Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHẬN XÉT – RÚT RA KẾT LUẬN

NHẬN XÉT – RÚT RA KẾT LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA



KHOA CƠ KHÍ

BỘ MƠN THIẾT BỊ & CNVL CƠ KHÍ



BÀI BÁO CÁO

XEM CẤU TRÚC TẾ VI



SVTH



: NGUYỄN ĐỨC HUY



MSSV



: 1711509



GV LÝ THUYẾT



: NGUYỄN THANH

HẢI

: L02-A



NHÓM HỌC LÝ

THUYẾT

NGÀY THỰC HÀNH

NHĨM THỰC HÀNH



: Sáng - 12/4/2019

: Nhóm 1



TP. HCM, THÁNG 04 NĂM 2019



BÀI 2. XEM CẤU TRÚC TẾ VI

1. MỤC TIÊU THÍ NGHIỆM

- Phương pháp làm mẫu để nghiên cứu tổ chức tế vi gồm các khâu: chọn mẫu,

cắt mẫu, mài, đánh bóng và tẩm thực.

- Tầm quan trọng của công tác chuẩn bị mẫu và ảnh hưởng của nó đến kết quả

nghiên cứu.

- Làm quen với những vật liệu và thiết bị cần thiết cho công việc làm mẫu.

- Chọn dung dịch tẩm thực cho thích hợp.

2. TÓM TẮT LÝ THUYẾT

Để nghiên cứu tổ chức tế vi của kim loại, người ta dùng một thiết bị quang

học đặc biệt gọi là kính hiển vi kim tương. Phương pháp dùng kính hiển vi

kim tương để đánh giá, phân tích tổ chức tế vi gọi là phương pháp phân tích

kim tương.

Kính hiển vi kim tương có độ phóng đại từ 80 đến 2000 lần.

Nhờ kính hiển vi, ta có thể quan sát được tổ chức của các pha, sự phân bố,

hình dáng và kích thước của chúng. Với gang, ta dễ dàng xác định hình dáng,

kích thước của graphit. Ngồi ra, ta còn có thể thấy được các khuyết tật của

vật liệu như: nứt tế vi, rỗ và các tạp chất.

a) Chọn và cắt mẫu

Tùy theo nhiệm vụ nghiên cứu và thí nghiệm mà chúng ta chọn mẫu. Yêu

cầu mẫu phải đặc trưng cho vật cần nghiên cứu.

Mẫu nên ủ để có thể thể hiện các pha tốt hơn.

Mẫu có dạng hình trụ với kích thước Ф 10 ÷ 15mm, chiều cao h= 15

÷20mm, hoặc hình hộp có kích thước 10 x 10 x 10mm và 15 x 15 x 15mm.

b) Mài mẫu

Mẫu sau khi cắt được mài thô trên đá mài hoặc giấy nhám từ thô đến mịn.

Các giấy nhám thường được đánh số từ nhỏ đến lớn. Số càng lớn thì độ

hạt của giấy càng mịn. Ví dụ: 80, 100, 150, 180…400 là các số thông dụng.

c) Đánh bóng

Để đánh bóng mẫu, người ta tiến hành trên máy đánh bóng. Cũng tương

tự như ở máy mài thơ, người ta gắn một miếng dạ hay nỉ lên trên, khi đánh

bóng, người ta phải cho dung dịch mài nhỏ liên tục lên miếng nỉ.



Đánh bóng kéo dài cho dến khi bề mặt khơng còn vết xước nào. Khơng

nên đánh bóng quá lâu, dễ làm tróc các pha quá cứng hoặc q mềm. Nếu

thấy trên kính hiển vi vẫn còn nhiều vết xước thì nên đánh bóng lại.

d) Đánh bóng bằng dung dịch

Nguyên tắc của đánh bóng điện phân là dùng phương pháp hòa tan anod

trong dung dịch điện phân dưới tác dụng của dòng điện một chiều.

Tùy theo chế độ điện, mà ta có thể đánh bóng và tẩm thực mẫu ngay trên

máy.

Đánh bóng điện phân có ưu điểm là rất bóng và khơng tạo ra lớp biến

dạng trên bề mặt mẫu, thời gian tương đối nhanh.

e) Tẩm thực

Mẫu sau khi đánh bóng, đem rửa sạch, thấm và sấy khơ rồi quan sát trên

kính hiển vi. Ta có thể thấy trên mẫu có cá vết xước nhỏ do đánh bóng chưa

tốt, các vết nứt tế vi, rỗ khí, xỉ tạp chất, một số pha và tổ chức như cacbit,

graphit, chì…

Tẩm thực là q trình ăn mòn bề mặt mẫu bằng các dung dịch háo học

thích hợp, gọi là dung dịch tẩm thực. Khi tẩm thực, biên giới các pha, các

vùng tổ chức sẽ bị ăn mòn, nhưng với những tốc độ khác nhau. Sau khi tẩm

thực bề mặt mẫu sẽ lồi, lõm tương ứng với các pha và tổ chức. Do đó, có thể

nhận biết được hình dáng, kích thước và sự phân bố của các pha.

3. NỘI DUNG THÍ NGHIỆM

- Đầu tiên nhận được mẫu và các loại giấy nhám 400, 600, 800, 1000 và

1200.

Ta lần lượt mài mẫu theo thứ tự giấy nhám từ thấp lên cao.

-Đầu tiên vơi giấy mài 400, ta giữ phôi sao cho bề mặt mẫu áp sát vào

giấy nhám và mài từ trên xuống theo 1 chiều. Liên tục mài như thế từ 3-4

phút cho mẫu có các vết xước dọc song song nhau.

-Tiếp theo, ta xoay mẫu 900 và tiến hành các bước trên. Mài đến khi nào

các vết xước cũ bị xóa đi và tạo thành các vết xước mới song song với nhau.

-Tiếp theo là giấy nhám 600, cũng thực hiện các bước như với giấy nhám

400 với thời gian 10 phút

-Tiếp theo là giấy nhám 800, cũng thực hiện các bước như với giấy nhám

400 với thời gian 15 phút



-Khi hoàn thành mài với 3 loại giấy nhám trên, ta tiến hành đánh bóng mẫu bằng giấy

nhám 1000 và 1200. Ta gắn giấy nhám 1000 và 1200 lên bàn quay, mở máy và mở

nước. Giữ chặt mẫu, áp mẫu xuống mặt giấy nhám, giữ ở đó khoảng 10 giây cho mỗi

loại giấy. Khi hồn thành, ta lấy bơng khơ lau khơ và sạch bề mặt

-Sau đó đem mẫu quan sát dưới kính hiển vi, nếu quan sát thấy ít vết xước nhỏ, các vết

nứt tế vi, rỗ khí, xỉ tạp chất, một số pha và tổ chức như cacbit, graphit, chì… thì đạt.

-Chụp và lưu hình sau đánh bóng: Họ và tên - MSSV

-Sau đó ta tiến hành tẩm thực, chọn vị trí có ít vết xước và quan sát trên kính hiển vi

sang nhất. Lấy bơng tẩm HNO3 thoa đều lên mặt đánh bóng của mẫu, thoa đều

khoảng 30 giây. Lấy mẫu nhúng vào nước. Sau đó lấy bông tẩm cồn thoa đều lên mặt

và lau khô.

-Đem quan sát dưới kính hiển vi. Nếu các đường biên giới rõ rang, độ tương

phản tốt là đã hoàn thành quá trình tẩm thực

-Chụp và lưu ảnh sau tâm thực :họ và tên - MSSV

4. HÌNH ẢNH TRƯỚC VÀ SAU TẨM THỰC

TRƯỚC KHI TẨM THỰC



SAU KHI TẨM THỰC



5. NHẬN XÉT – RÚT RA KẾT LUẬN

Dựa trên tổ chức tế vi của mẫu được nhận(ảnh mẫu sau khi tẩm thực), ta có thể đưa

ra kết kết quả như sau:

Mẫu là thép trước cùng tích với tỉ lệ cacbon vào khoảng 0.6%

Theo tính tốn từ qui tắc đòn bẩy, khi lượng cacbon tang lên thì tỷ lệ phần Peclit

(màu tối) trong tổ chức tăng lên, còn ferric (phần sáng) giảm đi. Nếu khơng chứa

cacbon hay q ít cacbon (0.02-0.05) tức là màu sáng hồn tồn. Với 0.1% C thì tỷ lệ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHẬN XÉT – RÚT RA KẾT LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×