Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.1: Tổng hợp công cụ chính sách về hạn chế sử dụng túi ni lông

Bảng 3.1: Tổng hợp công cụ chính sách về hạn chế sử dụng túi ni lông

Tải bản đầy đủ - 0trang

Cơng cụ

kinh tế



Thuế



Quy định về thu

thuế 30-50 nghìn

đồng/kg đối với

túi ni lông loại

nhỏ, mỏng



2010



Nhà sản xuất



Không thay đổi

nhiều do giá

thành của túi

ni lơng vẫn q

rẻ so với

những tiện ích

của nó mang



Cơng cụ

hành

chính



Đề án kiểm

sốt ơ

nhiễm mơi

trường



Quy định cấm sản 2013

xuất một số loại

túi ni lơng,

khuyến khích sử

dụng sản phẩm

tái chế, đưa nội

dung giáo dục

nâng cao nhận

thức BVMT vào

chương trình



Nhà sản xuất,

nhà phân

phối, người

tiêu dùng



Chưa thay đổi

nhiều



Cơng cụ

hành

chính



Cấm sử

dụng túi ni

lơng ở Đảo

Cù Lao

Chàm



Người tiêu

dùng



Công cụ

truyền

thông



Nâng cao

nhận

thức



2009

Quy định hành

khách và người

dân địa phương

khơng đượcdụng

túi ni lơng ở trên

đảo

Thơng qua các

chương trình, dự

án: Dự án sống

xanh; chương

trình “hạn chế sử

dụng túi ni lơng

vì mơi trường” ở

Hà nội từ năm

2009, Chương

trình tryền

thơng”khơng sử

dụng túi ni lông”

của Hội sinh viên

Việt Nam.



Người dân

đảo Cù Lao

Chàm đã dần

từ bỏ thói

quen sử dụng

túi ni lơng.

Nâng cao nhận

thức của người

tiêu dùng về

tác hại của túi

ni lông, tuy

nhiên chưa

thay đổi hành

động của

người tiêu

dùng.



Người tiêu

dùng



Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ internet.

Thực tế vận hành của các chính sách hạn chế sử dụng túi ni lông ở Việt

Nam cho thấy: đối với công cụ thuế, mức thuế áp dụng đối với túi ni lông ảnh

hưởng đến môi trường dường như chưa hợp lý bởi giá thành của túi ni lông vẫn

q rẻ so với những tiện ích của nó. Hơn thế nữa, nó thường được phát miễn phí

ở các địa điểm mua sắm, người tiêu dùng không phải trả chi phí. Cơng cụ hành



chính và



cơng cụ giáo dục truyền thơng đã phát huy tác dụng hơn trong chính sách về

tiêu dùng túi ni lông. Việc nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng về tác hại của

túi ni lông qua các biện pháp truyền thông, giáo dục nhằm dần thay đổi hành vi của

người tiêu dùng đối với loại sản phẩm này vẫn cần phải tiếp tục thực hiện. Tuy

nhiên hiệu quả của các công cụ này mang lại chỉ trong phạm vi hẹp (một chương

trình/dự án), trong giai đoạn thí điểm. Hơn thế nữa, từ nhận thức đến thay đổi

hành vi vẫn còn khoảng cách khá xa, vì thế biện pháp nào cho việc hạn chế tiêu

dùng túi ni lông gây ảnh hưởng tới môi trường vẫn đang là vấn đề nan giải.

Như vậy, có thể nói tình hình sử dụng túi ni lông ở Việt Nam hiện nay là

rất phổ biến. Người dân mặc dù đã nhận thức được tác hại của túi ni lông nhưng

vẫn chưa thay đổi được hành vi của mình do nhiều nguyên nhân trong đó có việc

chưa tìm thấy mặt hàng phù hợp thay vì thường xun sử dụng túi ni lơng. Nhiều

chính sách nhằm hạn chế việc sử dụng túi ni lông như đánh thuế môi trường đối

với loại hàng này, ban hành các quy định, đề án về việc hạn chế sử dụng túi ni

lơng nhằm kiểm sốt ơ nhiễm mơi trường đồng thời tuyên truyền vận động nâng

cao nhận thức để thay đổi hành vi sử dụng túi ni lông của người dân. Tuy nhiên,

kết quả vẫn chưa được như mục tiêu đề ra.

Từ kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới cho thấy việc về sử dụng các

công cụ kinh tế như thuế, phí đã mang lại thành công nhằm hạn chế sử dụng túi

ni lông. Ở Việt Nam công cụ thuế cũng được đưa vào sử dụng từ lâu nhưng vẫn

thất bại bởi mức thuế áp dụng là chưa phù hợp, túi ni lông ở Việt Nam vẫn

được phát miễn phí và tràn lan ở hầu hết các điểm mua sắm. Cơng cụ kinh tế như

việc tính phí sử dụng túi ni lơng chưa được áp dụng ở nước ta, đây là một cơng

cụ hữu ích đối với nhiều quốc gia trên thế giới, chúng ta nên học hỏi thêm về việc

áp dụng công cụ này nhằm hạn chế việc phát miễn phí túi ni lơng để thay đổi

hành vi của người sử dụng. Việc tìm hiểu và thăm dò ý kiến của người tiêu dùng

về các cơng cụ chính sách có thể được áp dụng nhằm hạn chế sử dụng túi ni lông

ở nước ta sẽ được mô tả kỹ hơn ở phần nghiên cứu thực nghiệm tại Thành phố Hà



nội ở phần sau.



3.1.2. Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội

Để tìm hiểu kỹ hơn về thực trạng sử dụng cũng như nhận thức của

người dân cùng với sự vận hành của các chính sách nhà nước liên quan đến việc

hạn chế sử dụng túi ni lông nghiên cứu đã tiến hành khảo sát trường hợp cụ thể ở

thành phố Hà Nội về vấn đề này.

Câu hỏi nghiên cứu đặt ra là: Mức độ sử dụng túi ni lông trong dân cư hiện

nay như thế nào? Nhận thức của người dân về tác hại của túi ni lông ra sao?

Làm thế nào để hạn chế việc sử dụng túi ni lông trong dân cư?

Giả thuyết nghiên cứu: Hiện nay túi ni lông được sử dụng rất phổ biến

trong dân cư, người dân đã nhận thức được tác hại của việc sử dụng túi ni

lông nhưng chưa thể thay đổi được hành vi do chưa có loại túi nào có thể thay

thế được túi ni lơng. Để hạn chế việc sử dụng túi ni lông, cần phải có giải pháp về

loại hàng thay thế loại túi này và áp dụng công cụ kinh tế phù hợp để người dân

thay đổi hành vi dựa trên sự cân nhắc giữa lợi ích và chi phí khi sử dụng túi ni lông.

Nghiên cứu đã tiến hành điều tra khảo sát bằng bảng hỏi 100 người

tiêu dùng về hành vi sử dụng túi ni lông, nhận thức và ý kiến của người dân về các

giải pháp hạn chế sử dụng túi ni lông. Những người tham gia phỏng vấn được lựa

chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên giản đơn. Kết quả khảo sát được xử

lý bằng phần mềm SPSS.

Kết quả khảo sát về mức độ sử dụng túi ni lông trong dân cư

Nghiên cứu đã sử dụng câu hỏi “Mức độ sử dụng túi ni lông của ông/bà hiện

nay” và “Mức độ sử dụng túi ni lông hiện nay ở khu vực ông/bà sinh sống” qua bốn

nấc thang đo “Rất ít”, “ít”, “khá nhiều” và “rất nhiều” để đánh giá về hiện trạng sử

dụng túi ni lông trong cộng động dân cư. Kết quả cho thấy, sử dụng túi ni lông là

một hành vi phổ biến trong cộng đồng dân cư. Khi được hỏi về mức độ sử dụng

túi ni lông trong cuộc sống hàng ngày của bản thân, có tới 55% người trả lời

khẳng định rằng sử dụng khá nhiều và 15% sử dụng rất nhiều. Chỉ có 24% người

trả lời rằng họ sử dụng ít và 6% số người được hỏi sử dụng rất ít.



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2017

Hình 3.1: Hiện trạng sử dụng túi ni lông

Khi đánh giá về mức độ sử dụng túi ni lơng trong cộng đồng, có tới 53%

người được hỏi cho biết hiện tại cộng đồng dân cư đang sử dụng rất nhiều và

43%sử dụng khá nhiều túi ni lông. Người sử dụng túi ni lơng ít và rất ít chiếm tỷ lệ

rất thấp, tương ứng với 4% ít và 1% rất ít. Nghiên cứu khơng tìm thấy sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê giữa Giới tính; Tuổi; Học vấn; Nghề nghiệp và Thu nhập.



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2017

Hình 3.2: Tần suất sử dụng túi ni lơng trong 1 tuần



Để cụ thể hoá về số lượng túi ni lông được sử dụng, khảo sát đã thu thập

số lượng cụ thể túi ni lơng sử dụng trung bình trong một tuần của bản thân

người trả lời. Kết quả cho thấy, tần suất sử dụng túi ni lông trung bình rơi vào

từ 5-40 túi trong một tuần, trong đó tỷ lệ người trả lời sử dụng từ 5-10 túi cao

nhất với 32%, tiếp theo đó là tỷ lệ cao tương đương với số người trả lời sử dụng

túi ni lông từ 10- 20 túi trong một tuần là 31%. Số người trả lời sử dụng trên 40 túi

ni lông trong một tuần cũng chiếm tỷ lệ khá cao 22% trong khi đó tỷ lệ người trả

lời sử dụng ít hơn 5 túi ni lông trong một tuần chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ có 7%.

Tìm hiểu về tương quan giữa giới tính, tuổi, học vấn, nghề nghiệp và thu

nhập với mức độ sử dụng túi ni lông trong một tuần, nghiên cứu nhận thấy khơng

có sự khác biệt giữa giới tính, học vấn và thu nhập với mức độ sử dụng túi ni

lơng trong một tuần. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa tuổi và nghề nghiệp về mức

độ sử dụng túi ni lông trong một tuần.

Bảng 3.2: Tương quan giữa độ tuổi với số lượng túi ni lông trung bình sử dụng

trong một tuần

Trung bình số lượng túi ni lơng sử dụng trong

Từ 5-



Ít

Tuổi

Dưới 25

Từ 25-40

Từ 40-60

Trên 60



hơn 5

SL



túi



10 túi

1

10



một tuần

Từ 10-20



Từ 20-



Trên



túi



40 túi

2



2



40 túi

0



Tổng



15



%



6,7



66,7



13,3



13,3



0,0



100,0



SL



5



17



16



10



3



51



%



9,8



33,3



31,4



19,6



5,9



100,0



SL



1



4



11



5



4



25



%



4,0



16,0



44,0



20,0



16,0



100,0



SL



0



1



2



5



1



9



%



0,0



11,1



22,2



55,6



11,1



100,0



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2017

Liên quan tới độ tuổi, tần suất sử dụng túi ni lơng có xu hướng tăng lên



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.1: Tổng hợp công cụ chính sách về hạn chế sử dụng túi ni lông

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×