Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG BỀN VỮNG DÂN CƯ

Chương 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG BỀN VỮNG DÂN CƯ

Tải bản đầy đủ - 0trang

sách.

Theo cách phân loại ở giáo trình chính sách kinh tế thì các cơng cụ chính sách

bao gồm: cơng cụ kinh tế, cơng cụ hành chính – tổ chức, cơng cụ tâm lý, giáo dục,

công cụ kỹ thuật được thể hiện ở bảng 2.1.



45



Bảng 2.1: Phân loại cơng cụ chính sách

Loại công cụ



Nội dung



Các công cụ kinh tế



Các ngân sách, hệ thống đòn bẩy và khuyến khích kinh tế

như thuế, lãi suất, giá cả, tiền lương, tỷ giá.....



Các công cụ hành

chính – tổ chức



Các cơng cụ tổ chức như mơ hình tổ chức, cơ cấu bộ máy,

đội ngũ cán bộ công chức

Các kế hoạch, quy hoạch của nhà nước và hệ thống văn bản

quy phạm pháp luật



Các công cụ tâm lý,

giáo dục



Hệ thống thông tin đại chúng, thông tin chuyên ngành, hệ

thống giáo dục, hệ thống các tổ chức chính trị xã hội, đồn

thể .....



Các cơng cụ kỹ thuật,

nghiệp vụ đặc trưng

cho từng chính sách



Ví dụ về các cơng cụ kỹ thuật quản lý môi trường gồm các

đánh giá môi trường, kiểm tốn mơi trường, các hệ thống

quan trắc (monitoring) môi trường, xử lý chất thải, tái chế

và tái sử dụng chất thải.

Nguồn: Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2014)



Để thực thi chính sách, có thể sử dụng nhiều loại cơng cụ khác nhau. Đối với

từng chính sách, nhà nước có thể sử dụng một hoặc nhiều cơng cụ chính sách

để thực hiện. Ví dụ khi đưa cơng cụ kinh tế vào thực hiện một chính sách nào đó

thì có thể sử dụng kết hợp đồng thời với cơng cụ hành chính và cơng cụ truyền

thơng.

Trong các loại cơng cụ chính sách nói trên, cơng cụ kinh tế thường được sử

dụng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Cơng cụ kinh tế là những phương tiện

chính sách có tác dụng làm thay đổi lợi ích và chi phí của các hoạt động kinh tế

thường xuyên tác động đến mơi trường nhằm mục đích tăng cường trách nhiệm

và ý thức của con người trước những hành động gây ảnh hưởng xấu tới môi

trường. Công cụ kinh tế thường sử dụng sức mạnh của thị trường để nhằm đạt

được các mục tiêu về mơi trường. Chính vì vậy trong bối cảnh cơ chế thị trường

hiện nay, công cụ kinh tế là một trong những phương tiện mang lại hiệu quả cao

để bảo vệ mơi trường.

2.1.2. Mục tiêu, vai trò của chính sách

46



Chính sách kinh tế - xã hội là một trong những công cụ quản lý quan trọng

của Nhà nước. Công cụ này gồm các chức năng cơ bản: chức năng định hướng,



47



chức năng điều tiết, chức năng tạo tiền đề cho sự phát triển và chức năng

khuyến khích sự phát triển [21].

- Chức năng định hướng:

Chính sách xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định của

các chủ thể kinh tế - xã hội, vạch ra phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết

định, nhắc nhở các chủ thể những quyết định nào là có thể và những quyết định

nào là khơng thể. Chính sách hướng suy nghĩ và hành động của mỗi thành viên

trong xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu chung. Với chức năng chính trongviệc

định hướng hành vi của các chủ thể kinh tế xã hội như trên, có thể khẳng định

chính sách kinh tế- xã hội là cơng cụ quan trong nhất để đạt được những mục tiêu

phát triển quốc gia.

- Chức năng điều tiết:

Việc ban hành Chính sách sẽ tạo ra những điều kiện hợp lý cho quá trình

thực hiện các hoạt động xã hội. Các quy định trong chính sách sẽ kịp thời giải quyết

những vấn đề phát sinh trong đời sống kinh tế - xã hội, điều tiết sự mất cân

đối trong những hành vi không phù hợp nhằm điều chỉnh các hoạt động xã hội vận

hành theo đúng mục tiêu đề ra.

Nền kinh tế thị trường hiện nay bao gồm những mặt tích cực cần phát

huy và cả những khiếm khuyết/ tiêu cực đòi hỏi phải có sự điều tiết của nhà

nước. Nhà nước trong khi thực hiện chính sách sẽ phải điều tiết trạng thái và

phương hướng phát triển kinh tế xã hội và tạo sự công bằng xã hội qua việc

lựa chọn phát huy những tác dụng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực

của thị trường và tạo ra sự công bằng trong xã hội.

- Chức năng tạo tiền đề cho sự phát triển

Nhà nước cần tạo mọi điều kiện thiết yếu cho sự phát trển của các lĩnh

vực cơ bản của một quốc gia như giáo dục đào tạo, khoa học - công nghệ, kết

cấu hạ tầng, hệ thống thông tin và thị trường. Để đạt được thành công, Nhà

nước phải tạo tiền đề cho sự phát triển bằng cách đi tiên phong trong các lĩnh vực

48



mới, đòi hỏi đầu tư lớn, có sự mạo hiểm cao và lơi cuốn các thành phần kinh tế

khác cùng tham gia thông qua các chính sách hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp như

hỗ trợ về vốn, nghiên



49



cứu áp dụng công nghệ kỹ thuật mới, nguyên liệu thô, xuất khẩu,... Như vậy, một

trong những chức năng mang tính truyền thống và quan trọng nhất của các

chính sách là tạo tiền đề xây dựng và nâng cấp các yếu tố quyết định cho sự phát

triển các lĩnh vực cơ bản như đã nói.

- Chức năng khuyến khích sự phát triển

Đặc trưng của chính sách của Nhà nước với chức năng là công cụ quản lý

chủ yếu có vai trò kích thích tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế - xã

hội.Vai trò khuyến khích sự phát triển của chính sách thể hiện ở chỗ một mặt

tạo điều kiện phát triển cho sự vật khi hướng vào việc giải quyết một sự vật/hiện

tượng bức xúc. Mặt khác, quá trình giải quyết sự vật/hiện tượng đã tác động lên

các vấn đề khác, làm nảy sinh những nhu cầu phát triển mới.

Vai trò quản lý kinh tế trong chính sách kinh tế rất đa dạng và phong phú.

Trước hết, nó có vai trò bao quát, vĩ mô trong định hướng cho hoạt động kinh tế

xã hội của đất nước, nhằm hướng tất cả các hoạt động kinh tế xã hội của đất nước

theo mục tiêu đặt sẵn; Tiếp đó, nó tổ chức để xử lý, giải quyết các vấn đề kinh

tế lớn nhằm đưa ra các phương pháp và biện pháp thực hiện các chính sách kinh

tế xã hội mang tầm vĩ mơ, xử lý và giải quyết các vấn đề lớn của kinh tế như: các

chính sách đầu tư, chính sách thương mại, chính sách tài chính-tiền tệ. Quản lý

kinh tế cũng hỗ trợ để phát triển các mục tiêu kinh tế đã được xác định bằng

chính sách kinh tế và do đó có giá trị như là những quyết định trong dài hạn của

nhà nước nhằm tổ chức quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân theo mục

tiêu định hướng.

Như vậy những quyết định kinh tế ở tầm vĩ mơ do nhà nước đưa ra là

chính sách kinh tế quốc gia. Nó nhằm thực hiện các chương trình, kế hoạch trong

một thời gian dài theo mục tiêu đã xác địnhgồm ổn định, tăng trưởng và công

bằng xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, thường có những chính sách kinh tế vĩ

mơ như: chính sách thương mại, chính sách đầu tư, chính sách tài chính - tiền tệ,

Nhà nước có thể sử dụng nhiều cơng cụ chính sách khác nhau nhằm đạt được

50



thành công trong mục tiêu kinh tế vĩ mơ. Mỗi chính sách phải có những cơng cụ

riêng biệt và đặc thù đối với từng vùng kinh tế - xã hội.



51



2.2.Cơ sở lý luận về tiêu dùng bền vững của dân cư

2.2.1. Khái niệm về tiêu dùng và tiêu dùng bền

vững Khái niệm tiêu dùng dân cư

Theo từ tiếng Việt, tiêu dùng là việc sử dụng những của cải vật chất (hàng

hóa và dịch vụ) để thỏa mãn các nhu cầu của sản xuất và đời sống [69]. Tiêu dùng

là khâu quan trọng của tái sản xuất, là một động lực của q trình sản xuất và kích

thích cho sản xuất phát triển.Theo khái niệm này thì tiêu dùng bao gồm tiêu dùng

cho sản xuất và tiêu dùng cho đời sống hay chi tiêu của doanh nghiệp và chi tiêu

của cá nhân hộ gia đình. Đề tài chỉ xem xét đến vấn đề chi tiêu của cá nhân hộ

gia đình, thành phần chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng sản phẩm quốc

dân (khoảng xấp xỉ 70%) và do vậy những thay đổi của tiêu dùng cá nhân sẽ

ảnh hưởng trực tiếp đến các biến động của tổng thể nền kinh tế [14].

Tiêu dùng là một hành vi rất quan trọng của con người. Theo thuyết lý kinh tế

học vĩ mô, hành động mua sắm và sử dụng các sản phẩm dù là hàng hóa hay dịch

vụ được tạo ra trong quá trình sản xuất để phục vụ người tiêu dùng là nhằm

thỏa mãn nguyện vọng, trí tưởng tượng riêng và các nhu cầu về tình cảm, vật

chất của một cá nhân hoặc hộ gia đình trong xã hội đó [14]. Trong thực tế, hành vi

tiêu dùng của từng cá nhân lại rất khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu và sở thích

của họ.

Mục tiêu của người tiêu dùng: Lý thuyết lợi ích giả định rằng mỗi người sử

dụng hàng hóa đều muốn sở hữu loại hàng hóa tốt nhất có thể dựa trên thu nhập,

và rằng tất cả các hàng hóa dịch vụ đều đem lại lợi ích hay sự thỏa mãn cho các

cá nhân khi tiêu dùng. Lợi ích ở đây được giả định có thể lượng hóa được (độ

thỏa dụng), một khái niệm có thể đo được, tạm gọi là đơn vị lợi ích.

Theo khái niệm của kinh tế học vĩ mô, ngoại trừ nhân tố Chính phủ, thành

phần kinh tế nước ngồi thì tiêu dùng về hàng hóa và dịch vụ gồm nhu cầu tiêu thụ

của hộ gia đình và nhu cầu đầu tư cho sản xuất, dịch vụ mới; Luận án này chỉ đi sâu

xem xét tiêu dùng của hộ gia đình (tiêu dùng dân cư), là mua sắm hàng hóa và dịch

vụ cho nhu cầu của mỗi cá nhân. Mức tiêu dùng này được quyết định bởi mức

thu nhập của mỗi cá nhân (mức thu nhập khả dụng). Do đótiêu dùng thường tăng

đồng biến với tăng thu nhập khả dụng.

52



"Quy luật tâm lý cơ bản" của Keynes cho rằng có một số quy luật chi phối liên

quan đến thu nhập và tiêu dùng. Chẳng hạn mức tiêu dùng sẽ tăng lên khi thu

nhập



53



tăng lên, nhưng nó vẫn sẽ thấp hơn mức thu nhập tăng thêm vì có một phần

thu nhập phải dành cho tiết kiệm. Một quy luật khác nữa là, khi thu nhập tăng lên,

tỷ lệ tiêu dùng trong tổng thu nhập sẽ giảm đi, còn tỷ lệ tiết kiệm sẽ tăng lên.

Khi thu nhập thấp thì tiêu dùng thường chiếm tỷ lệ cao bởi các ước muốn thỏa

mãn nhu cầu cấp thiết cơ bản của người dân thường mạnh hơn động cơ tích lũy.

Ðộng cơ tích lũy chỉ mạnh hơn khi các nhu cầu cấp thiết và cơ bản đã được đáp

ứng ở một mức độ nhất định. Vì vậy mức tiêu dùng tuyệt đối đồng biến gần với

mức thu nhập nhưng tỷ lệ thu nhập dành cho tiêu dùng lại nghịch biến với thu

nhập.

Có hai giả thuyết hiện đại về hàm tiêu dùng sẽ làm rõ thêm một số khía

cạnh của tiêu dùng đó là:

Thứ 1: Giả thuyết về thu nhập lâu dài được giáo sư Milton Friedman phát

triển cho rằng tiêu dùng thường phụ thuộc vào thu nhập lâu dài mà khơng phụ

thuộc thu nhập khả dụng hiện có. Người ta dễ dàng nhận thấy thu nhập hiện có

chỉ là khoản thu nhập tạm thời nên họ sẽ tiết kiệm phần lớn khoản này hoặc sẽ chỉ

để chi tiêu khi thu nhập ở mức q thấp hoặc khơng có thu nhập. Ngược lại khi

người ta tin rằng khoản thu nhập hiên có sẽ tăng và có thể cao hơn trong tương lai

thì khi đómức tiêu dùng mới gia tăng đáng kể từ nguồn thu nhập hiện có.

Thứ 2: Giả thuyết về vòng đời được giáo sư Franco Modigliani và Albert

Ando phát triển gần với giả thiết về thu nhập lâu dài. Giả thuyết này đưa ra dự

đoán về khoản thu nhập và và kế hoạch tiêu dùng trong cả cuộc đời (kể cả di sản

cho con cháu) sẽ bằng số thu nhập suốt đời họ kiếm được (cộng với của cải có sẵn

hay thừa kế). Trong thực tế, kế hoạch tiêu dùng của mỗi một hộ gia đình riêng lẻ

đều khác nhau theo từng thời gian vì có năm phải chi tiêu nhiều hơn (do mua

nhà ở, sắm đồ dùng gia đình...), có năm chi tiêu ít hơn nhưng được bù trừ

trong tổng thể. Giả thuyết vòng đời cho rằng chính khoản thu nhập bình qn

dài hạn sẽ quyết định tổng cầu về lượng chi cho tiêu dùng.

Lựa chọn của người tiêu dùng khi thay đổi các yếu tố giá cả, thu nhập, sở

54



thích

Theo lý thuyết kinh tế học vi mô, đường cầu mô tả mối quan hệ giữa giá cả

và lượng cầu. Khi giá cả hàng hóa giảm xuống thì lượng cầu sẽ tăng lên. Các yếu tố



55



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG BỀN VỮNG DÂN CƯ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×