Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VỀ CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG BỀN VỮNG CỦA DÂN CƯ

Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VỀ CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG BỀN VỮNG CỦA DÂN CƯ

Tải bản đầy đủ - 0trang

nghiệp tăng năng suất, sự linh hoạt và hiệu quả, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm

ra thị trường, từ đó tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính vì vậy, các

sản



141



phẩm xanh, sản phẩm tiêu dùng bền vững cũng sẽ được sản xuất với giá cả cạnh

tranh hơn khi đến tay người tiêu dùng. Cùng với đó, người tiêu dùng sẽ có cơ hội

để tiếp cận thơng tin về sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhanh và chính xác. Đồng thời

họ sẽ có được lợi ích từ việc tiêu dùng các sản phẩm chất lượng cao hơn, giá cả

cạnh tranh hơn và có nhiều sự lựa chọn sử dụng hàng hóa, dịch vụ theo ý muốn của

mình.

Trong bối cảnh quốc tế biến đổi khó lường trước nguy cơ chiến tranh, biến

đổi khí hậu, cạnh tranh dành thị trường và ảnh hưởng chính trị, thì sự độc lập

tự chủ, phát huy nội lực, thực hành tiết kiệm, khuyến khích tiêu dùng nội địa

chống lãng phí, tham nhũng, hạn chế nhập khẩu hàng xa xỉ đang là xu hướng chủ

đạo, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

Tiêu dùng ở các nước cũng đang có xu hướng chuyển dần từ tiêu dùng

“nâu” sang “xanh”. Trong khoảng 1,5 thập kỷ qua (kể từ khi bắt đầu thực hiện các

mục tiêu thiên niên kỷ về Phát triển bền vững vào năm 2001), các quốc gia trên thế

giới cùng đồng tâm cam kết phát triển theo hướng bền vững và đã có những hành

động cụ thể hướng tiêu dùng theo các yêu cầu, tiêu chí bền vững. Lối sống và xu

hướng tiên dùng bền vững, đặc biệt gần đây là tiêu dùng xanh đang dần được

khẳng định.

Các quốc gia trên thế giới đang đối mặt với những thách thức của biến

đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra với những tác động to lớn và khó lường. BĐKH

làm thay đổi lối sống để thích ứng, thích nghi với hiện tượng này và do vậy cũng

làm thay đổi thói quen, cách thức tiêu dùng của dân cư. Trong chiến lược ứng

phó với biến đổi khí hậu, các quốc gia đều phải quan tâm đến chiến lược tiêu

dùng, trong đó có các chính sách ứng phó với BĐKH gắn liền với tiêu dùng bền

vững.

Sản xuất sạch hơn đang trở thành phương thức chủ yếu và tất yếu của

các quốc gia. Đồng thời, lối sống và tiêu dùng bền vững đang trở thành nhu cầu

và xu thế tất yếu ở các quốc gia. Các sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường

142



đang trở thành lựa chọn hàng đầu của người tiêu dùng trên thị trường; các sản

phẩm, dịch vụ không thân thiện môi trường sẽ không được người tiêu dùng chấp

nhận.

Mục tiêu phát triển bền vững (SDG) được Liên hiệp quốc(LHQ) đề ra năm

2015 như một phần của chương trình Phát triển bền vững LHQ đến năm 2030. Các



143



mục tiêu này được hình thành đề hỗ trợ chính phủ kết hợp với các chương trình

và quốc sách chính trị của mình để giải quyết các vấn đề phát triển trong vòng 15

năm tới. Trong số 17 mục tiêu của SDG, có mục tiêu số 12 ghi rõ “Đảm bảo các mơ

hình tiêu dùng và sản xuất bền vững” là cơ sở để xây dựng các giải pháp chính sách

thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

4.1.2. Bối cảnh trong nước

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, Việt Nam

là nước sớm có chủ trương, chính sách tham gia tích cực các hội nghị tồn cầu

về phát triển bền vững. Nhận thấy tầm quan trọng đặc biệt của “sản xuất và tiêu

dùng bền vững” nói chung cũng như “tiêu dùng bền vững” nói riêng đối với

phát triển kinh tế Việt Nam là phù hợp với xu thế phát triển của thế giới trong

bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Đảng và Nhà nước ta đã sớm chỉ

ra định hướng chiến lược cho việc chuyển đổi phương thức tiêu dùng của dân cư

theo hướng tiêu dùng xanh, tiêu dùng bền vững và chủ động ứng phó có hiệu quả

với tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Ở Việt Nam, tiêu dùng bền vững cùng sản xuất bền vững được đề cập

đến trong Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Vietnam

Agenda

21) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 8/2004. Định hướng chiến

lược này xác định thay đổi phương thức tiêu dùng theo hướng phát triển bền vững

là một nội dung cần được ưu tiên. Việc sản xuất và tiêu dùng bền vững được nêu

rõ ở Văn kiện Đại hội XI của Đảng; Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn

2011-2020 đã nêu rõ “Cần chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi

trường, thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; từng bước phát triển năng

lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch”.

Tiếp theo đó Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2011-2020 do Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt cũng nêu rõ về việc thực hiện sản xuất và tiêu dùng

bền vững với các nội dung cụ thể như:“i) Đẩy mạnh áp dụng rộng rãi sản xuất sạch

144



hơn để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên vật liệu, năng

lượng, nước, đồng thời giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô

nhiễm, bảo vệ



145



chất lượng môi trường, sức khỏe con người, đảm bảo phát triển bền vững.ii)

Xây dựng văn hóa tiêu dùng văn minh, hài hòa và thân thiện với thiên nhiên. Từng

bước thực hiện dán nhãn sinh thái, mua sắm xanh. Phát triển thị trường sản

phẩm sinh thái và sáng kiến cộng đồng về sản xuất và tiêu dùng bền vững. Áp

dụng những chính sách điều chỉnh những hành vi tiêu dùng không hợp lý.”

Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020 xác định

rõ mục tiêu tổng quát là: “Sản xuất sạch hơn được áp dụng rộng rãi tại các cơ sở

sản xuất công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên,

nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu; giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng

ô nhiễm; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người và bảo

đảm phát triển bền vững”; trong đó nêu rõ cơng cụ chính sách hỗ trợ để thực

hiện chiến lược sản xuất sạch hơn gồm có các công cụ như tuyên truyền giáo

dục nâng cao nhận thức, các ưu đãi, hỗ trợ về nguồn vồn, tài chính; ... đối với

các doanh nghiệp thực hiện sản xuất sạch hơn.

Tăng trưởng xanh, kinh tế xanh là định hướng phát triển của Việt Nam trong

giai đoạn hiện nay được thể hiện ở Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai

đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày

25/9/2012) và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn

2014- 2020 (QĐ số 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014) đã nêu rõ 3 nhiệm vụ: i) Giảm

cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng

tái tạo,

ii) xanh hóa sản xuất, và iii) Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

Trong đó nêu rõ giải pháp thực hiện thúc đẩy tiêu dùng bền vững như Thúc đẩy

việc dán nhãn sinh thái và phổ biến thông tin các sản phẩm thân thiện mơi

trường đến tồn xã hội. Xây dựng lộ trình từ nay đến năm 2020 áp dụng

mua sắm xanh: Vật liệu xây dựng; lương thực và thực phẩm; giao thơng, vận tải;

năng lượng; máy tính và máy văn phòng; dệt may; giấy và in ấn; đồ gỗ; chất tẩy

rửa; thiết bị y tế.Cụ thể đối với khu vực tiêu dùng dân cư có các giải pháp

146



thực hiện chiến lược baogồm: i) Sử dụng các công cụ kinh tế, kỹ thuật và các

biện pháp khuyến khích dân cư tiêu dùng hợp lý theo hướng bền vững. ii) Tuyên

truyền, giáo dục, triển khai



147



và mở rộng quy mô thực hành lối sống xanh và tiêu dùng tiết kiệm, hợp lý, an tồn.

iii) Áp dụng một số cơng cụ kinh tế như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế và phí bảo

vệ môi trường để điều chỉnh những hành vi tiêu dùng khơng hợp lý, trước hết đối

với những sản phẩm có hại cho sức khỏe, văn hóa và mơi trường.

Các văn bản chính sách của Đảng, Nhà nước đã nêu rõ thúc đẩy tiêu dùng

bền vững là việc làm quan trọng và cần thiết trong phát triển kinh tế xã hội ở

Việt Nam. Để thực hiện được điều này việc sử dụng các cơng cụ chính sách để

hỗ trợ là điều không thể thiếu và cũng đã được xác định rõ trong từng chiến

lược phát triển của đất nước. Các công cụ kinh tế, công cụ tuyên truyền giáo dục

nâng cao nhận thức là những cơng cụ chính sách quan trọng và cần thiết để

thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

Hình 4.1: Mức độ hiểu biết của người dân về tiêu dùng tiêu vững



Nguồn: Số liệu điều tra, Viện NC PTBV Vùng, 2014

Mặc dù vậy, trên thực tế các hoạt động triển khai để thúc đẩy tiêu dùng

bền vững ở Việt Nam chưa được thể hiện rõ. Theo số liệu khảo sát năm 2014 của

Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt

Nam) tại 6 tỉnh thành trên cả nước về sự hiểu biết của người dân về tiêu dùng

bền vững, tiêu dùng xanh sạch, phần lớn người dân tham gia khảo sát vẫn nhận

148



xét rằng chưa



149



bao giờ nghe nói đến tiêu dùng xanh/sạch hoặc cũng chỉ nghe qua tên gọi trên

tivi còn khơng biết nội dung cụ thể thế nào (Hình 4.1).

Điều này cho thấy nhận thức của người dân về tiêu dùng bền vững vẫn

còn hạn chế. Các cơng cụ chính sách đề ra để thúc đẩy tiêu dùng bền vững đã

có, tuy nhiên kết quả của nó mang lại còn chưa rõ ràng. Cơng cụ hành chính (các

văn bản chiến lược, quy hoạch phát triển KT-XH của Đảng, Nhà nước) mang tính

đường lối chính sách chung là chủ yếu mà chưa có biện pháp cụ thể hướng dẫn

thực hiện cũng như kiểm tra giám sát, đánh giá kết quả. Công cụ kinh tế lại chưa

đủ mạnh để thay đổi hành vi của nhà sản xuất và người tiêu dùng. Truyền thông

là công cụ chính sách được thực hiện đầu tiên trong các chương trình, dự án

nhằm giáo dục nâng cao nhận thức cho các bên liên quan đến các vấn đề của tiêu

dùng bền vững. Có nhiều chương trình dự án được triển khai nhằm thúc đẩy

hành vi tiêu dùng bền vững ở Việt Nam như Dự án Sống xanh (Get green), dự

án sản xuất sạch hơn trong công nghiệp, dán nhãn xanh đối với các thiết bị

điên tử, dán nhãn năng lượng... được triển khai đã phần nào nâng cao nhận

thức của người dân trong việc tiêu dùng sản phẩm hàng hóa dịch vụ thúc đẩy tiêu

dùng bền vững.

4.2.Quan điểm về sử dụng cơng cụ kinh tế trong chính sách thúc đẩy tiêu

dùng bền vững dân cư

Công cụ kinh tế dựa vào thị trường là xu thế chủ đạo trong thực hiện các

chính sách vì mơi trường trên thế giới

Hiện nay, tồn cầu hóa tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc

tế đang diễn ra ngày càng sâu sắc. Các thể chế quốc tế ngày càng hoàn thiện, tạo

điều kiện cho các nền kinh tế thâm nhập lẫn nhau. Tự do hóa thương mại tạo

điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa giữa các nước, đồng thời tạo thêm

nhiều cơ hội cho người tiêu dùng trong việc tiếp cận với thị trường hàng hóa. Cùng

với quá trình phát triển kinh tế, thu nhập của người tiêu dùng ngày một nâng cao

nên nhu cầu sử dụng hàng hóa chất lượng cao, thân thiện với mơi trường ngày

150



càng gia tăng. Người tiêu dùng đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong

việc lựa chọn và sử dụng những sản phẩm hàng hóa thúc đẩy tiêu dùng bền vững.



151



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VỀ CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG BỀN VỮNG CỦA DÂN CƯ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×