết quả kinh doanh

của CN, từ đó tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến hoạt động kinh

doanh hiệu quả hoặc không hiệu quả. Việc này là vô cùng cần thiết

đối với CN Thăng Long, vì khi đã hiểu được nguyên nhân, CN mới



31



có thể đưa ra được những chiến lược điều chỉnh hoạt động kinh

doanh, nâng cao hiệu quả và đem lại lợi nhuận cao nhất.

b. Vai trò: Việc lập ra một kế hoạch kinh doanh cụ thể và phân tích chi

tiết có thể đem lại rất nhiều lợi ích cho CN. Đầu tiên, việc phân tích

kết quả hoạt động kinh doanh giúp CN Thăng Long xác định được

mục đích tài chính trong 1 khoảng thời gian và cách thức CN Thăng

Long thực hiện để đạt được mục đích tài chính đó. Đồng thời, việc

này có thể giúp khơng chỉ CN Thăng Long mà còn cả NH LVP nói

chung gây dựng được lòng tin đối với các nhà đầu tư trên thị trường

thơng qua tính minh bạch trong điều hành doanh nghiệp. Mặt khác,

dựa vào bản kế hoạch tài chính, nhà quản lý hoặc các lãnh đạo trong

doanh nghiệp có thể thực hiện các kế hoạch ngân sách và kiểm sốt

chi tiêu hợp lý, giảm thiểu lãng phí. Như vậy có thể thấy được vai

trò tất yếu của việc hoạch định và phân tích tình hình tài chính trong

CN.

2.3.1.2 Kế hoạch định hướng kinh doanh của CN Thăng Long NH

LVP:

Để thực hiện các công tác, nhiệm vụ, kế hoạch được Hội sở đặt ra cho

toàn bộ hệ thống CN/PGD trên cả nước, CN Thăng Long đã có những

hoạch định định hướng hoạt động như sau:





Điều chỉnh chỉ tiêu Tổng tài sản, Huy động vốn và dư nợ Thị trường

để tương ứng với tiêu chuẩn tín dụng năm 2019 theo hạn mức của

NHNN (kế hoạch đầu năm xây dựng là tăng trưởng 20% tăng trưởng

tín dụng, phê duyệt của NHNN là 14%).







Điều chỉnh giảm mục tiêu lợi nhuận vì trong giai đoạn 2018 – 2019,

mục tiêu chung của cả NH LVP xác định chiến lược là tập trung đầu

tư cho cơ sở hạ tầng, trong đó ưu tiên phát triển mạng lưới vì mục

tiêu trở thành Ngân hàng bán lẻ hàng đầu và phục vụ cho mọi người

dân đến tận tất cả các xã/phường, huyện/thị trên toàn quốc, đồng

thời tận dụng cơ hội và kịp thời hạn cấp phép của NHNN cũng như

mối quan hệ hợp tác với VietnamPost (đặc biệt là mở rộng mạng

lưới PGDBĐ, PGDBĐ nâng cấp). Việc mở rộng mạng lưới sẽ làm

32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Hoạt động thương mại dịch vụ:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×