Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 4.1: Mức độ hiểu biết của người dân về tiêu dùng tiêu vững

Hình 4.1: Mức độ hiểu biết của người dân về tiêu dùng tiêu vững

Tải bản đầy đủ - 0trang

xét rằng chưa



149



bao giờ nghe nói đến tiêu dùng xanh/sạch hoặc cũng chỉ nghe qua tên gọi trên

tivi còn khơng biết nội dung cụ thể thế nào (Hình 4.1).

Điều này cho thấy nhận thức của người dân về tiêu dùng bền vững vẫn

còn hạn chế. Các cơng cụ chính sách đề ra để thúc đẩy tiêu dùng bền vững đã

có, tuy nhiên kết quả của nó mang lại còn chưa rõ ràng. Cơng cụ hành chính (các

văn bản chiến lược, quy hoạch phát triển KT-XH của Đảng, Nhà nước) mang tính

đường lối chính sách chung là chủ yếu mà chưa có biện pháp cụ thể hướng dẫn

thực hiện cũng như kiểm tra giám sát, đánh giá kết quả. Công cụ kinh tế lại chưa

đủ mạnh để thay đổi hành vi của nhà sản xuất và người tiêu dùng. Truyền thông

là cơng cụ chính sách được thực hiện đầu tiên trong các chương trình, dự án

nhằm giáo dục nâng cao nhận thức cho các bên liên quan đến các vấn đề của tiêu

dùng bền vững. Có nhiều chương trình dự án được triển khai nhằm thúc đẩy

hành vi tiêu dùng bền vững ở Việt Nam như Dự án Sống xanh (Get green), dự

án sản xuất sạch hơn trong công nghiệp, dán nhãn xanh đối với các thiết bị

điên tử, dán nhãn năng lượng... được triển khai đã phần nào nâng cao nhận

thức của người dân trong việc tiêu dùng sản phẩm hàng hóa dịch vụ thúc đẩy tiêu

dùng bền vững.

4.2.Quan điểm về sử dụng cơng cụ kinh tế trong chính sách thúc đẩy tiêu

dùng bền vững dân cư

Công cụ kinh tế dựa vào thị trường là xu thế chủ đạo trong thực hiện các

chính sách vì mơi trường trên thế giới

Hiện nay, tồn cầu hóa tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc

tế đang diễn ra ngày càng sâu sắc. Các thể chế quốc tế ngày càng hoàn thiện, tạo

điều kiện cho các nền kinh tế thâm nhập lẫn nhau. Tự do hóa thương mại tạo

điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa giữa các nước, đồng thời tạo thêm

nhiều cơ hội cho người tiêu dùng trong việc tiếp cận với thị trường hàng hóa. Cùng

với quá trình phát triển kinh tế, thu nhập của người tiêu dùng ngày một nâng cao

nên nhu cầu sử dụng hàng hóa chất lượng cao, thân thiện với mơi trường ngày

150



càng gia tăng. Người tiêu dùng đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong

việc lựa chọn và sử dụng những sản phẩm hàng hóa thúc đẩy tiêu dùng bền vững.



151



Sự can thiệp của chính phủ, thơng qua hệ thống chính sách là cần thiết

do những lợi ích đối với xã hội lớn hơn những chi phí mà mỗi hộ gia đình, mỗi cá

nhân phải bỏ ra xét trên phương diện bảo vệ môi trường, bảo vệ cơ hội tiêu dùng

của các thế hệ tương lai. Một vấn đề đặt ra đối với sự can thiệp là tính hiệu quả.

Nói cách khác, trong bối cảnh phát triển của một nền kinh tế đang chuyển đổi,

chính phủ giải quyết như thế nào thách thức bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác

động tiêu cực từ quá trình tiêu dùng hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo các hộ gia

đình, các cá nhân được thoả mãn tốt nhất các nhu cầu tiêu dùng của họ, đảm

bảo cho q trình tiêu dùng bền vững.

Cơng cụ kinh tế dựa trên cơ sở các yếu tố thị trường khác với các cơng cụ khác

ở chỗ nó đảm bảo sự minh bạch trên cơ sở điều chỉnh hành vi cá nhân dựa theo

tín hiệu của thị trường và lơi kéo được sự tham gia một cách tích cực và chủ động

của các thành phần kinh tế từ Nhà nước cấp trung ương, các cấp chính

quyền địa phương, nhà sản xuất cho đến những người tiêu dùng cuối cùng trên thị

trường hàng hóa. Trên thế giới việc sử dụng công cụ kinh tế dựa trên cơ sở các yếu

tố thị trường trong bảo vệ môi trường là xu thế chủ đạo và đang ngày càng được

mở rộng. Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, việc sử dụng công cụ kinh tế dựa

vào các yếu tố thị trường trong chính sách nói chung và chính sách thúc đẩy tiêu

dùng bền vững nói riêng là rất quan trọng và cần thiết. Điều này cũng phù hợp với

xu thế chung của thế giới và việc chuyển đổi nền kinh tế mang tính hành chính,

mệnh lệnh sang nền kinh tế thị trường hiện đang thực hiện ở Việt Nam kể từ

những năm 1990 sau khi áp dụng chính sách “đổi mới”. Hơn nữa, việc áp đặt hành

chính ngày nay đã khơng còn phù hợp mà cần phải dựa trên cơ sở điều chỉnh hành

vi tiêu dùng và sản xuất.

Việt Nam có điều kiện học hỏi kinh nghiệm các nước trong việc sử dụng

công cụ kinh tế nhằm thúc đẩy tiêu dùng bền vững

Để triển khai có hiệu quả hoạt động thúc đẩy tiêu dùng bền vững, trong

thời gian tới, Việt Nam cần có các chính sách cũng như các hành động cụ thể với

152



mục tiêu: Giảm tiêu dùng nguyên liệu và năng lượng trong toàn bộ hệ thống sản

xuất và tiêu dùng bằng cách tăng hiệu quả sử dụng; thay đổi và tối ưu hóa mơ hình

sản xuất



153



và tiêu dùng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Các nhiệm vụ cụ thể bao gồm:

(a) Xây dựng các chính sách cụ thể liên quan đến tiêu dùng bền vững; (b) Nâng cao

nhận thức của xã hội, cộng đổng đối với việc sử dụng sản phẩm hàng hóa thân

thiện với mơi trường; (c) Tạo cơ chế thúc đẩy phát triển các công nghệ, dịch vụ

và sản phẩm thân thiện môi trường; (d) Cung cấp thông tin sản phẩm cho người

tiêu dùng;

(e) Cần giáo dục nâng cao nhận thức, từ đó dần chuyển đổi hành vi người tiêu

dùng đối với vấn đề tiêu dùng bền vững.

Các cơng cụ chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững đã được triển khai

tuy nhiên còn chưa có sự đồng bộ, hiệu quả mang lại chưa cao. Công cụ hành

chính, luật pháp còn chung chung chưa có hướng dẫn cụ thể về việc triển khai

thực hiện cũng như việc giám sát đánh giá còn thiếu và yếu. Bên cạnh đó, cơng cụ

hành chính ban hành tại từng thời điểm còn thiếu cơ sở thực tế nên tính hiệu lực

thấp. Cơng cụ kinh tế chưa được tính tốn đầy đủ về chi phí và cơ hội để phát huy

tác dụng của nó. Cơng cụ giáo dục truyền thơng đang dần thay đổi thái độ và

hành vi của người tiêu dùng nhưng nó cần được kết hợp với các cơng cụ khác sẽ

mang lại hiệu quả cao hơn.

Việc áp dụng các cơng cụ kinh tế dựa vào thị trường có thể đem lại những

hiệu quả mong đợi với mức chi phí thấp nhất có thể, điều này thực sự rất quan

trọng đối với một đất nước đang phát triển có nguồn lực tài chính hạn chế,

thâm hụt ngân sách và nợ công cao như Việt Nam hiện nay. Việt Nam cần phải ưu

tiên các nguồn lực để duy trì năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, chính

vì vậy khơng như các cơng cụ hành chính, pháp luật khác đòi hỏi qui trình pháp

lý quan liêu, cồng kềnh, các cơng cụ khuyến khích kinh tế trong hoạt động quản

lý môi trường thúc đẩy tiêu dùng bền vững giúp tạo ra doanh thu, tránh lãng phí

ngân sách. Có nhiều các cơng cụ kinh tế khác nhau trong nhóm các cơng cụ kinh

tế dựa trên cơ sở các yếu tố thị trường có thể được áp dụng trong điều kiện và

hồn cảnh kinh tế xã hội của Việt Nam. Mỗi công cụ chính sách đều có thể được

áp dụng một cách linh hoạt và có nhiều các khả năng kết hợp các công cụ khác

136



nhau để tạo ra hiệu quả thực tiễn tốt nhất.

Việt Nam là nước đi sau nên cần và có điều kiện học hỏi, tham khảo thêm

kinh nghiệm của các nước đi trước về việc thiết kế, thực thi chính sách. Cần

phải tính



137



tốn kỹ các rủi ro và điều kiện khi thực hiện chính sách bởi lẽ có thể một số những

cơng cụ chính sách trong một số hoàn cảnh điều kiện kinh tế xã hội nhất định sẽ

gây ảnh hưởng và làm giảm hiệu quả của các công cụ khác. Thực tế cho tế, các

công cụ kinh tế có tính phân hóa tương đối mạnh vì trong một số trường hợp

việc áp dụng các biện pháp kinh tế sẽ đẩy mức giá cả của hàng hóa lên cao. Tuy

nhiên, việc lựa chọn đúng các công cụ kinh tế và kết họp các công cụ kinh tế dựa

trên cơ sở các yếu tố thị trường với các công cụ chính sách khác sẽ giúp làm

giảm đi những khiếm khuyết của thị trường và sai lệch trong định giá chi phí vốn

là nguyên nhân gây ra hạn chế trong việc phân bố nguồn lực và làm giảm phúc

lợi xã hội. Mức độ phát triển và cơ cấu kinh tế sẽ là những yếu tố rất quan trọng

quyết định đến nhu cầu và khả năng thực thi các công cụ chính sách bởi lẽ đây là

những yếu tố cơ bản tạo nên văn hóa và tổ chức xã hội.

Việt nam vẫn là một đất nước đang phát triển, nền kinh tế dựa nhiều vào

nông nghiệp, và các ngành công nghiệp quy mô nhỏ và vừa hơn nữa khu vực kinh

tế phi chính thức vẫn tồn tại. Bởi vậy, các cơng cụ hành chính và luật pháp chính

là các tiêu chuẩn hiệu lực và trên cơ sở đó các cơng cụ kinh tế dựa vào các

yếu tố thị trường chẳng hạn như các loại phí mơi trường, các cơng cụ khuyến

khích kinh tế sẽ có thể phát huy được hết các tác dụng nhằm tiết kiệm chi phí,

phân bổ lại hợp lý các nguồn lực và phát huy tính sáng tạo,chủ động và tham gia

tích cực của các thành phần kinh tế trong xã hội.

Đối với chính sách hạn chế sử dụng túi ni lơng hay khuyến khích sử dụng xăng

E5, việc thiết kế chính sách còn nhiều bất cập nên chưa mang lại hiệu quả. Cần có

sự tính tốn kỹ lưỡng hơn trong khâu thiết kế và đánh giá sơ bộ tính khả thi,

hiệu lực thực thi chính sách để đưa ra giải pháp phù hợp hơn trước khi ban hành.

Cần có sự kết hợp với các cơng cụ chính sách khác

Đối với việc sử dụng công cụ kinh tế thì cần nhấn mạnh điều kiện thực hiện

thành cơng chính sách. Trước hết là cần có sự phối hợp với các cơng cụ khác và cần

138



có lộ trình bước đi phù hợp. Để thay đổi hành vi của cá nhân thì cần từng bước

nâng



139



cao nhận thức, hiểu biết và tạo cơ chế, mơi trường phù hợp. Thiết kế cơng cụ

chính sách đưa vào thực hiện cần có sự tính tốn đến lợi ích của các bên liên

quan. Đến thời điểm thích hợp, khi các điều kiện đã đáp ứng được thì việc sử

dụng cơng cụ hành chính để ép buộc sẽ mang lại hiệu quả hơn. Ngồi việc ban

hành chính sách thì các văn bản hướng dẫn cụ thể trong việc triển khai và quá

trình lập kế hoạch, giám sát và đánh giá sẽ tạo điều kiện để thực thi các chính sách

được tốt hơn.

4.3.Giải pháp về sử dụng cơng cụ kinh tế trong chính sách thúc đẩy tiêu dùng

bền vững của dân cư

4.3.1. Giải pháp chính sách hạn chế sử dụng túi ni lông

Túi ni lông là một loại bao bì tiện lợi và phổ biến nhưng song song với ưu

điểm này là những ảnh hưởng nghiêm trọng của nó đến mơi trường, xã hội, kinh

tế đất nước và cả con người. Để hạn chế sử dụng túi ni lơng cần phải có những

chính sách phù hợp và theo lộ trình nhất định. Các cơng cụ chính sách đang áp

dụng ở nước ta đặc biệt là công cụ kinh tế chưa phát huy hiệu quả bởi nhiều lý do,

công cụ thuế chưa đủ mạnh để gây ảnh hưởng tới hành vi người tiêu dùng, công

cụ truyền thông chưa đủ mạnh và thường xun, còn cơng cụ hành chính thì còn

thiếu nhiều điều kiện về mơi trường cũng như hành lang pháp lý trong quá trình

thực thi giám sát. Để hạn chế việc sử dụng túi ni lông trong thời gian tới, một số

giải pháp được đề cập đến mang tính chất tham khảo cho các nhà hoạch định chính

sách như sau:

Quy định cấm các nhà bán lẻ phân phối miễn phí túi ni lơng cho khách hàng

Mục tiêu của các quy định này là buộc các nhà bán lẻ yêu cầu khách hàng trả

tiền cho túi ni lông đựng hàng hoặc chuyển sang sử dụng các loại túi thay thế

nhằm thay đổi thói quen sử dụng túi ni lơng của khách hàng với một lộ trình phù

hợp, theo đó các đối tượng thuộc quy định này sẽ được mở rộng dần. Quy định

này có thể bắt đầu áp dụng đối với các siêu thị và trung tâm thương mại sau đó

tới các cửa hàng đại lý và các chợ. Việc khách hàng phải bỏ tiền ra để chia sẻ chi

140



phí sử dụng túi ni lơng sẽ khiến khách hàng phải dần thay đổi hành vi của mình.

Tuy nhiên mức giá khách hàng phải trả cho việc sử dụng túi ni lơng là bao nhiêu

thì cần phải được tính tốn cụ thể hơn để giá trị đó có thể đủ lớn khiến người dân

thay đổi hành vi.



141



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 4.1: Mức độ hiểu biết của người dân về tiêu dùng tiêu vững

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×