Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cấu trúc của Luận văn

Cấu trúc của Luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ

SỞ Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ CẤP TIỂU

HỌC

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Dân chủ, dân chủ ở cơ sở và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

(QCDCCS) là vấn đề hiện đang được nhiều nhà khoa học, những người làm

cơng tác lý luận quan tâm, dù ở những góc độ, khía cạnh khác nhau.

Hướng nghiên cứu về vai trò của dân chủ trong đời sống xã hội: V.I.

Lênin: Bàn về dân chủ trong quản lý xã hội; Nguyễn Đăng Quang: Một cách

tiếp cận khái niệm dân chủ [42], Vũ Minh Giang: Thiết chế làng xã cổ truyền

và quá trình dân chủ hóa hiện nay ở nước ta [28]; Lê Văn Tuấn: Tư tưởng Hồ

Chí Minh về thực hành dân chủ. [47]

Hướng nghiên cứu về cách thức, phương pháp thực hiện dân chủ trong đời

sống: Đề tài "Thực hiện QCDC và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện

nay" [46] do Nguyễn Văn Sáu và Hồ Văn Thông đồng chủ trì; Đề tài khoa học

độc lập cấp Nhà nước về "Củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở

trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay" [6] do Hồng Chí

Bảo - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, nghiệm thu

2002. Đề tài "Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hóa đời sống xã hội nông

thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta" của

Nguyễn Quốc Phẩm chủ biên [40].

Hướng nghiên cứu về dân chủ cơ sở: Đề tài "Hệ thống chính trị cơ sở Đặc điểm, xu hướng và giải pháp" [15] của Vũ Hoàng Cơng - Học viện Chính

trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002. "Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp

xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Dương Xuân Ngọc; Vũ Văn

Hiền (chủ biên): Phát huy dân chủ ở xã, phường và cuốn Dân chủ ở cơ sở

qua kinh nghiệm của Thuỵ Điển và Trung Quốc; Quá trình thực hiện quy chế

dân chủ ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay (Đề tài cấp bộ năm

2002 - 2003) do Viện chủ nghĩa xã hội khoa học Học viện Chính trị quốc gia

8



Hồ Chí Minh chủ trì) [30]



9



Các cơng trình nghiên cứu kể trên đã đi sâu nghiên cứu về việc thực hiện

QCDCCS gắn với tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung, ở cấp xã nói

riêng. Các tác giả đã lý giải về tính tất yếu phải xây dựng và thực hiện quy chế

dân chủ ở cơ sở, qua thực tiễn khảo sát việc thực hiện quy chế ở các địa phương,

vùng miền trong cả nước để đưa ra những thành tựu đã đạt được của việc thực

hiện quy chế dân chủ ở cơ sở cũng như rút ra những bất cập, hạn chế, vướng

mắc của Quy chế. Ở đấy, các tác giả cũng chỉ ra phương hướng và biện pháp

nhằm đảm bảo thực hiện QCDCCS ở cơ sở chủ yếu là ở xã, phường, thị trấn.

Tuy nhiên, ít có cơng trình nào nghiên cứu về thực hiện QCDCCS trong

các hệ thống trường học và nhất là chưa có cơng trình, bài viết nào đi sâu

nghiên cứu QCDCCS trong các trường PTDTBT cấp tiểu học.

Đề tài nghiên cứu này hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm cả về lý

luận và thực tiễn vấn đề thực hiện QCDCCS ở các trường PTDTBT cấp tiểu

học trên địa bàn huyện Nậm Pồ- tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường

* Quản lý

Hoạt động quản lý hình thành từ sự phân cơng hợp tác lao động, từ sự xuất

hiện của tổ chức, cộng đồng. Với nhu cầu hướng đến hiệu quả tốt hơn, năng suất

cao hơn trong sự hợp tác lao động của cộng đồng đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối

hợp, phân cơng, kiểm tra, điều chỉnh… Do đó xuất hiện vai trò người quản lý.

Các Mác quan niệm: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động

chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến

một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức

năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của

những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy

mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. [6]

10



Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một

định nghĩa thống nhất. Một số tác giả cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự

hồn thành cơng việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Một số tác giả khác

cho quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực

cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng, quản lý

là hoạt động có mục đích của con người “Quản lý chính là các hoạt động do một

hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết

quả mong muốn”. Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư

cách là một hành động, chúng tôi đồng ý với quan niệm: “Quản lý là sự tác động

có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt

mục tiêu đề ra”.

Quản lý là: Tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lập kế hoạch, ra quyết

định tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) nhằm sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ

chức (con người, tài chính, vật chất và thơng tin) để đạt được những mục tiêu

của tổ chức một cách có hiệu quả [3, tr.34].

* Quản lý giáo dục:

Thuật ngữ quản lý giáo dục (QLGD) cũng có một số tác giả định nghĩa

như sau:

M.I.Kônđacôp cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có

kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau

trên tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình

thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy

luật chung của chương trình cũng như những quy luật của quá trình giáo

dục,của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em” [31, tr.12]

Theo tác giải Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa

tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc

đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [3, tr45]

Trong phạm vi đề tài, chúng tôi đi theo khái niệm quản lý giáo dục của

Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ

thống vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính

11



chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình

dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên

trạng thái mới về chất”. [43, tr.28]

Quản lý giáo dục là quản lý quá trình hoạt động dạy và học bao gồm

quản lý tất cả các thành tố của hoạt động dạy - học, do đó những tác động của

nó lên hệ thống là những tác động kép, nhằm tạo ra một sức mạnh tổng hợp,

chủ thể quản lý phải chú ý đến mối quan hệ quản lý dạy và học trong hoạt động

giáo dục, quan hệ giữa các cấp quản lý, quan hệ giữa nội bộ và bên ngoài; các

vấn đề kỹ năng, phong cách, chiến lược, ưu tiên trong quản lý.

Tóm lại, Quản lý giáo dục là dạng lao động xã hội đặc biệt trong lĩnh

vực giáo dục nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển hệ thống giáo dục và các thành

tố của nó, định hướng và phối hợp lao động của những người tham gia công

tác giáo dục để đạt được mục tiêu giáo dục và mục tiêu phát triển giáo dục,

dựa trên thể chế giáo dục và các nguồn lực giáo dục [15;8].

* Quản lý nhà trường

Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước - xã hội,

là nơi trực tiếp làm cơng tác GD-ĐT và giáo dục thế hệ trẻ. Nó nằm trong mơi

trường xã hội và có tác động qua lại với mơi trường đó. Theo Nguyễn Ngọc

Quang “Trường học là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý

giáo dục, vừa là hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Do đó quản lý nhà trường

nhất thiết phải vừa có tính nhà nước vừa có tính xã hội” [43, tr33].

Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp

và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục

khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng

giáo dục và đào tạo trong nhà trường.

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo

dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận

hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo

dục, đối với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [29, tr17].

12



Hoạt động quản lý nhà trường chịu tác động của những chủ thể QL bên

trên nhà trường (các cơ quan QLGD cấp trên) nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện

cho hoạt động của nhà trường và bên ngoài nhà trường (các thực thể bên ngoài

nhà trường, cộng đồng) nhằm xây dựng những định hướng về sự phát triển của

nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhà trường phát triển.

Để hoạt động QL nhà trường đạt được mục tiêu và mang lại hiệu quả

cao, nhân tố quan trọng hàng đầu chính là đội ngũ CBQL nhà trường. Quá trình

quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của thầy

giáo, quản lý hoạt động học tập - tự học tập của học trò và quản lý CSVC - thiết

bị phục vụ dạy và học. Trong đó người CBQL phải trực tiếp và ưu tiên nhiều

thời gian để quản lý hoạt động của lực lượng trực tiếp đào tạo.

Như vậy, quản lý trường học chính là quản lý giáo dục nhưng trong một

phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nền tảng, đó là nhà trường.Vì thế,

quản lý giáo dục vừa vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý cũng

như của quản lý giáo dục, vừa có nét đặc thù riêng.

Quản lý trường học phải là quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát

triển nhân cách thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả. Thành công

hay thất bại của bất kỳ một sự cải tiến nào trong ngành giáo dục đều phụ thuộc

rất lớn vào những điều kiện đang tồn tại, phổ biến trong các nhà trường. Vì

vậy, muốn thực hiện có hiệu quả cơng tác giáo dục phải xem xét những điều

kiện đặc thù của mỗi nhà trường, phải chú trọng việc thực hiện, cải tiến công tác

quản lý giáo dục đối với nhà trường, nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân.

Tóm lại, từ các định nghĩa trên về quản lý trường học mà các nhà nghiên

cứu giáo dục đã nêu, ta có thể thấy rằng: Quản lý trường học thực chất là hoạt

động có định hướng, có kế hoạch của các chủ thể quản lý nhằm tập hợp và tổ

chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác cũng như huy

động tối đa các nguồn lực giáo dục, để nâng cao chất lượng giáo dục nhà

trường”.

13



1.2.2. Khái niệm dân chủ

Dân chủ từ bao đời nay luôn là đề tài hấp dẫn đối với các học giả trong

và ngoài nước bởi dân chủ liên quan mật thiết tới cuộc sống của con người và sự

phát triển của xã hội. Vấn đề dân chủ đã, đang và sẽ còn là một vấn đề thời sự

được quan tâm tìm tòi, nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của mọi quốc gia, trong

đó có đất nước Việt Nam.

Dân chủ là khái niệm xuất hiện từ thời cổ đại. Theo tiếng Hy Lạp cổ, dân

chủ là do hai từ hợp thành: Demos là nhân dân và Kuatos là quyền lực hay chính

quyền. Dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân, là một trong những hình

thức tổ chức chính trị nhà nước của xã hội mà đặc trưng là việc tuyên bố chính

thức nguyên tắc thiểu số phải phục tùng đa số, thừa nhận quyền tự do bình

đẳng của cơng dân, thừa nhận nhân dân là cội nguồn của quyền lực. Khi bàn về

khái niệm dân chủ là gì, các nhà khoa học đề xuất khá nhiều ý kiến [39, tr.45]:

- Ý kiến thứ nhất cho rằng, dân chủ là sản phẩm của quan hệ giai cấp, là

tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền đối với xã hội.

- Ý kiến thứ hai hiểu khái niệm dân chủ bao hàm ba nội dung cơ bản là

nội dung chính trị (dân chủ chính trị), nội dung văn minh nhân đạo (dân chủ

xã hội là thành quả quan trọng nhất của văn minh và nhân đạo của loài

người) và nội dung xã hội của dân chủ (dân chủ xã hội là hình thức tồn tại

của xã hội hiện đại).

- Ý kiến thứ ba cho rằng, dân chủ cần được xem xét theo nhiều khía

cạnh, nhưng với nghĩa chung nhất, phổ biến nhất, dân chủ là quyền lực thuộc

về nhân dân.

- Ý kiến thứ tư của một số nhà khoa học, tôn vinh dân chủ là một cơng

trình bi tráng trong hàng chục vạn năm của lồi người. Đó là khát vọng, lý

tưởng chung mà hàng triệu con tim và khối óc cùng hướng tới, đấu tranh không

mệt mỏi để giành lấy dù phải hy sinh xương máu. Dân chủ là khát vọng mà

chính chúng ta đang vươn tới.

14



- Ý kiến thứ năm cho rằng, dân chủ khơng chỉ là một vấn đề chính trị hay

xã hội, mà xét theo bề sâu chính là một vấn đề văn hóa. Bởi thế, xử lý vấn đề

dân chủ không thể tách rời khỏi mối quan hệ truyền thống - hiện đại trong văn

hóa. Dân chủ còn là một yếu tố của văn hóa, một thành tựu của văn hóa đã có

từ lâu đời trong truyền thống văn hóa của dân tộc. Theo các nhà kinh điển: Dân

chủ là sản phẩm tự quyết của nhân dân, phản ánh sự tồn tại của con người với

tất cả ý trí, tài năng và lợi ích của họ; dân chủ là sản phẩm của đấu tranh giai

cấp; quyền dân chủ bị chế định bởi tương quan giai cấp, trạng thái phát triển của

sản xuất và trình độ văn hóa chung, trước hết là văn hóa chính trị của nhân

dân; dân chủ là một hình thức Nhà nước mà ở đó thừa nhận quyền ngang nhau

của dân cư trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý xã hội.

Như vậy, dân chủ là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, có nội dung rộng lớn

và ln ln mới, gắn với những tiến bộ về lịch sử và văn hóa của lồi người.

Để hiểu rõ bản chất, nội dung và tính chất của dân chủ, phải xem xét nó dưới

nhiều góc độ, khía cạnh: Là phương thức của phong trào chính trị xã hội của

quần chúng; là hình thức nhà nước, hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực

xã hội; là một hệ thống quyền hành, tự do và trách nhiệm của công dân được

quy định bởi hiến pháp và pháp luật; là nguyên tắc tổ chức toàn thể xã hội và

với tư cách là một chế độ chính trị.

Tuy tiếp cận vấn đề dân chủ dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng chung

quy lại các ý kiến đều thống nhất ở luận điểm: Dân chủ là quyền lực thuộc về

nhân dân. Như vậy, dù xem xét dân chủ dưới góc độ nào thì thực chất bản

chất, nội dung, tính chất và khuynh hướng phát triển của dân chủ là hồn tồn

phụ thuộc vào chỗ quyền lực chính trị thuộc về tầng lớp nào, giai cấp nào và

phục vụ cho tầng lớp nào, giai cấp nào trong xã hội đó. Và điều đó lại lần nữa

chứng minh thêm cho tính đúng đắn của luận điểm: Sự khác nhau về chất giữa

dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản. Trên thực tế thì chưa có một xã

hội nào đạt được tình trạng dân chủ tuyệt đối do nhiều lý do khách quan và

chủ quan như: Trình độ phát triển kinh tế - xã hội, năng lực nhận thức của

cơng dân và của chính quyền, truyền thống lịch sử, văn hóa pháp quyền...Vì thế,

15



đối với đất nước Việt Nam ta thì dân chủ còn được hiểu như một mục tiêu phấn

đấu của dân tộc như đã ghi rõ trong Hiến pháp là: Thực hiện mục tiêu dân giàu,

nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Những mục tiêu đó đều có

mối liên hệ, gắn bó lơgic với nhau. Dân có giàu thì nước mới mạnh. Có dân chủ

thì mới có cơng bằng xã hội. Có dân chủ thực sự thì dân mới giàu và quốc gia

mới mạnh, đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói lúc sinh thời: Dân chủ là

tài sản quý báu nhất của nhân dân, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cách mạng,

là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Thực hiện dân chủ và phát

huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động của đời sống xã hội là nhiệm

vụ trọng tâm, nhằm động viên sức mạnh đoàn kết, sáng tạo của cả dân tộc vượt

lên khó khăn, thử thách. “Dễ trăm lần khơng dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu

cũng xong”. Đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng và dân chủ là những yếu tố

không thể thiếu được của một nền văn minh và một đất nước phồn thịnh. Với

mục tiêu phấn đấu như vậy, việc phát huy dân chủ ở cơ sở được coi là chủ

trương, biện pháp và là hành động tất yếu của nhân dân và chính quyền trong

quá trình phát triển của đất nước Việt Nam. Dân chủ được bảo đảm và phát huy

bằng nhiều biện pháp. Tuy nhiên, việc thực thi dân chủ phải luôn gắn liền với

mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân. Ở nước ta hiện nay, hệ thống chính trị

dựa trên thiết chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Việc

phát huy, thực hiện dân chủ được tiến hành không tách rời khỏi thiết chế này.

Dân chủ và khát vọng được làm chủ, là quyền tự nhiên của con người

trong đó có quyền sử dụng tất cả sức mạnh để thực hiện vai trò của người

chủ và quyền làm chủ đã lần lượt được nhiều giai cấp thống trị trong lịch sử

nhận thức và thể chế hóa thành nguyên tắc tổ chức và vận hành của Nhà

nước cùng các thiết chế chính trị khác nhau.

Từ các nghiên cứu trên, trong phạm vi đề tài theo khái niệm dân chủ

của Chủ tịch Hồ Chí Mình dân chủ: Là quyền lực thuộc về nhân dân, quyền

làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước, dân

chủ là một hình thức Nhà nước gắn với giai cấp thống trị do đó dân chủ ln

mang bản chất giai cấp. [47, tr.45]

16



- Khái niệm về dân chủ cơ sở:

Chủ nghĩa xã hội xác định mục tiêu xây dựng một nền dân chủ XHCN

"cao gấp triệu lần dân chủ tư sản" (V.I. Lênin). Đó là một nền dân chủ toàn diện

và triệt để trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội; tạo điều

kiện cho mọi thành viên trong xã hội làm chủ bản thân, làm chủ xã hội và làm

chủ tự nhiên. [40, tr.45]

Trong chế độ dân chủ XHCN, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của

mình bằng 2 hình thức: Hình thức gián tiếp và hình thức trực tiếp. [16, tr.34]

Hình thức gián tiếp thơng qua bầu cử các cơ quan, tổ chức đại diện thực

hiện quyền tổ chức và quản lý xã hội.

Hình thức trực tiếp,bảo đảm cho nhân dân có quyền tham gia quản lý xã

hội một cách thiết thực và hiệu quả, trước hết là ở cơ sở theo phương châm dân

biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Nền dân chủ XHCN ở nước ta được khẳng định trong đường lối của

Đảng, Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước. Hệ thống chính quyền ở nước ta

gồm 4 cấp: Trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc), huyện (thị, quận) và xã

(phường) đều vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ - nguyên tắc cơ bản

của nền dân chủ XHCN. Hiệu quả của dân chủ thể hiện trực tiếp đến nhân dân

là ở cấp cơ sở. Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước có đi vào cuộc

sống hay không tùy thuộc chủ yếu vào sự quán triệt và thực hiện như thế nào

ở cấp cơ sở. Cơ sở xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp v.v.. là nơi trực tiếp

thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; là địa bàn nhân dân

sinh sống, lao động, sản xuất, học tập và công tác; là nơi diễn ra các mối quan

hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân với các cấp ủy Đảng và chính quyền,

cán bộ, đảng viên, công chức điều hành và xử lý cơng việc hàng ngày. Nhân

dân đòi hỏi được biết, được bàn và được tham gia giải quyết những vấn đề đặt

ra ở cơ sở, đồng thời có yêu cầu kiểm tra, giám sát hoạt động hàng ngày của

cấp ủy, chính quyền và cán bộ lãnh đạo. Điều đó có nghĩa là nhân dân có

quyền làm chủ từ cơ sở và ở cơ sở.

17



Như vậy, Dân chủ cơ sở là quyền dân chủ trực tiếp của người dân, được

tiến hành từ cấp xã, phường trở xuống (đến cấp thơn xóm, đơn vị, cơ quan, nhà

máy, xí nghiệp) theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Dân

chủ ở cơ sở - trước hết là dân chủ trực tiếp - là hình thức nhân dân thực hiện

quyền làm chủ của mình bằng cách trực tiếp thể hiện ý chí (qua ý kiến) nguyện

vọng của mình đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền ở cơ sở.

[39, tr.66]

Có nhiều cách thức để thực hiện dân chủ trực tiếp ở cơ sở như: Trưng

cầu dân ý; bầu và bãi miễn đại biểu cơ quan dân cử; bàn bạc - thảo luận tham gia quyết định - giám sát - kiểm tra việc thực hiện các vấn đề phát triển

kinh tế - xã hội, trật tự an ninh ở cơ sở; tố cáo - khiếu nại; xây dựng quy

định, quy ước tự quản... và cơ sở ở đây là xã, phường; là cơ quan, đơn vị,

trong đó có trường học, trường PTDTBT cấp tiểu học.

1.2.3. Khái niệm về quy chế dân chủ cơ sở trong trường học

* Quy chế

Theo giải thích tại Từ điển tiếng Việt: quy chế là những điều đã được

quy định thành chế độ để mọi người theo đó mà thực hiện trong những hoạt

động nhất định nào đó. [52, tr.218]

Như vậy quy chế là: quy phạm điều chỉnh các vấn đề liên quan đến chế

độ chính sách, cơng tác tổ chức hoạt động, công tác nhân sự, phân công và

phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn, định mức, đơn giá áp dụng. Đồng thời, quy chế

đưa ra yêu cầu cần đạt được và có tính định khung mang tính nguyên tắc. [46,

tr.36]

* Trường học

Giáo dục trong nhà trường là con đường cơ bản nhất, vững bền nhất để

hình thành người lao động có kỹ thuật, có kỷ luật cao đáp ứng những yêu cầu

của phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ giáo dục và đào tạo mà trình độ học vấn của

nhân dân mới được nâng cao, mở ra những khả năng to lớn trong việc nắm bắt

và sử dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới,

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cấu trúc của Luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×