Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bài học kinh nghiệm

Bài học kinh nghiệm

Tải bản đầy đủ - 0trang

chế được lượng túi ni lông sử dụng ở các quốc gia áp dụng luật này như ở Anh,

Mỹ, Ai len. Tuy nhiên nó khơng mang lại hiệu quả lâu dài ở Thượng Hải do vấp

phải sự phản đối của các doanh nghiệp. Số lượng túi ni lông sản xuất và tiêu thụ

trái phép vẫn tồn



tại và ngày càng được nhân rộng khi khơng có sự kiểm tra giám sát của các đơn vị

chức năng.

Ngồi ra, các cơng cụ hành chính như việc cấm sử dụng túi ni lơng ở một số

quốc gia trên thế giới đã thực hiện và thành công. Tuy nhiên việc này không thể áp

dụng đối với tất cả các nước bởi nó còn phụ thuộc vào điều kiện pháp lý và môi

trường của từng nước. Và hơn hết khi thực hiện lệnh cấm sử dụng thì phải có

sự kiểm tra giám sát chặt chẽ, đồng thời cần có một giải pháp thay thế phù

hợp mà người tiêu dùng có thể chấp nhận được thì mới mang lại thành cơng. Bên

cạnh đó, truyền thơng là cơng cụ được sử dụng trong suốt quá trình từ chuẩn bị,

triển khai và thực hiện chính sách. Thơng thường trước khi áp dụng các cơng cụ

kinh tế, hành chính thì truyền thông cần phải đi trước để người dân nắm được

chủ trương chính sách và cùng phối hợp thực hiện.

2.5.2. Cơ sở lý luận về công cụ kinh tế trong chính sách khuyến khích sử dụng

xăng E5

2.5.2.1. Khái quát về xăng sinh học E5

Nhiên liệu sinh học là loại nhiên liệu được hình thành từ các hợp chất

có nguồn gốc động thực vật (sinh học). Loại nhiên liệu này có nhiều ưu điểm nổi

bật so với các loại nhiên liệu truyền thống (dầu khí, than đá...) như: i) Tính chất

thân thiện với mơi trường: chúng sinh ra ít hàm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính

và ít gây ơ nhiễm môi trường hơn các loại nhiên liệu truyền thống; ii) Nguồn

nhiên liệu tái sinh: các nhiên liệu này lấy từ hoạt động sản xuất nơng nghiệp và có

thể tái sinh vì vậy sẽ giúp giảm sự lệ thuộc vào nguồn tài nguyên nhiên liệu không

tái sinh truyền thống. Tuy nhiên hiện nay vấn đề sử dụng nhiên liệu sinh học

vào đời sống còn nhiều hạn chế do chưa hạ được giá thành sản xuất xuống thấp

hơn so với nhiên liệu truyền thống. Trong tương lai, khi nguồn nhiên liệu truyền

thống cạn kiệt, nhiên liệu sinh học có khả năng là nguồn nhiên liệu thay thế nhiên

liệu truyền thống [45].

Phân loại nhiên liệu sinh học: Theo cách phân loại về dạng nhiên liệu có



nguồn gốc từ sinh học thì nhiên liệu sinh học được chia thành 3 nhóm: nhiên

liệu lỏng, khí sinh học (biogas) và nhiên liệu sinh học rắn. Còn theo cách phân loại

công



nghệ sản xuất nhiên liệu sinh học thì nhiên liệu sinh học gồm 3 loại: nhiên liệu sinh

học thế hệ thứ 1, thứ 2 và thứ 3. Nhiên liệu sinh học thế hệ đầu tiên được làm từ

cây trồng có hàm lượng đường và tinh bột cao, dầu thực vật hoặc mỡ động vật

để sản xuất bioEthanol. Nhiên liệu sinh học thế hệ thứ 2 được sản xuất từ

nguồn nguyên liệu sinh khối, qua nghiền sấy rồi lên men thành nhiên liệu sinh học.

Nhiên liệu sinh học thế hệ thứ 3 được chế tạo từ các loài vi tảo trong nước hay

trên đất ẩm [45]. Lý thuyết về nhiên liệu sinh học thường dựa trên nguyên liệu sử

dụng cho sản xuất và công nghệ dùng để chuyển đổi nguyên liệu thô thành nhiên

liệu [106], [107]. Trong khi các nhiên liệu sinh học thế hệ thứ nhất đã được sản xuất

trong nhiều năm ở nhiều quốc gia, các công nghệ sản xuất nhiên liệu sinh học thế

hệ thứ hai vẫn còn đang chưa quá phát triển [119]. Còn nhiên liệu sinh học thế

hệ thứ 3 có thể sinh ra năng lượng gấp 7-30 lần nhiên liệu sinh học thế hệ trước

trên cùng diện tích trồng [45].

Trong khi các nhiên liệu sinh học, nếu như thế hệ đầu tiên trực tiếp

cạnh tranh với cung cấp lương thực, thì thế hệ thứ hai có thể sản xuất cả thực

phẩm và nhiên liệu cùng một lúc. Vì sinh khối cellulose là vật liệu sinh học phong

phú nhất trên trái đất nên việc phát triển thành công các loại nhiên liệu sinh học

thế hệ thứ hai có thể bán được, có thể mở rộng đáng kể khối lượng và nhiều loại

thức ăn [80]. Tuy nhiên, mặc dù chi phí nguyên liệu cellulose thấp hơn so với

nguyên liệu đầu tiên, nhưng sinh khối cellulose khó phân hủy hơn tinh bột,

đường và dầu, và cơng nghệ chuyển đổi nó thành nhiên liệu lỏng đắt hơn. Ethanol

thế hệ đầu tiên được sản xuất từ đường và tinh bột. Các loại đường đơn được

chiết xuất và sau đó lên men rượu cuối cùng được chưng cất thành Ethanol. Tinh

bột phải trải qua q trình enzyme hóa dưới nhiệt độ cao, sử dụng năng lượng bổ

sung và làm tăng chi phí sản xuất [77].

Ethanol thường pha trộn với xăng tùy theo tỷ lệ tạo ra các loại xăng (Xăng

E5 có 5% Ethanol pha trộn), và có giá trị octane cao hơn so với xăng nhưng sản

sinh ra năng lượng ít hơn khoảng 70%. Ethanol thế hệ thứ hai được tạo ra thông

qua chuyển đổi sinh khối lignocellulosic. Q trình này sẽ cho phép sử dụng tồn



bộ vật liệu lignocellulosic được tìm thấy trong một loạt các nguồn sinh khối,

chẳng hạn như chất thải, vỏ trấu, thân cây và cỏ [82]. Sinh khối Lignocellulosic

bao gồm các polysaccharide (cellulose và hemicellulose), được biến đổi thành

đường thơng qua



q trình thủy phân hoặc các q trình hóa học (hoặc kết hợp); Các loại đường

được lên men thành Ethanol sử dụng công nghệ lên men hiện đại [106].

Xăng sinh học E5 là hỗn hợp của xăng thông thường pha trộn với 5% nhiên

liệu sinh học Ethanol (cồn E100), mà cụ thể xăng E5 ở Việt Nam là hỗn hợp của

xăng Ron92 pha trộn với 5% nhiên liệu sinh học Ethanol.

Tác dụng của nhiên liệu sinh học, xăng sinh học E5

Tính đến ngày 1/1/2018, nhiên liệu sinh học được sử dụng tại hơn 65

quốc gia trên thế giới [88]. Việc sử dụng nhiên liệu sinh học khơng chỉ góp phần

bảo vệ mơi trường, mà còn giúp phát triển kinh tế nơng thơn và bảo đảm an

ninh năng lượng [7]. Dưới đây là một số nghiên cứu về lợi ích của việc sử dụng

nhiên liệu sinh học so với sử dụng các nhiên liệu truyền thống:

Góp phần bảo vệ mơi trường

Người ta ước tính khí thải từ các hoạt động có liên quan các sản phẩm

dầu mỏ và nhiên liệu hóa thạch chiếm khoảng 70% tổng lượng khí thải trên

tồn thế giới. Khí thải là nguyên nhân trực tiếp gây ra những biến đổi khí hậu,

hiệu ứng nhà kính và hàng loạt các vấn đề về môi trường. Một trong những

nguồn năng lượng mới có thể thay thế nhiên liệu hóa thạch là nhiên liệu sinh học.

Nhiên liệu sinh học là nguồn năng lượng khơng cạn kiệt và ít gây ơ nhiễm mơi

trường [8]. Nghiên cứu của Marcelo và cộng sự [9], cho rằng đóng góp chính

cho sự nóng lên tồn cầu được coi là mức phát thải khí nhà kính cao, đặc biệt là

khí cácbon đioxit (CO2), gây ra do việc đốt nhiên liệu hóa thạch. Do đó, để giảm

thiểu phát thải CO2, các nguồn năng lượng tái tạo như Ethanol đã được xem như

là một sự lựa chọn đầy hứa hẹn để thay thế cho tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch.

Sản xuất Ethanol sinh học từ sinh khối là một cách để giảm tiêu thụ dầu

thô và ô nhiễm môi trường. Sử dụng hỗn hợp nhiên liệu sinh học Ethanol pha trộn

cho ô tô có thể làm giảm đáng kể việc sử dụng xăng dầu và thải khí thải nhà kính.

Ethanol sinh học có một số lợi thế rõ ràng so với xăng dầu có nguồn gốc từ dầu

mỏ trong việc giảm phát thải khí nhà kính và cải thiện chất lượng khơng khí ở các

khu vực đơ thị [101]. Xăng sinh học E5 được coi là thân thiện với môi trường

bởi qua thí nghiệm, động cơ sử dụng xăng sinh học E5 tạo ra rất ít khí thải CO và



HC, ít hơn hẳn các loại xăng thông dụng như A92 và A95 tới 20% [42].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bài học kinh nghiệm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×