Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ý kiến về các công cụ chính sách sử dụng nhằm hạn chế việc sử dụng túi ni lông

Ý kiến về các công cụ chính sách sử dụng nhằm hạn chế việc sử dụng túi ni lông

Tải bản đầy đủ - 0trang

được cộng đồng dân cư đánh giá cao. Có tới 43% người trả lời cho rằng giải pháp

nhà nước cấm sử dụng là khơng thích hợp, 24% cho rằng cũng thích hợp ở

một



95



chừng mực nhất định. Chỉ có 12% người được hỏi đánh giá khá thích hợp và 19%

cho rằng rất thích hợp. Điều này có thể được lý giải ở lý do rằng hầu hết mọi người

đều đang có thói quen sử dụng túi ni lơng bởi những tiện ích của nó. Nếu nhà

nước cấm sử dụng thì phải có giải pháp về loại hàng hóa khác tương đương có

thể thay thế được loại túi này. Đối với giải pháp bắt buộc các siêu thị, cửa hàng

tính tiền mỗi túi ni lơng mà nhóm khảo sát đưa ra, có tới 28% số người trả lời

cho rằng khơng thích hợp, 22% cho rằng hơi thích hợp, 30% cho rằng khá thích

hợp và 20% cho rằng rất thích hợp.

Trong khi đó, các giải pháp về hỗ trợ sản xuất hàng hoá từ nhà nước lại được

phần lớn người trả lời ủng hộ. Có tới hai phần ba số người tham gia khảo sát (69%)

cho rằng giải pháp nhà nước hỗ trợ sản xuất hàng hố thay thế túi ni lơng là rất

thích hợp, 15% cho rằng khá thích hợp, 10% cho rằng hơi thích hợp và chỉ có

5% cho rằng khơng thích hợp. Số liệu điều tra cho thấy, đa số người dân nhận thức

được tác hại của túi ni lông và sẵn sàng hạn chế sử dụng túi ni lông khơng thân

thiện với mơi trường nếu nhà nước có chính sách hỗ trợ việc sản xuất loại túi

khác để thay thế thay vì áp đặt các biện pháp khác như cấm hoặc tính phí trong

bối cảnh các điều kiện khác chưa cho phép.



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2017

96



Hình 3.4: Ý kiến về giải pháp hạn chế sử dụng túi ni lông



97



43% ý kiến người dân được hỏi cho rằng giải pháp cấm sử dụng để hạn chế

sử dụng túi ni lơng là khơng thích hợp. Tuy nhiên vẫn có 39% số người “vui vẻ

chấp nhận” nếu nhà nước vẫn áp đặt giải pháp này. 28% số người tỏ ra bình

thường và có 24% người cho rằng khó chịu nếu cấm dùng túi ni lông. Như vậy

vẫn số người dân khơng chấp nhận giải pháp này còn cao. Còn những người

vẫn vui vẻ chấp nhận giải pháp này cho dù họ thấy việc cấm sử dụng khơng thích

hợp là bởi họ nhận thức được tác hại của túi ni lông và sẵn sàng thực hiện theo

chính sách của nhà nước để góp phần bảo vệ mơi trường.



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2017

Hình 3. 5: Ý kiến về đề xuất cấm sử dụng túi ni lông

Qua khảo sát ý kiến người dân về giải pháp tăng thuế đối với đơn vị sản xuất

cũng chỉ có 32% người trả lời cho rằng khá thích hợp, 27% thấy hơi thích hợp, 20%

nhận xét rằng rất thích hợp và 20% nhận xét là khơng thích hợp.



98



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2017

Hình 3. 6: Ý kiến về việc tăng thuế đối với đơn vị sản xuất

Kết quả thăm dò ý kiến chung đối với việc tăng thuế là như trên nhưng khi

thăm dò thái độ của cộng đồng dân cư về về biện pháp quy định bắt buộc người

bán hàng phải tính phí mỗi chiếc túi ni lơng thì có 36% số người trả lời có thái độ

khó chịu, chỉ có 27% vui vẻ chấp nhận quy định này, trong khi 21% có thái độ

bình thường và 16% khơng có ý kiến, khơng quan tâm. Những người cảm thấy khó

chịu khi pháp luật u cầu tính phí sử dụng túi ni lơng có thể do biện pháp này ảnh

hưởng trực tiếp đến túi tiền của họ. Kết quả phỏng vấn sâu các chủ cửa hàng, chủ

kinh doanh bn bán nhỏ lẻ cũng có câu trả lời tương tự. Hầu hết họ khơng thích

biện pháp này bởi “nếu tính phí sử dụng túi ni lông sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc

bán hàng, giá túi tăng lên sẽ ảnh hưởng tới doanh thu của cửa hàng” (PVS Chủ cửa

hàng tạp hóa, 55 tuổi, Hà Nội). Tuy nhiên một số chủ cửa hàng khác lại ủng hộ việc

tính phí túi ni lơng và cho rằng mức phí từ 500 đồng – 1000 đồng/ túi ni lơng là có

thể chấp nhận được (PVS chủ cửa hàng tạp hóa, 60 tuổi, Hà Nội), còn chủ cửa hàng

tạp hóa khác thì cho rằng mức phí có thể lên đến 2000 đồng/túi vẫn chấp nhận

được.



99



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2017

Hình 3.7: Ý kiến về đề xuất tính phí sử dụng túi ni lơng

Nghiên cứu tìm thấy sự khác biệt giữa nghề nghiệp và ý kiến về việc luật

pháp bắt thu phí túi ni lơng. Đối với nhóm nghề trực tiếp sử dụng và cung cấp túi ni

lông cho người tiêu dùng là kinh doanh dịch vụ, những người trả lời có thái độ khó

chịu đối với biện pháp tính phí túi ni lơng chiếm tỷ lệ cao nhất 55,6% và chỉ có

11,1% trong số những người làm kinh doanh dịch vụ có thái độ vui vẻ chấp nhận

biện pháp này. Trong khi đó, ở nhóm nghề có khả năng nhận thức tốt là nhân viên

văn phòng có tỷ lệ người trả lời có thái độ vui vẻ chấp nhận biện pháp này chiếm tỷ

lệ cao nhất 45,2%. Nhóm nghề nội trợ có liên quan trực tiếp tới sử dụng túi ni lông

hàng ngày cũng không ủng hộ việc tính phí cho túi ni lơng bởi vì việc tính phí liên

quan trực tiếp tới kinh tế của gia đình họ và họ sẽ là người phải trả tiền. Chỉ có

5,3% trong số những người nội trợ vui vẻ chấp nhận biện pháp này, trong khi có tới

36,8% cảm thấy khó chịu và 47,4% có thái độ bình thường với biện pháp này. Đối với

nhóm nghề học sinh sinh viên, do tần số tiếp xúc và sử dụng túi ni lơng chưa nhiều

nên có tới 33,3% khơng có ý kiến, khơng quan tâm. 33,3% khác cảm thấy khó chịu,

25% cảm thấy bình thường và chỉ có 8,3% vui vẻ chấp nhận biện pháp này (P<0,05).



10

0



Bảng 3.7: Tương quan giữa nghề nghiệp và ý kiến quy định về việc tính phí túi ni

lông



Nghề nghiệp

Học sinh,

sinh viên

Công nhân,

lao động

tự do

Kinh doanh,

buôn bán

Nhân viên

văn

phòng

Nội trợ

Khác



SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%



Ý kiến về quy định thu phí túi ni lơng

Tổng

Vui vẻ

Khơng trả

Bình

Khó

chấp

lời, khơng

nhận

ý kiến

thường

chịu

Missing

3

4

1

4

0

12

25,0



33,3



8,3



33,3



0,0



100,0



1



7



4



3



1



16



6,3



43,8



25,0



18,8



6,3



100,0



3

33,3

4

9,5

9

47,4

1

50,0



5

55,6

13

31,0

7

36,8

0

0,0



1

11,1

19

45,2

1

5,3

1

50,0



0

0,0

6

14,3

2

10,5

0

0,0



0

0,0

0

0,0

0

0,0

0

0,0



9

100,0

42

100,0

19

100,0

2

100,0



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2017

Truyền thông là một trong những công cụ phổ biến được sử dụng ở Việt

Nam nhằm tác động trực tiếp lên ý thức của người dân về việc sử dụng túi ni lông

hiện nay. Truyền thông giúp người dân nhận thức được tác hại của túi ni lông đối với

môi trường và sức khỏe để từ đó thay đổi dần hành vi sử dụng loại hàng hóa này.

Truyền thơng là một quá trình liên tục trao đổi thộng tin, tư tưởng, chia sẻ

kỹ năng và kinh nghiện giữa con người, cá nhân với cộng đồng nhằm tăng cường

sự hiểu biết, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh thái độ và hành vi phù hợp với

yêu cầu phát triển của cá nhân, nhóm cộng đồng và xã hội. Hiện nay có nhiều loại

hình truyền thơng cơ bản thường được sử dụng trong tuyên truyền nâng cao nhận

thức về một vấn đề nào đó. Tuy nhiên, nghiên cứu này lựa chọn kênh truyền

thơng để khảo sát gồm có: kênh truyền thơng gián tiếp qua phương tiện truyền

thông phổ cập như TV; Internet, báo chí; Pano, áp phích; và kênh Truyền thơng

trực tiếp qua các tổ chức xã hội, tình nguyện viên và truyền miệng từ gia đình,

10

1



bạn bè với bốn nấc thang đo “chưa bao giờ”, “hiếm khi”, “thỉnh thoảng” và

“thường xuyên”. Kết quả khảo sát



10

2



cho thấy hai hình thức truyền thơng có tỷ lệ người trả lời cao nhất ở mức

thường xuyên là TV và internet, báo chí. Đây là hai kênh truyền thông đại chúng

phổ biến hiện đang được phần lớn cộng đồng dân cư tiếp cận. Tỷ lệ người trả

lời thường xuyên tiếp cận với thông tin về tác hại của túi ni lông qua TV là 48%,

thỉnh thoảng là 38%, hiếm khi chỉ có 9% và chưa bao giờ chỉ có 4%. Còn tỷ lệ này

qua internet và báo in lần lượt là 42%, 39%,7% và 11%. Đối với hai hình thức

truyền thơng pano, áp phích và truyền thông trực tiếp, phần lớn người trả lời cho

biết họ chưa bao giờ hoặc hiếm khi biết thông tin về tác hại của rác thải qua

loại kênh này. Tỷ lệ người trả lời chưa bao giờ biết thông tin về tác hại của túi

ni lơng qua Pano, áp phích là 30%, hiếm khi là 32%, thỉnh thoảng là 22% và

thường xuyên chỉ có 12%. Tương tự, tỷ lệ người trả lời chưa bao giờ biết thông

tin về tác hại của túi ni lông qua truyền thông trực tiếp lần lượt là 23%, 31%,

29% và 13%. Đối với hình thức truyền thơng qua giao tiếp với gia đình, bạn bè, tỷ

lệ người trả lời cao nhất ở mức thỉnh thoảng với 42% tiếp đến là mức thường

xuyên 26%, hiếm khi 17% và chưa bao giờ là 13%. Như vậy có thể thấy, kênh

thông tin về tác hại của túi ni lông phổ biến được phần lớn người dân tiếp cận là

TV và internet, báo chí.



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2017

Hình 3.8: Kênh nhận thức về tác hại của túi ni lơng

10

3



Ngồi các kênh trun thơng kể trên, nghiên cứu cũng tìm hiểu về

nguồn thơng tin qua các chương trình, dự án. Kết quả khảo sát tại khu vực được

lựa chọn



10

4



cho thấy, hầu hết người dân chưa được tiếp cận thông tin về tác hại của túi ni

lông qua các chương trình, dự án. Có tới 87% trả lời chưa có hoạt động nào

nhằm hạn chế sử dụng túi ni lơng, chỉ có 13% người trả lời đã từng có các hoạt

động tuyên truyền, phát túi giấy, túi phân huỷ miễn phí cho cộng đồng dân cư.

Để đánh giá về kênh truyền thông phù hợp, nghiên cứu đưa ra câu hỏi

“Theo Ông/bà, cách thức nào là phù hợp để tuyên truyền về tác hại của túi ni

lông?” kết quả cho thấy, hình thức truyền thơng phù hợp nhất là truyền thông

qua TV. Điều này được thể hiện ở số liệu 76% người được hỏi trả lời rằng truyền

thông qua TV là rất thích hợp, 21% cho rằng khá thích hợp, chỉ có 2% cho rằng hơi

thích hợp và 1% nhận xét khơng thích hợp. Hình thức truyền thơng phù hợp tiếp

theo là Internet, báo chí với tỷ lệ tương ứng là 68% thích hợp, 25% khá thích hợp,

6% hơi thích hợp và 1% khơng thích hợp. Ngồi hai hình thức này, các hình thức

truyền thơng còn lại như Pano, áp phích, truyền thơng trực tiếp và truyền miệng

từ gia đình bạn bè cũng được đánh giá là phù hợp trong việc tuyên truyền về tác

hại của túi ni lông với tỷ lệ từ 40-50% người trả lời cho rằng rất thích hợp 20-30%

khá thích hợp 10-20% hơi thích hợp và chỉ 3-6% khơng thích hợp.



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2017

Hình 3.9: Đánh giá về kênh truyền thơng phù hợp tuyên truyền tác hại của túi ni lông

Giải pháp tăng cường tuyên truyền, cảnh báo về tác hại của túi ni lơng

được 68% người trả lời cho là thích hợp, 22% cho rằng khá thích hợp, 9% cho

10

5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ý kiến về các công cụ chính sách sử dụng nhằm hạn chế việc sử dụng túi ni lông

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×