Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tác động của các công cụ chính sách đến tiêu dùng xăng sinh học E5

Tác động của các công cụ chính sách đến tiêu dùng xăng sinh học E5

Tải bản đầy đủ - 0trang

định của người tiêu dùng là vấn đề cần được tìm hiểu và nghiên cứu kỹ hơn.



Ngồi ra các cơng cụ hành chính và cơng cụ truyền thơng cũng được sử dụng

để khuyến khích sử dụng loại xăng này. Cơng cụ hành chính áp dụng cho việc

khuyến khích tiêu dùng xăng sinh học E5 bao gồm các biện pháp bắt buộc các nhà

phân phối phải bán xăng E5 thay vì chỉ bán các loại xăng khoáng như trước đây,

quy định bắt buộc người tiêu dùng phải chuyển đổi từ việc dùng xăng khống sang

xăng E5. Cơng cụ truyền thơng cụ thể như việc tuyên truyền vận động sẽ tác động

đến sở thích của người tiêu dùng từ đó sẽ thay đổi quyết định và hành vi mua

sắm của người dân. Truyền thông nâng cao nhận thức sẽ giúp người tiêu dùng

hiểu rõ được những lợi ích của việc sử dụng xăng sinh học từ đó sẽ thay đổi được

hành vi sử dụng của họ. Các yếu tố ảnh hưởng đến sở thích của người tiêu dùng

bao gồm nhiều yếu tố từ nhân khẩu học, tâm lý, văn hóa, xã hội… Hơn nữa, từ thay

đổi nhận thức đến thay đổi hành vi cần có khoảng thời gian nhất định. Chính vì

vậy truyền thơng cần có lộ trình và phải nhằm vào đúng đối tượng thì mới mang lại

hiệu quả.

2.5.2.3. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về chính sách khuyến khích sử

dụng nhiên liệu sinh học

Kinh nghiệm của Brazil [43]

Nhiên liệu Ethanol làm từ mía đường lần đầu tiên được Brazil sử dụng từ

cuối những năm 20 và đầu những năm 30 của thế kỷ trước, nhằm đối phó với

cuộc khủng hoảng dầu mỏthời kỳ này, Từ năm 1973, Chính phủ Brazil đã bắt đầu

thúc đẩy việc sử dụng Ethanol sinh học làm nhiên liệu. Tiếp đó, chương trình

quốc gia “Pro Alcohol” ra mắt vào năm 1975, được chính phủ tài trợ nhằm mục

tiêu khuyến khích sử dụng Ethanol sản xuất từ mía đường đồng thời loại bỏ các

loại nhiên liệu được sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch như xăng.

Từ năm 1976 đến năm 1992, chính phủ Brazil đã đưa ra quy định về kho tỷ

lệ phối trộn bắt buộc Ethanol vào xăng truyền thống với mức dao động từ 10-22%

và cấm kinh doanh trongnướcxăng nguyên chất (E0). Tiếp đó, đến tháng 10/1993,

một đạo luật liên bang được thơng qua đã quy định tỷ lệ pha trộn Ethanol khan

vào xăng truyền thống bắt buộc là 22% (E22) và cho phép nhà chức trách có thể



điều chỉnh tỷ lệ này trong ranh giới quy định. Chẳng hạn từ năm 2003, nhà chức

trách đã quy định tỷ lệ phối trộn Ethanol bắt buộc tối thiểu là 20% và tối đa là 25%.

Việc điều



chỉnh này phụ thuộc vào kết quả của vụ thu hoạch mía và sản lượng sản xuất

Ethanol từ mía. Do đó, tỷ lệ này vẫn có thể thay đổi trong cùng năm và từng năm.

Brazil bước vào cuộc khủng hoảng Ethanol cùng thời điểm khủng hoảng

kinh tế thế giới. Và kể từ khi quốc gia này phát hiện nguồn dầu mỏ khổng lồ ở các

lớp “tiền muối” (pre-salt), thị trường nhiên liệu sinh học khơng còn là một ưu

tiên với họ nữa. Thay vì Ethanol, các nhà sản xuất muốn sản xuất đường, do giá

loại hàng hóa này hấp dẫn hơn. Hậu quả của khủng hoảng kinh tế thể giới đối

với đất nước này là hơn 40 nhà máy đường phải đóng cửa, đồng thời biến đổi khí

hậu gây thiệt hại cho việc trồng mía đã khiến nguồn cung Ethanol bị suy giảm, chi

phí sản xuất Ethanol trở nên đắt đỏ.

Đến tháng 4/2013, Chính phủ Brazil đã cơng bố gói ưu đãi dành cho lĩnh vực

cơng nghiệp sản xuất ethnol, trong đó bao gồm cắt giảm thuế và trợ cấp hạn mức

tín dụng để ể khuyến khích ngành cơng nghiệp đang trì trệ này. Mục tiêu của gói

ưu đãi là khuyến khích các nhà sản xuất lựa chọn sản xuất mía đường để sản xuất

Ethanol chứ khơng chỉ sản xuất đường để bán giá cao trên thị trường quốc tế.

Ngồi ra, từ tháng 1/2014, chính phủ cũng ra quy định bắt buộc tăng tỉ lệ Ethanol

trong xăng 20- 25%. Như vậy, mặc dù triển vọng khôi phục ngành công nghiệp sản

xuất Ethanol ở Brazil đang dần cải thiện, nhưng thị trường Ethanol ở Brazil vẫn phụ

thuộc vào mức độ thành cơng trong thực hiện một chính sách quốc gia đồng bộ,

nhất quán, ưu tiên và thương mại hóa loại nhiên liệu này và các loại nhiên liệu sinh

học khác.

Kinh nghiệm của Mỹ [39]

Việc sử dụng nhiên liệu sinh học đã bắt đầu được Hoa Kỳ chú trọng đến từ

những năm 70 của thế kỷ 20. Trong khoảng thời gian 1976-1978, Quốc hội Mỹ đã

cơng nhận những lợi ích của Ethanol trong nhiên liệu sau một thử nghiệm sử

dụng xăng sinh học E10 (pha trộn với 10% Ethanol tùy theo thể tích), Quốc hội Mỹ

Quốc gia này bắt đầu khuyến khích phát triển thị trường Ethanol bằng việc áp

dụng biện pháp giảm thuế đối với xăng pha Ethanol.

Sắc lệnh 13.101 về cũng được Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã ký trong năm



1998 về việc ưu tiên sử dụng sản phẩm sinh học thay thế một phần dầu mỏ

trong chính phủ liên bang. Một chính sách tạo lập ngành cơng nghiệp Ethanol ở

cấp nhiên



liệu đã được Quốc hội Mỹ thông qua, theo đó chất này có thể cạnh tranh với

nhiên liệu dầu mỏ và đảm bảo rằng, ngành nơng nghiệp có thể hỗ trợ và duy trì

việc sử dụng nhiên liệu sinh học. Một loạt các chính sách ưu đãi thuế, ưu đãi

đầu tư và khuyến khích các chủ nơng trại trồng ngô liên kết, mua cổ phần cùng

đầu tư vào các nhà máy sản xuất Ethanol cũng được Chính phủ Mỹ ban hành vào

thời điểm này.

Năm 1980, Chính phủ Mỹ đã ban hành một loại thuế nhập khẩu đối với sản

phẩm Ethanol, lên tới mức 0,54USD/gallon Ethanol nhập khẩu nhằm bảo hộ cho

các nhà sản xuất Ethanol trong nước. Tiếp đó, đạo luật về tỷ lệ phối trộn Ethanol

bắt buộc vào xăng thông thường được Quốc hội Mỹ thông qua năm 2005. Theo

đạo luật này, chỉ tiêu cố định thường niên về tỉ lệ phối trộn sẽ được phân bổ cho

các cơng ty kinh doanh xăng dầu. Theo đó, một mặt, các công ty sản xuất, kinh

doanh, phân phối xăng sinh học sẽ được trợ giá và hỗ trợ các chi phí phối

trộn với mức 54cent/gallon, tương đương với 15cent/lít. Mặt khác, nếu không

tuân thủ, các công ty này sẽ phải chịu mức phạt rất cao.

Ngành công nghiệp sản xuất Ethanol ở Mỹ đã đạt đến mức phát triển

nhất định vào năm 2011 và cũng là thời điểm chính phủ dừng áp dụng mức trợ

cấp trên. Tính đến nay, tổng trợ cấp cho chương trình này đã lên tới 17 tỉ USD.

Tỷ lệ phối trộn trung bình Ethanol trên cả nước Mỹ sau khi dỡ bỏ trợ cấp là 8 - 9%.

Điều đáng nói là trong cả giai đoạn đầu đưa nhiên liệu sinh học ra thị trường,

chính phủ Mỹ chỉ coi Ethanol là một loại phụ gia xăng, không phải là một loại nhiên

liệu mới hoàn toàn, và cũng không công bố tỷ lệ phối trộn Ethanol vào xăng là 5%

hay 10%.

Nghiên cứu của các chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng cho thấy, Ethanol

chỉ là một chất phụ gia làm tăng hàm lượng ôxy trong xăng, người tiêu dùng chỉ cần

biết xăng đạt tiêu chuẩn, an toàn với người sử dụng. Do vậy người tiêu dùng không

nhất thiết phải biết tỷ lệ phối trộn của nhiên liệu này. Theo kế hoạch, trong

những năm tới, sản xuất nhiên liệu sinh học theo kế hoạch ở Mỹ có thể đạt mức

36 - 38 tỉ gallon/năm, trong đó, sản lượng sản xuất từ ngô tối đa đến năm 2022



sẽ là 15 tỉ gallon. Các công ty sẽ phải theo đúng sản lượng kế hoạch này vì sẽ ảnh

hưởng tiêu cực đến sản lượng ngô. Hơn nữa, các loại nhiên liệu sinh học trong

tương lai sẽ được sản xuất từ các nguồn cao cấp hơn chứ không phải chủ yếu

từ ngô, do chỗ



hiện nay Chính phủ Mỹ đã có chính sách hỗ trợ sản xuất loại hàng hóa này từ sinh

khối hoặc là các loại nguyên liệu khác.

Kinh nghiệm của Thái Lan [5]

Trong số các nước thuộc khối ASEAN, Thái Lan là một trong những nước

hàng đầu khuyến khích sản xuất năng lượng sinh học. Một loạt chính sách nổi

bật của Thái Lan trong lĩnh vực này bao gồm: (1) thiết lập an ninh năng lượng

bền vững; (2) xúc tiến và khuyến khích phát triển năng lượng thay thế; (3) giám sát

đảm bảo mức giá thích hợp; (4) kết hợp mở rộng và đầu tư; (5) tiết kiệm và sử

dụng năng lượng hiệu quả và (6) hỗ trợ phát triển năng lượng đồng thời bảo vệ

môi trường.

Từ năm 2004-2011, Thái Lan thực hiện chính sách phát triển năng lượng

sinh học giai đoạn 1. Đến năm 2008-2022 thực hiện giai đoạn 2 nhằm tăng mức

độ sử dụng năng lượng tái tạo đạt 20% tổng nhu cầu năng lượng.Giai đoạn 2

cũng là thời gia thực hiện kế hoạch 15 năm của quốc gia này, gọi tắt là, AEDP

(Alternative Energy Development Plan). Mục tiêu tổng thể đầy tham vọng của Kế

hoạch này là sử dụng năng lượng tái tạo đạt 25% tổng nhu cầu năng lượng vào

năm 2022. Các mục tiêu cụ thể gồm: (1) năng lượng tái tạo sẽ phát triển thành

nguồn năng lượng chính thay thế cho nhiên liệu thơ và dầu nhập khẩu; (2) khuyến

khích sử dụng năng lượng xanh trong cộng đồng; (3) củng cố an ninh năng lượng

quốc gia; (4) ủng hộ phát triển công nghệ năng lượng tái tạo quy mô nhỏ và quy

mô công nghiệp; (5) nghiên cứu, phát triển và khuyến khích để chuyển giao cơng

nghệ năng lượng tái tạo ra thị trường quốc tế.

Các biện pháp chủ yêu được Chính phủ Thái Lan ban hành để hiện thực kế

hoạch 2012-2022 của AEDP gồm:(1) chấm dứt sử dụng xăng khoáng A92 vào

tháng 10/2012; (2) trợ cấp khoảng 2.000 đồng xăng E20 và giảm thuế cho xăng

E10; (3) ủng hộ sản xuất các loại xe ôtô thân thiện môi trường (Eco-Car) và ôtô sử

dụng E85 bằng cách giảm thuế tới 33 triệu đồng cho xe dùng E85 và khoảng 20

triệu đồng cho xe Eco-Car; (4) xác định mục tiêu sản lượng trung bình quốc gia cho

sắn và mía đường và (5) khuyến khích sản xuất nguồn nguyên liệu thay thế.



Cũng thời gian này, Chính phủ Thái Lan còn ban hành thêm các các biện

pháp cụ thể gồm: (1) thay thế các vùng đất không phù hợp cho cây trồng lương

thực



bằng các đồn điền cọ dầu, kết hợp cải tiến nâng cao năng suất và sản lượng cọ dầu;

(2) yêu cầu pha trộn ít nhất 5% diesel sinh học trong diesel dầu mỏ (B5); (3) chỉ đạo

việc pha trộn B10, B20 và chuẩn bị pha trộn đến 7% diesel sinh học trong diesel

dầu mỏ đối với các nhà máy sản xuất tiên phong.

Bài học kinh nghiệm

Việc phát triển nhiên liệu sinh học để thay thế phần nào nhiên liệu

hóa thạch đã được các nước trên thế giới chú trọng từ lâu. Kinh nghiệm

nghiên cứu chính sách khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học ở một số nước

trên thế giới cho thấy, các chính sách hỗ trợ từ nhà nước là quan trọng và cần thiết

để sản xuất và đưa nhiên liệu sinh học vào sử dụng. Các chính sách hỗ trợ cần

được thống nhất ở tất cả các khâu từ sản xuất nguyên liệu đầu vào đến tiêu thụ

sản phẩm.

Thuế và trợ cấp là các công cụ kinh tế đã được áp dụng để khuyến khích

người tiêu dùng sử dụng nhiên liệu sinh học ở nhiều nước. Tuy nhiên, việc trợ cấp

đã tiêu tốn nhiều ngân sách của nhà nước. Khoản trợ cấp sẽ phải dừng sau khi

đưa nhiên sinh học vào sử dụng và khi ngành công nghiệp sản xuất Ethanol ở

đạt đến mức phát triển nhất định như trường hợp các nước như Mỹ, Brazil.

Chính phủ không công bố tỷ lệ phối trộn Ethanol vào xăng là 5% hay 10% ở giai

đoạn đầu đưa nhiên Ethanol vào thị trường, mà chỉ coi đó là một loại phụ gia

xăng, không phải là một loại nhiên liệu mới hồn tồn.



Chương 3: THỰC TRẠNG CÁC CƠNG CỤ KINH TẾ TRONG CHÍNH SÁCH THÚC

ĐẨY TIÊU DÙNG BỀN VỮNG DÂN CƯ

Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với các vấn đề ơ nhiễm mơi trường gây

ra do q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đặc biệt là các vấn đề về

ơ nhiễm khói bụi do xe cộ tham gia giao thông và ô nhiễm trắng - ô nhiễm do sử

dụng tràn lan túi ni lơng khó phân hủy đang ngày càng trầm trọng và trở thành

thảm họa mơi trường quốc gia. Chính phủ đã và đang áp dụng nhiều các biện

pháp, cơng cụ chính sách khác nhau nhằm thay đổi hành vi tiêu dùng của người

dân, hướng đến tiêu dùng bền vững, bảo vệ môi trường.

Để nghiên cứu và hiểu rõ thực trạng các công cụ kinh tế trong chính sách

thúc đẩy tiêu dùng dân cư bền vững, chương này sẽ tập trung nghiên cứu hai

trường hợp (1) hạn chế sử dụng túi ni lông và (2) khuyến khích sử dụng xăng sinh

học E5. Việc hạn chế sử dụng túi ni lơng và khuyến khích sử dụng xăng sinh học

E5 được xem là hành vi thúc đẩy tiêu dùng bền vững, chính vì vậy cần có sự tác

động từ các chính sách của cơ quan quản lý. Cơng cụ kinh tế sẽ được xem xét

phân tích trong tổng thể các cơng cụ chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững

bao gồm: cơng cụ hành chính, cơng cụ kinh tế và cơng cụ truyền thơng.

3.1.Chính sách hạn chế sử dụng túi ni lông

3.1.1. Thực trạng và các công cụ kinh tế trong chính sách hạn chế sử dụng

túi ni lông ở Việt Nam

Hiện nay, túi ni lông đang trở thành thảm họa môi trường tại nhiều

quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Những chiếc túi ni lông trở thành vật

dụng quen thuộc của người mua hàng, bán hàng ở khắp các cửa hàng, siêu thị,

chợ trong cả nước. Đặc biệt ở các chợ, từ chợ nhỏ tại làng/xã đến chợ trung tâm

đô thị lớn là nơi tiêu thụ túi ni lông với số lượng lớn.Loại túi ni lông được sử

dụng chủ yếu là loại sử dụng một lần khó phân hủy.

Nhận thức được tác hại của túi ni lông trước thực trạng sử dụng phổ

biến túi ni lơng hiện nay, đã có rất nhiều chính sách được đưa ra để hạn chế việc

sử dụng loại hàng hóa này. Trong những năm gần đây Chính phủ Việt Nam đã ban

hành các điều luật, xây dựng các chương trình hành động, các truyền thơng

rộng rãi nhằm nâng cao ý thức và thay đổi thói quen của người dân để từng bước



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tác động của các công cụ chính sách đến tiêu dùng xăng sinh học E5

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×