Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐÔNG KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CỦA NH TMCP BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐÔNG KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CỦA NH TMCP BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

Tải bản đầy đủ - 0trang

1. Chia theo độ tuổi

20 – 29 tuổi



27



57%



33



61%



30 – 39 tuổi



12



25%



14



22%



Trên 40 tuổi



9



18%



7



17%



Trung cấp



0



0



0



0



Cao đẳng



8



17%



6



11%



Đại học



33



69%



37



68%



Thạc sĩ



7



14%



10



19%



Tiến sĩ



0



0



1



2%



Nam



14



29%



17



32%



Nữ



34



71%



37



68%



2. Chia theo trình độ



3. Chia theo giới tính



(Nguồn: Phòng Hành chính – Tổ chức)



Bảng phân tích cơ cấu nhân sự của CN Thăng Long NH LVP ta có một số

nhận xét như sau:

a. Cơ cấu nhân sự theo độ tuổi:

Như vậy, từ Bảng 2.1 ta có thể thấy, trong những năm gần đây, số

nhân viên có độ tuổi từ 20 – 29 tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất (57% – 61%)

và ngày càng có xu hướng tăng. Độ tuổi từ 30 – 39 tuổi và từ 40 tuổi trở

lên chiếm tỷ lệ ít hơn, ngày càng có xu hướng giảm dần. Độ tuổi lao

17



động như vậy cho thấy trong CN Thăng Long, nhân viên đa số còn khá

trẻ (từ 20 đến 29 tuổi). Tuy đây là độ tuổi có khả năng tiếp thu học hỏi

kiến thức tốt, khả năng xử lí cơng việc nhanh nhưng ở độ tuổi này nhân

sự lại chưa có nhiều kinh nghiệm làm việc, hơn nữa, tính ổn định lại

khơng cao vì vậy thường xun có nhân viên ở độ tuổi này xin nghỉ việc

do muốn chuyển công việc hoặc do khơng chịu được áp lực cơng việc.

Vì vậy, CN cần có thêm các chế độ đãi ngộ và quản lý hợp lý đối với

những đối tượng này, tránh việc thay đổi nhân sự quá thường xuyên dẫn

đến tăng chi phí đào tạo, mất thời gian và giảm chất luợng trình độ của

nhân viên. Độ tuổi từ 30 – 39 tuổi tuy thấp và đang có xu hướng giảm

(25% – 22%) nhưng đây lại là độ tuổi cốt lõi của CN bởi mặc dù những

người này ít có khả năng tiếp thu học hỏi cái mới nhưng lại có kinh

nhiệm làm việc phong phú, khả năng xử lý và quản lý cơng việc cao, ít

có mong muốn trong sự thay đổi về cơng việc, vì thế, việc có chính sách

giữ chân những thành phần cốt lõi như thế này điều rất cần thiết. Độ

tuổi trên 40 tuổi rơi vào một số nguời thuộc ban quản lý và ban Giám

đốc, những người này mặc dù có số lượng ít, cũng có xu hướng giảm

(18% – 17%) nhưng lại có vị trí quan trọng trong CN và thường nguyên

nhân giảm do thăng chức hoặc điều chuyển công tác sang CN /PGD

khác. Nhìn chung, CN Thăng Long nên tập trung đầu tư vào phát triện

đội ngũ nhân lực trẻ năng động và nên có thêm các chính sách đãi ngộ

cho các nhân lực trung tuổi giàu kinh nhiệm và khả năng làm việc.

b. Chất lượng theo trình độ lao động tại CN :

Trong các năm vừa qua, cán bộ tại CN chủ yếu có trình độ đại học,

chiếm tỷ lệ cao lên đến 69% trên tổng số nhân sự. Trình độ Cao Đẳng

tương đối thấp, chỉ chiếm 17%. Ngược lại với mức tỷ lệ tương đối thấp

là 19%, trình độ Thạc sĩ cho thấy sự tăng lên rõ rệt về mặt chất lượng

lao động tại CN. Hơn nữa, năm 2018, CN đón nhận thêm một vị Tiến sĩ,

tuy chỉ chiếm 1% nhưng lại cho thấy sự vượt bậc về trình độ. Qua đó,

có thể thấy, lao động tại NH LVP CN Thăng Long có mặt bằng trình độ

cao và có xu hướng tăng theo từng năm.

c. Số lượng lao động theo giới:

18



Qua hai năm 2017 và 2018, có thể thấy mức dao động giữa tỹ lệ lao

động nam và lao động nữ là không đáng kể. Do đặc thù của ngành Tài

chính – Ngân hàng, lao động nữ ln được ưu tiên bởi cần sự tỉ mỉ, cẩn

thận, vì vậy, số lượng lao động nữ luôn chiếm tỷ lệ cao hơn mặc dù có

xu hướng giảm nhẹ với mức dao động 71% ~ 68%. Lao động nam có xu

hướng tăng do tỷ lệ dân số Việt Nam chênh lệch ngày càng lớn, đồng

thời với việc cần nam giới có thể chịu được áp lực công việc khi phải di

chuyển hỗ trợ tại nhà cho KH.

2.1.2 Phân tích nguồn tài chính tại CN Thăng Long NH LVP:

Nguồn tài chính: là khả năng về tài chính mà các chủ thể trong xã hội có

thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình. Nguồn tài

chính có thể tồn tại dưới dạng tiền, tài sản vật chất hoặc phi vật chất. Nguồn

tài chính của CN Thăng Long phụ thuộc vào nguồn ngân sách từ Hội sở và

NHNN, được thể hiện qua nguồn vốn hoạt động của CN hình thành từ

Nguồn vốn CSH và Nợ phải trả. Điều này được thể hiện qua bảng số liệu

sau:

Bảng 2.2: Bảng cơ cấu nguồn tài chính CN Thăng Long NH LVP

(Đơn vị tính: tỷ đồng)



CHỈ TIÊU

Vốn CSH

Nợ phải trả



Năm 2016



Năm 2017



Năm 2018



0.55



0.72



0.59



17.124



21.285



27.585



(Nguồn: Bảng cân đối kế tốn phòng Kế tốn ngân quỹ CN Thăng Long)

Hiện nay, chúng ta có thể được chứng kiến ngàng NH nhiều lần chao

đảo bởi một số vụ bê bối tài chính của các ngân hàng lớn tại Việt Nam.

Nguyên nhân chính đều xuất phát từ năng lực tài chính của các ngân hàng.

Điều này cho thấy, khi các ngân hàng có năng lực tài chính vững mạnh thì

mới đảm bảo hoạt động kinh doanh ổn định, từ đó nền kinh tế cũng sẽ tăng

19



trưởng vững chắc. NH LVP cũng rất rõ ràng về điểm ấy, vì thế ln quản lý

sát sao nguồn lực tài chính của bản thân. Phân tích Bảng 2.2 ta có thấy rõ

một số điểm như sau:

a. Nguồn vốn CSH:

CN Thăng Long chỉ là một CN của NH LVP, khơng có tư cách pháp

nhân, vì vậy vốn CSH chỉ là tiền lưu động nho nhỏ để duy trì mà Hội sở

cấp cho CN. Việc vốn CSH thấp có thể gây trở ngại vào những thời kỳ

KH rút tiền mặt nhiều như truớc lễ, Tết, tuy nhiên chỉ gặp khó khăn khi

vốn điều chuyển đến chậm nên thường không xảy ra rủi ro lớn. Mặt

khác, việc CN không cần quá nhiều vốn CSH cho thấy hoạt động bán lẻ

và thu nợ của NH vẫn diễn ra vô cùng bình thường, nợ xấu ít. Khối

lượng nợ người bán được duy trì liên tục cũng chứng tỏ uy tín của đơn

vị trong hệ thống khá cao, các khoản nợ luôn được đảm bảo trả đúng

hạn. Vốn CSH mặc dù không được sử dụng nhiều nhưng vẫn có dao

động, nguyên nhân chủ yếu đến từ việc chênh lệch tỷ giá hối đối, việc

này khơng ảnh hưởng q nhiều đến CN, tuy vậy cũng vẫn nên hạn chế

để mức chênh lệch ở mức nhỏ nhất.

b. Các khoản vay nợ phải trả.

Nguồn vốn lớn nhất của NH đến từ các khoản vay nợ phải trả này,

thậm chỉ, để hoạt động, Nh hoàn toàn dựa vào các khoản vốn vay này.

Nợ phải trả của CN chủ yếu đến từ các khoản tiền gửi của KH (2018:

19.393 tỷ đồng). Các khoản nợ phải trả khác khơng đáng kể, chiếm tỷ lệ

rất ít trong tổng số nợ phải trả, CN chỉ cần đưa ra số vốn rất ít nhưng có

thể quản lý được 1 lượng tài sản khổng lồ, vốn lưu động lớn mở ra khả

năng chi trả vay vốn đối với KH đem lại nguồn lợi lớn cho CN. Nếu

muốn chủ động trong nguồn vốn, tạo ra dòng tiền luân chuyển liên tục,

đảm bảo khả năng thanh tốn nợ đúng hạn của cơng ty thì đơn vị cần

liên tục liên tục tìm được những KH mới cho vay và gửi tiết kiệm. Vòng

tròn cho vay – tiết kiệm vốn luôn được công khai, khi KH gửi tiền của

mình vào, ngân hàng sẽ lại dùng tiền của họ cho vay với lãi suất thấp để

tạo ra một khoản lợi nhuận từ đó. Vì vậy, CN Thăng Long nếu muốn

20



phát triển, cần liên tục có nguời vay và nguời gửi. Vấn đề ở chỗ, làm sao

để cạnh tranh KH với các ông lớn. Điều này rõ ràng đang là thách thức

đặt ra với không chỉ CN Thăng Long mà còn của tồn hệ thống. Hơn

nữa, làm sao để có những KH càng khó hơn, bởi theo nghiên cứu cho

thấy, lượng KH trung thành tăng 5% thì con số lợi nhuận có thể bước

một bước lớn từ 25% đến 95%. Đây vẫn là câu hỏi mà toàn ngành đang

cần lời giải đáp.

Việc nắm giữ trong tay một luợng tiền gửi lớn như vậy mặc dù có

thể mở ra thật nhiều cơ hội cho CN Thăng Long, tuy nhiên hàng năm,

CN vẫn phải đối mặt với rất nhiều vấn đề như nợ xấu, nợ quá hạn,… Số

nợ phải thu của KH và trả trước người bán chiếm tỷ trọng cao nhất trong

các khoản phải thu. CN khơng trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi

trong khi các khoản phải thu chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản của

NH. Các khoản phải trả lớn hơn rất nhiều so với các khoản phải thu. Nợ

phải trả chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn của NH. Đó là do quy

mô sản xuất kinh doanh của các NH tăng lên nên các CN /PGD trên hệ

thống cũng tăng huy động vốn bằng cách sử dụng đòn bẩy kinh doanh.

Mặt khác, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

lại giảm sút, do đó việc sử dụng nợ vay được coi là chưa có hiệu quả. Cơ

cấu nguồn vốn của các NH chưa hợp lý. Hệ số nợ rất cao cho thấy mức

độ tự chủ tài chính rất thấp. Điều này đòi hỏi CN Thăng Long cần có

chính sách mới để cân bằng hiệu quả kinh doanh và nợ phải trả, cũng

như tăng khả năng tự chủ của bản thân CN.

2.1.3 Phân tích cơ sở vật chất của CN Thăng Long NH LVP:

Cơ sở vật chất là tất cả các phương tiện với công suất, cách bố trí máy

móc và kho bãi nhằm phục vụ cho việc họat động kinh doanh của CN.

Kể từ khi mới đuợc thành lập, cho đến nay, CN Thăng Long đã không

ngừng thay đổi và nâng cao chất lượng cơ sở vật chất. Hiện nay, CN Thăng

Long nằm ở 214B, đường Trần Quang Khải, quận Hồn Kiếm, TP Hà Nội là

một tòa nhà 9 tầng với diện tích mỗi tầng khoảng 100m2 đầy đủ tiện nghi.

Các tầng từ tầng 1 đến tầng 4 đều đựợc dùng để làm việc, tầng 5 đến tầng 8

21



là kho. Tầng 9 được thiết kế riêng biệt thành phòng ăn của cả CN. Cụ thể

từng tầng như sau:

 Tầng 1: Phòng giao dịch và kho tiền mặt, được trang bị đầy đủ bàn ghế,

quầy kính, máy tính, máy in, máy scan. Quầy giao dịch tách biệt nằm

bên trái cửa ra vào, có cửa ngăn cách, chỉ giải quyết vấn đề liên quan

đến tiền mặt. Bên trong quầy là vị trí của một phó phòng, 3 giao dịch

viên tiền mặt và các nhân viên quỹ. Kho và két tiền được đặt cùng một

chỗ với quầy giao dịch, là một phòng riêng có khóa vân tay, chỉ có

người trong ban kho quỹ có ủy quyền mới có thể vào. Bên phải cửa ra

vào là một dãy bàn làm việc với các giao dịch viên chịu trách nhiệm giải

quyết các vấn đề về chuyển khoản. Hai bàn làm việc trong cùng của dãy

này là vị trí của một phó phòng và một Phó Giám đốc chun trách quản

lý phòng Kế toán – ngân quỹ. Việc sắp xếp như vậy giúp nhanh chóng

giải quyết các vấn đề của KH, các chứng từ hạch tốn cũng được phê

duyệt nhanh chóng, giảm thời gian xử lý cơng việc, Phó Giám đốc cũng

dễ dàng quản lý giám sát cơng việc hơn.

 Tầng 2: Phòng riêng của Phó giám đốc quản lý phòng Kế tốn – ngân

quỹ được đặt riêng biệt bên phải cửa vào. Bên trái là khu làm việc rộng

lớn của ban Kế tốn nội bộ và phòng Giám sát hoạt động. Tầng này có

một phòng nhỏ chứa máy chủ điều khiển mạng nội bộ kết nối với mạng

của Hội sở để máy tính cơng ty hoạt động đồng nhất.

 Tầng 3: Tầng 3 ln là nơi nghiêm túc nhất với sự có mặt của Giám đốc.

Phòng Giám đốc đặt bên trái cửa vào, bên ngồi có một khu nhỏ bày ghế

salon và bàn trà để tiếp khách. Bên phải là văn phòng rộng lớn – nơi làm

việc của phòng KH.

 Tầng 4: Là nơi đặt phòng họp lớn của cả CN, đồng thời cũng có phòng

riêng của phó Giám đốc quản lý hành chính và nơi làm việc chung của

phòng Hành chính - tổ chức.

 Tầng 5 đến tầng 7: 3 tầng này gần như ln ln khóa chatự bởi đây là

nơi lưu kho của Hội sở.

22



 Tầng 8: Kho của CN Thăng Long, chia làm 3 phòng lớn, một phòng lưu

trữ chứng từ từng ngày, tháng của các năm, một phòng để đồ linh tinh và

lưu trữ CIF KH ưu tiên. Phòng còn lại dùng để chứa các mẫu giấy tờ

khách nhau của CN và quà tri ân từng đợt.

 Tầng 9: Được xây dựng với tuờng kinh, bàn gỗ chia làm hai phòng, một

phòng ăn và một phòng bếp để nhân viên CN ăn trưa tại đây.

Trừ các tầng là kho và tầng nhà ăn ra, mỗi tầng đều có ít nhất là 5

camera giám sát, 3 máy in/scan, 1 máy fax, 2 điều hòa áp trần, 1 màn hình

LCD cỡ lớn. Riêng tầng 1 được trang bị thêm một bảng lãi suất hiện hành

điện tử, giá treo poster quảng bá sản phẩm, quầy lễ tân và 15 camera để

giám sát sát sao hoạt động giao dịch và hoạt động ra vào kho quỹ. Để đảm

bảo vấn đề tiếp quỹ, nhận tiền, CN có trang bị 5 xe chuyển tiền bọc thép cả

cỡ lớn và cỡ nhỏ. Tổng nguyên giá TSCĐ của CN Thăng Long tính đến hết

năm 2018 đã lên tới 1.268 tỷ đồng. Hao mòn TSCĐ mỗi năm trung bình 253

tỷ đồng. Như vậy, có thể thấy, cơ sở vật chất của CN Thăng Long hoàn toàn

đầy đủ, đảm bảo an toàn an ninh tuyệt đối.

2.2 Hoạt động kinh doanh tại CN Thăng Long NH LVP:

2.2.1 Một số hoạt động kinh doanh tại CN Thăng Long NH LVP:

Hệ thống ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế và bức tranh hoạt

động của ngành ngân hàng cũng là lăng kính phản ánh nhiều khía cạnh của

nền kinh tế.Nền kinh tế muốn khỏe thì hệ thống ngân hàng và các doanh

nghiệp phải khỏe. Ngược lại, hệ thống ngân hàng và các doanh nghiệp muốn

khỏe, phải có cơ chế phù hợp và hoạt động tài khóa phải tốt, hạn chế tối đa

rủi ro. Điều này cho thấy, hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng là vô

cùng quan trọng, bởi nó ảnh huởng trực tiếp đến nền kinh tế. NH LVP luôn

chú trọng đến các hoạt động kinh doanh của bản thân, vì vậy CN Thăng

Long cũng có những hoạt động kinh doanh ổn định nhất định.

a. Hoạt động thương mại dịch vụ:





Hoạt động huy động vốn: là một trong những chức năng của ngân

hàng thương mại. Vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ lệ lớn

23



trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Vì vậy nếu huy

động được nhiều vốn thì có thể mang lại lợi nhuận cao cho ngân

hàng cũng như có thể mở rộng hoạt động và cung cấp vốn cho

hoạt động kinh tế. Trên thị trường có rất nhiều loại KH khác nhau,

trong đó gồm có hai loại chính: KH là cá nhân và KH là đơn vị

kinh tế, doanh nghiệp Nhà nước, công ty TNHH, cơng ty cổ phần,

doanh nghiệp tư nhân. Vì thế các hình thức huy động vốn cũng rất

đa dạng để thích hợp với từng loại KH. CN Thăng Long hiện tại

tập trung vào hình thức huy động vốn dưới dạng phát hành các sản

phẩm gửi tiền vào NH để tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm, là nguồn tài

nguyên quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, khi một ngân

hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản

tiền gửi để giữ tiền, tài sản và thanh tốn hộ KH, bằng cách đó

ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân

cư. Cùng với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế và sự cạnh

tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại, CN Thăng Long

cùng với NH LVP đã có nhưng sản phẩm tiết kiệm phù hợp với

các đối tượng KH khách nhau (xem thêm mục 1.3). Tại CN hiện

đang diễn ra hoạt động kinh doanh các loại tiền gửi thanh tốn,

tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và tiền gửi tiết kiệm. Ngồi ra

còn có một khoản khơng nhỏ là tiền gửi của các ngân hàng khác.





Hoạt động cho vay là một hoạt động kinh doanh chủ chốt của CN

Thăng Long để tạo ra lợi nhuận. Các khoản cho vay thường chiếm

tỷ trọng lớn từ 60-80% tổng số tài sản có của CN và đem lại hơn

60% doanh lợi cho CN. Đại bộ phận tiền huy động được ngân

hàng cho vay theo 2 loại chính là cho vay ngắn hạn và cho vay

trung – dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất,

kinh doanh, dịch vụ, đời sống. CN Thăng Long hiện đang áp dụng

các hình thức cho vay như cho vay từng lần, cho vay theo dự án

đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức

tín dụng,…với các sản phẩm đa dạng phong phú tùy nhu cầu của

KH (Xem thêm tại mục 1.3)



24







Hoạt động phục vụ nhu cầu thanh tốn của KH: Hiện CN Thăng

Long đang có hai hình thức thanh tốn phí dịch vụ giúp KH như

sau:

 Dịch vụ thu hộ KH: là dịch vụ mà NH LVP làm trung gian thu

hộ tiền từ KH cho các đơn vị nhờ thu.

 Dịch vụ chi hộ KH: là dịch vụ mà NH LVP làm trung gian chi

trả tiền cho KH theo yêu cầu của các đơn vị nhờ thu.







Hoạt động kinh doanh ngoại tệ: Là hoạt động mua và bán ngoại tệ

có thể là tiền mặt hoặc diễn ra các loại giao dịch trên tài khoản

bằng ngoại tệ. Hiện tại, CN Thăng Long chủ yếu phụ trách mua và

bán ngoại tệ bằng tiền mặt, chưa thực hiện việc giao dịch bằng

ngoại tệ.



b. Hoạt động marketing:





Chính sách dịch vụ:

Là một ngân hàng phát triển theo hướng đa dạng hóa, NH LVP

tham gia vào rất nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng tập

trung vào những nhóm sản phẩm cơ bản sau:

 Dịch vụ tín dụng, bảo lãnh.

 Dịch vụ huy động vốn.

 Dịch vụ thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại.

 Dịch vụ thanh toán thẻ quốc tế và nội địa: Visa, Master, …

 Nhóm dịch vụ ngân hàng điện tử:

banking, Mobile banking, SMS banking…



POS,



Internet



 Nhóm dịch vụ có thu phí khác: Kiều hối, chuyển tiền trong

nước, thu đổi ngoại tệ, thu chi tiền mặt tại đơn vị…



25







Chính sách giá: NH LVP CN Thăng Long định giá theo các căn

cứ, quy định về lãi suất, phí dịch vụ của NH LVP và tham khảo giá

của các đối thủ cạnh tranh trên địa bàn thành phố Hà Nội.







Chính sách phân phối: Hiện tại có hai kênh phân phối trực tiếp và

gián tiếp. Kênh phân phối trực tiếp được chia thành hai kênh

phân phối truyền thống và hiện đại.







Chính sách truyền thơng, cổ động:

Chính sách truyền thơng, cổ động hiện tại chỉ được chú ý vài năm

trở lại đây cho phù hợp với môi trường kinh doanh. Tuy vậy việc

thực hiện vẫn còn chưa đồng bộ và thiếu tính chuyên nghiệp.



Như vậy, có thể thấy, hoạt động kinh doanh của CN Thăng Long rất đa

dạng, có mặt ở mọi phuơng diện, nhắm tới mọi nhu cầu của KH.

2.2.2 Thị trường kinh doanh của CN Thăng Long NH LVP:

Thị trường thường được phân khúc thành các đoạn thị trường nhỏ hơn,

mục địch giúp doanh nghiệp nhận định và định hướng rõ ràng thị trường

mục tiêu và đối tượng KH của mình là gì. Từ lâu, các nhà kinh doanh NH đã

nhận thức rõ ràng sự cần thiết của việc phải phân khúc thị trường, lựa chọn

thị trường mục tiêu, định vị sản phẩm của mình. NH LVP cũng khơng ngoại

lệ.. Cùng với việc xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của KH ngày càng

tăng lên, NH nhận thấy cần có những định hướng về thị trường cụ thể, từ đó

đưa ra việc phân đoạn thị trường cụ thể rõ ràng giành cho những KH khách

nhau. Giống như thị truờng mà NH LVP hướng đến, CN Thăng Long cũng

có chung mục tiêu hướng đến các đối tuợng KH như sau:

a. KH cá nhân:





KH cá nhân theo giới tính:



Hiện nay, phụ nữ ngày càng tham gia nhiều vào các công tác xã

hội, chính trị, kinh tế, vì vậy cũng càng thêm được ưu tiên nhiều hơn.

Vào các ngày lễ lớn giành cho phụ nữ, CN Thăng Long ln có những

chương trình quà tặng giành riêng, các chương trình tăng lãi suất tiền

gửi giành riêng cho nữ. Đồng thời có những dịch vụ thanh tốn tiêu

26



dụng tiện ích cho phụ nữ mỗi khi đi mua sắm, đảm bảo sự tiện lợi cho

những đối tượng KH này.





KH cá nhân phân theo độ tuổi:



Đối với phân khúc thị trường này, CN Thăng Long lại tập trung

hơn cả đối với hai đối tượng là người cao tuổi và trẻ em với những

chương trình đặc biệt. Đối với người cao tuổi, sản phẩm Tiết kiệm An

nhàn tuổi hưu đã giành được rất nhiều ưu ái của KH. Đối tượng gửi

tiết kiệm này đa phần đều là người cao tuổi có tự chủ về kinh tế hoặc

người thân gửi tiết kiệm cho cha mẹ, ông bà. Mặt khác, CN Thăng

Long còn phát triển NH thế hệ mới, giành riêng cho KH dưới 18 tuổi,

với các sản phẩm như sản phẩm tiết kiệm Hoa Trạng Nguyên, nhằm

giúp các em học cách chi tiêu hợp lý hoặc bố mẹ muốn tiết kiệm

khoản riêng giành cho con cái mình; các khoản cho vay du học phục

vụ có các em muốn đi du học nhưng lại có vấn đề về tài chính,… Đây

là mảng NH được đánh giá vơ cùng tích cực của NH LVP, tuy nhiên,

tại CN Thăng Long thì mảng này lại không quá phát triển mà tập trung

phát triển ở phân khúc thị trường khác.







KH phân theo thu nhập:



Xã hội ngày càng phát triển, mức thu nhập của người dân cũng

ngày càng tăng lên, vì vậy việc các NH chú trọng vào phân khúc thị

trường có những KH VIP đã khơng còn hiếm lạ. CN Thăng Long nói

riêng cũng như NH LVP nói chung cũng đưa là những chính sách ưu

đãi về lãi xuất giành cho các KH ưu tiên. Các KH này thường sẽ luôn

sẽ nhận được quà từ CN những ngày lễ, Tết lớn, cũng các chương

trình ưu đãi kèm theo.







KH phân theo hành vi:



Nhu cầu càng nhiều thì các sản phẩm phù hợp cũng ra mắt càng

nhiều. CN Thăng Long NH LVP hỗ trợ các khoản cho vay tiêu dùng

với mức lãi suất hợp lý, cho vay đến 80% vốn cần thiết. Ngồi ra còn

có hoạt động thanh toán thu chi tiền điện, nước, BHXH,…giúp KH.

Hiện tại, đối với những phân đoạn thị trường này, CN Thăng Long

NH LVP đang lựa chọn phân khúc KH phân theo hành vi để tập trung

27



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐÔNG KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CỦA NH TMCP BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×