Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Tải bản đầy đủ - 0trang

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Dân chủ khơng chỉ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà còn là

động lực, là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân ta xây

dựng.

Từ lâu, Đảng ta luôn coi trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân,

dựa vào dân, nên đã đưa cách mạng nước ta vượt qua mọi gian nan thử thách,

đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất

nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), dân chủ hóa đời sống xã hội

đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốt

lõi, trọng tâm. Đặc biệt là dân chủ hóa đời sống xã hội từ cơ sở.

Chính vì vậy mà ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 30 CT/TW về

việc xây dựng và thực hiện các quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở. Để cụ thể hóa

Chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Nghị định và Thông tư hướng

dẫn thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các loại hình, trong đó có Nghị định

71/1998/NĐ- CP ngày 08/9/1998 về việc ban hành “Quy chế thực hiện dân chủ

trong hoạt động của cơ quan” và Thông tư số 10/1998/TTCP-TCCB ngày

5/12/1998 của Ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ “Hướng dẫn triển khai Quy chế

thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan”. Thực hiện dân chủ trong cơ quan

sẽ phát huy quyền làm chủ, tác phong, lề lối làm việc của công chức, viên chức,

kỷ cương, kỷ luật được tăng cường; nội bộ cơ quan đoàn kết; ý thức phục vụ nhân

dân ngày càng tốt hơn, là chìa khố để đảm bảo sức sống vững bền của mỗi cơ

quan, tổ chức.

Đối với ngành Giáo dục và Đào tạo, thực hiện dân chủ là một trong

những điều kiện và động lực để nâng cao chất lượng dạy và học và nâng cao

uy tín, vị thế của ngành giáo dục đối với cộng đồng và xã hội. Ngày 01 tháng

3 năm 2000 Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có Quyết định 04/2000/QĐBGD&ĐT

về việc ban hành “Qui chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà

trường” theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”

1



trong các hoạt động của nhà trường.



2



Nậm Pồ là một huyện miền núi, biên giới, nằm ở phía Tây bắc của tỉnh

Điện Biên, dân cư sinh sống chủ yếu là dân tộc miền núi. Dưới sự chỉ đạo của

Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT), trong những năm qua, nhiều trường

PTDTBT (Phổ thông dân tộc bán trú) cấp tiểu học trên địa bàn huyện Nậm Pồ

đã thực hiện cơ bản tốt những nội dung về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở

trong nhà trường, nhờ đó đã tạo đà cho sự ổn định, đoàn kết, từng bước khắc

phục khó khăn, chung sức góp phần vào thành tích chung của ngành Giáo dục

huyện Nậm Pồ. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có một số trường chưa thực

hiện nghiêm túc quy chế dân chủ, còn mang tính hình thức, cán bộ, giáo viên

trong trường không yên tâm công tác, nội bộ mất đoàn kết, phát sinh khiếu

kiện... ảnh hưởng không tốt tới các hoạt động của nhà trường, làm giảm uy tín

của nhà trường cũng như uy tín của cán bộ, giáo viên nhà trường trước học sinh

và xã hội. Điều đó đã đặt ra cần phải tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất được

một số biện pháp hữu hiệu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả cơng tác quản lý thực

hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các trường PTDTBT tại huyện Nậm Pồ.

Xuất phát từ các lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý thực hiện quy

chế dân chủ cơ sở ở các trường Phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học

huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên”.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng việc quản lý của

hiệu trưởng đối với việc thực hiện Quy chế dân chủ trong các trường PTDTBT

cấp tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Hải Dương, từ đó đề xuất một số biện pháp

nhằm quản lý tốt việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở các trường PTDTBT

tiểu học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đổi mới của ngành GD và ĐT nói chung và

ngành GD và ĐT huyện Nậm Pồ nói riêng.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu: Quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở

các trường PTDTBT cấp Tiểu học.

3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở

các trường PTDTBT cấp tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên



3



4. Giả thuyết khoa học của đề tài

Công tác quản lý thực hiện Quy chế dân chủ trong các trường PTDTBT

cấp tiểu học trên địa bàn huyện Nậm Pồ hiện nay còn một số hạn chế như:

tổ chức thực hiện QCDCCS của còn cứng nhắc, thiếu quan tâm tạo điều kiện

cho các tổ chức, cá nhân trong q trình thực hiện, còn có hiện tượng một số

cán bộ quản lý thiếu gương mẫu trong thực hiện các quy tắc, quy định chung

của nhà trường, tạo phản ứng không tốt trong đội ngũ CBGV – CNV…. Nếu

đề xuất được các biện pháp phù hợp với các điều kiện thực tiễn ở các

trường PTDTBT tiểu học và đúng chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà

nước, thì việc thực hiện quy chế dân chủ sẽ có hiệu quả cao hơn, góp phần

đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý giáo dục, đổi mới giáo dục tại các trường

PTDTBT cấp tiểu học trên địa bàn huyện Nậm Pồ.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý các hoạt động triển khai thực hiện Quy

chế dân chủ trong các trường PTDTBT cấp tiểu học hiện nay.

Khảo sát và đánh giá thực trạng việc quản lý thực hiện Quy chế dân chủ

trong các trường PTDTBT cấp tiểu học trên địa bàn huyện Nậm Pồ hiện nay.

Đề xuất một số biện pháp quản lý thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở

ở các trường Phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh

Điện Biên.

6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

6.1. Địa bàn nghiên cứu

Đề tài được triển khai nghiên cứu tại 13 trường PTDTBT tiểu học

huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

6.2. Nội dung

Nghiên cứu các biện pháp quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở

các trường PTDTBT tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

4



6.3. Khách thể khảo sát

Đề tài khảo sát trên nhóm khách thể gồm 48 CBQL, 511 GV của 13

trường PTDTBT tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp các cơng trình nghiên cứu và tài liệu có liên quan

đến hoạt động quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các trường

PTDTBT tiểu học, bao gồm:

- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin; các văn kiện của

Đảng, Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh có liên quan đến đề tài.

- Các tác phẩm về tâm lý học, giáo dục học, khoa học quản lý giáo

dục,… trong và ngồi nước.

- Các cơng trình nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục của các nhà lý

luận, các nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo,… có liên quan đến đề tài như

các luận văn, luận án, các báo cáo khoa học, các chuyên khảo,…

- Các tài liệu về lý luận quản lý, các văn kiện Đại hội Đảng, các văn

bản pháp quy về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, các tài liệu khoa học, bài

báo khoa học và những kết quả đạt được của công tác quản lý thực hiện quy

chế dân chủ, cơ sở.

- Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện quy chế dân chủ cơ sở của

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Điện Biên, Phòng Giáo

dục và Đào tạo Nậm Pồ. Các tài liệu trên được phân tích, nhận xét, tóm tắt

và trích dẫn phục vụ trực tiếp cho việc giải quyết các nhiệm vụ của đề tài.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Khảo sát thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong các

trường PTDTBT cấp tiểu học trên địa bàn huyện Nậm Pồ từ năm 2013 đến

nay, gồm các phương pháp:



5



Phương pháp quan sát: Thu thập thông tin trên cơ sở quan sát trực tiếp

các hoạt động sư phạm, quan sát hoạt động quản lý của cán bộ quản lý để có

thơng tin đầy đủ hơn về thực trạng quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở

các trường PTDTBT cấp tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, làm cơ sở đề

ra các biện pháp quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các trường

PTDTBT cấp tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Thu thập thông tin thông qua

phiếu hỏi ý kiến của giáo viên và cán bộ quản lý trong trường nhằm tìm hiểu

thực trạng quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các trường PTDTBT cấp

tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Đồng thời khảo sát tính khả thi của các

biện pháp quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các trường PTDTBT cấp

tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên

Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi, xin ý kiến trực tiếp của cán bộ quản

lý, giáo viên về quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các trường PTDTBT

cấp tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên nhằm thu thập thêm thông tin và

làm rõ hơn những vấn đề từ phiếu điều tra.

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên gia

nghiên cứu về lĩnh vực quản lý thực hiện Quy chế dân chủ nhằm đánh giá đúng

thực trạng Quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các trường PTDTBT cấp

tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, cũng như khảo nghiệm, kiểm định tính

khả thi của các biện pháp đề xuất.

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tiến hành nghiên cứu, đúc kết

kinh nghiệm quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở của các đơn vị làm tốt

để nhân điển hình.

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động quản lý (hồ sơ quản lý

của các trường thuộc phạm vi nghiên cứu): Tiến hành phân tích các sản

phẩm của hoạt động thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các trường tiểu học,

6



từ đó nắm bắt được các thông tin chung, phục vụ cho việc đánh giá về thực

trạng quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các trường PTDTBT tiểu

học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

7.3. Phương pháp toán thống kê

Xử lý kết quả điều tra và số liệu thu được bằng phương pháp thống kê

tốn học thơng qua các phần mềm Excel bằng cách tính số lượng, % nhằm định

lượng kết quả nghiên cứu.

8. Cấu trúc của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và danh mục tài liệu tham

khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở

các trường Phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học

Chương 2: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các

trường Phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên

Chương 3: Biện pháp quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các

trường PTDTBT cấp tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên



7



Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ

SỞ Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ CẤP TIỂU

HỌC

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Dân chủ, dân chủ ở cơ sở và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

(QCDCCS) là vấn đề hiện đang được nhiều nhà khoa học, những người làm

công tác lý luận quan tâm, dù ở những góc độ, khía cạnh khác nhau.

Hướng nghiên cứu về vai trò của dân chủ trong đời sống xã hội: V.I.

Lênin: Bàn về dân chủ trong quản lý xã hội; Nguyễn Đăng Quang: Một cách

tiếp cận khái niệm dân chủ [42], Vũ Minh Giang: Thiết chế làng xã cổ truyền

và quá trình dân chủ hóa hiện nay ở nước ta [28]; Lê Văn Tuấn: Tư tưởng Hồ

Chí Minh về thực hành dân chủ. [47]

Hướng nghiên cứu về cách thức, phương pháp thực hiện dân chủ trong đời

sống: Đề tài "Thực hiện QCDC và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện

nay" [46] do Nguyễn Văn Sáu và Hồ Văn Thông đồng chủ trì; Đề tài khoa học

độc lập cấp Nhà nước về "Củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở

trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay" [6] do Hồng Chí

Bảo - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, nghiệm thu

2002. Đề tài "Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hóa đời sống xã hội nông

thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta" của

Nguyễn Quốc Phẩm chủ biên [40].

Hướng nghiên cứu về dân chủ cơ sở: Đề tài "Hệ thống chính trị cơ sở Đặc điểm, xu hướng và giải pháp" [15] của Vũ Hồng Cơng - Học viện Chính

trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002. "Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp

xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Dương Xuân Ngọc; Vũ Văn

Hiền (chủ biên): Phát huy dân chủ ở xã, phường và cuốn Dân chủ ở cơ sở

qua kinh nghiệm của Thuỵ Điển và Trung Quốc; Quá trình thực hiện quy chế

dân chủ ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay (Đề tài cấp bộ năm

2002 - 2003) do Viện chủ nghĩa xã hội khoa học Học viện Chính trị quốc gia

8



Hồ Chí Minh chủ trì) [30]



9



Các cơng trình nghiên cứu kể trên đã đi sâu nghiên cứu về việc thực hiện

QCDCCS gắn với tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung, ở cấp xã nói

riêng. Các tác giả đã lý giải về tính tất yếu phải xây dựng và thực hiện quy chế

dân chủ ở cơ sở, qua thực tiễn khảo sát việc thực hiện quy chế ở các địa phương,

vùng miền trong cả nước để đưa ra những thành tựu đã đạt được của việc thực

hiện quy chế dân chủ ở cơ sở cũng như rút ra những bất cập, hạn chế, vướng

mắc của Quy chế. Ở đấy, các tác giả cũng chỉ ra phương hướng và biện pháp

nhằm đảm bảo thực hiện QCDCCS ở cơ sở chủ yếu là ở xã, phường, thị trấn.

Tuy nhiên, ít có cơng trình nào nghiên cứu về thực hiện QCDCCS trong

các hệ thống trường học và nhất là chưa có cơng trình, bài viết nào đi sâu

nghiên cứu QCDCCS trong các trường PTDTBT cấp tiểu học.

Đề tài nghiên cứu này hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm cả về lý

luận và thực tiễn vấn đề thực hiện QCDCCS ở các trường PTDTBT cấp tiểu

học trên địa bàn huyện Nậm Pồ- tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường

* Quản lý

Hoạt động quản lý hình thành từ sự phân cơng hợp tác lao động, từ sự xuất

hiện của tổ chức, cộng đồng. Với nhu cầu hướng đến hiệu quả tốt hơn, năng suất

cao hơn trong sự hợp tác lao động của cộng đồng đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối

hợp, phân cơng, kiểm tra, điều chỉnh… Do đó xuất hiện vai trò người quản lý.

Các Mác quan niệm: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động

chung nào tiến hành trên qui mơ tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến

một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức

năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của

những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy

mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. [6]

10



Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một

định nghĩa thống nhất. Một số tác giả cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự

hồn thành cơng việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Một số tác giả khác

cho quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực

cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng, quản lý

là hoạt động có mục đích của con người “Quản lý chính là các hoạt động do một

hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết

quả mong muốn”. Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư

cách là một hành động, chúng tôi đồng ý với quan niệm: “Quản lý là sự tác động

có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt

mục tiêu đề ra”.

Quản lý là: Tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lập kế hoạch, ra quyết

định tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) nhằm sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ

chức (con người, tài chính, vật chất và thơng tin) để đạt được những mục tiêu

của tổ chức một cách có hiệu quả [3, tr.34].

* Quản lý giáo dục:

Thuật ngữ quản lý giáo dục (QLGD) cũng có một số tác giả định nghĩa

như sau:

M.I.Kônđacôp cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có

kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau

trên tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình

thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy

luật chung của chương trình cũng như những quy luật của quá trình giáo

dục,của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em” [31, tr.12]

Theo tác giải Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa

tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc

đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [3, tr45]

Trong phạm vi đề tài, chúng tôi đi theo khái niệm quản lý giáo dục của

Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ

thống vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×