Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.Cơ sở khoa học của đề tài

Trong nền kinh tế phát triển hiện nay, ngành nông nghiệp Việt Nam đang

được đầu tư với hướng đi đúng đắn và chuyên biệt rõ rệt nhằm tạo ra những sản

phẩm chất lượng, chi phí thấp, lợi nhuận cao. Song song với việc phát triển nông

nghiệp là sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực phân bón, trong đó phân bón hữu cơ

đã được nơng dân sử dụng từ rất lâu đời trong quá trình trồng trọt như dùng trực

tiếp các loại phân gia súc, gia cầm, ủ cây, lá…

Từ khi có phân hóa học ra đời nâng cao được năng suất thì vai trò phân hữu

cơ giảm nhẹ, thậm chí lạm dụng phân hóa học trong sản xuất nơng nghiệp mà

không cần sự hiện diện của phân hữu cơ nhưng việc sử dụng sai lầm này đã dẫn

đến một nền nơng nghiệp khơng bền vững, chi phí sản xuất tăng, sâu bệnh nhiều,

năng suất không ổn định và đặc biệt chất lượng nông sản thấp, giá thành giảm

mạnh. Chất hữu cơ đối với cây ăn quả thì khơng thể thiếu, nó có một số tác dụng cụ

thể như sau.

Thứ nhất chất hữu cơ tồn tại xen kẽ với các thành phần kết cấu của đất, tạo

tạo ra sự thông thống giúp rễ phát triển mạnh nên có cường độ hô hấp tối đa và dễ

dàng hấp thu các nguồn dinh dưỡng.

Thứ hai chất hữu cơ sẽ lưu giữ các khống chất đa, trung vi lượng từ các loại

phân bón hóa học và cung cấp dần cho cây hạn chế được hiện tượng thất thốt phân

bón trong q trình sử dụng, giảm chi phí đáng kể trong sản xuất nơng nghiệp, giúp

đất giữ ẩm làm cây chống chịu khô hạn tốt hơn.

Thứ ba, sự hiện diện của chất hữu cơ làm mơi trường sống cho các hệ vi sinh

có ích, các hệ vi sinh này cân bằng môi trường của hệ sinh thái vì vậy sẽ hạn chế

một số đối tượng gây bệnh, góp phần tăng năng suất và chất lượng nơng sản.



5



Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật được thực hiện phổ biến,

thường mang lại hiệu quả lớn nhưng cũng chiếm phần khá cao trong chi phí sản

xuất. Chế độ phân bón ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển,

khả năng chống chịu sâu bệnh và quyết định năng suất, chất lượng của cây. Hiểu rõ

tác dụng của từng loại phân bón trong từng thời kỳ phát triển của cây sẽ giúp người

nơng dân có kế hoạch chăm sóc, bón phân hợp lý đảm bảo tăng năng suất cây trồng

nhưng không gây ô nhiễm, không ảnh hưởng đến sức khoẻ người nông dân và

khơng có những tác động tiêu cực lên các hệ sinh thái.

Cây Cam cần rất nhiều phân hữu cơ, ngoài việc cung cấp đầy đủ các chất

dinh dưỡng cho cây phân hữu cơ còn có tác dụng rất tốt trong việc cải tạo đất, làm

đất tơi xốp.

Khi cây lớn lên, nhu cầu kali của cây càng tăng đặc biệt là giai đoạn cây

trồng trưởng thành và chuẩn bị ra hoa. Kali hỗ trợ cho q trình chuyển hóa năng

lượng, đồng hóa các chất dinh dưỡng để kiến tạo năng suất và chất lượng sản phẩm.

Bón đủ kali sẽ tạo điều kiện cho cây có khả năng hút đạm và lân tốt hơn, điều hòa

tốt các chất dinh dưỡng là nền tảng cho một vụ mùa bội thu. Được xem là nguyên tố

phẩm chất (quả to và ngọt hơn), chắc mơ giúp chống tốt. Thiếu kali lá phát triển

khơng bình thường. có những vết xám hay màu đồng, dễ rụng, cây chịu rét kém,

sức chống chịu bệnh yếu, chất lượng kém, nhiều kali ảnh hưởng đến sinh trưởng

Bón lưu huỳnh khơng những làm tăng năng suất cây trồng mà còn có tác dụng:

+ Tăng lượng protein, đặc biệt đối với cây lương thực

+ Giảm tỷ lệ N : S, sẽ giảm hàm lượng nitrat trong nông sản.

+ Cung cấp thêm hương vị cho lương thực, thực phẩm.

+ Tăng hàm quang dầu

+ Tăng tính chịu hạn, chống chịu sâu bệnh

- Việc bón phân cho cây cam khơng thể định lượng được mà phải căn cứ theo

điều kiện đất đai ở từng nơi, điều kiện thời tiết, từng thời kỳ phát triển của cây

cam. Chỉ có thể tạo được sự hợp lý trong cách bón phân khi vận dụng tốt những kết

quả thu được và được tổng kết cho các trường hợp điển hình vào hồn cảnh và điều



6



kiện cụ thể một cách khoa học và sáng tạo. Tuy nhiên người nông dân rất cần quan

tâm đến những chỉ số có tính chất hướng dẫn này để tích lũy kinh nghiệm trồng trọt

và làm tăng năng suất cây trồng, tăng phẩm chất hàng hóa và tăng hiệu quả kinh tế.

Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật bón phân trong từng giai đoạn là rất cần

thiết vì cây trồng hấp thu dinh dưỡng ni cây phần lớn qua bộ rễ, chính vì vậy cần

nghiên cứu liều lượng bón phân thích hợp cho cây trồng cung cấp đầy đủ, kịp thời

các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh

dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh,

cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, ni quả.

Vì vậy, chúng tơi tiến hành nghiên cứu liều lượng phân bón NTR2 và K2SO4

đến chất lượng và năng suất của giống Cam Xã Đoài trồng tại Huyện Hàm Yên,

Tuyên Quang là rất cần thiết.

1.2.Tình hình sản xuất cam trên thế giới và trong nước

1.2.1.



Tình hình sản xuất cam trên thế giới



Cam nổi tiếng thế giới hiện nay được trồng phổ biến ở những vùng có khí hậu

khá ơn hòa thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ơn đới ven biển chịu ảnh

hưởng của khí hậu đại dương.

Các nước trồng cam nổi tiếng hiện nay đó là:

- Địa Trung Hải và Châu Âu bao gồm các nước: Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp,

Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Isaren, Tunisia, Algeria

- Vùng Bắc Mỹ bao gồm các nước: Hoa Kỳ, Mexico,

- Vùng Nam Mỹ bao gồm các nước: Braxin,Venezuela, Argentina, Uruguay.

- Vùng Châu Á bao gồm các nước: Trung Quốc và Nhật Bản.

- Các hòn đảo Châu Mỹ bao gồm các nước: Jamaica, CuBa, Cộng hòa

Dominica.



7



Bảng 1.1. Tình hình sản xuất cam trên thế giới

Các châu lục trên thế giới

Chỉ tiêu



Diện tích

(nghìn ha)



Năng suất

(tấn/ha)



Sản lượng

( nghìn tấn)



Năm



Châu

Phi



2012

2013

2014

2015

2016

2012

2013

2014

2015

2016

2012

2013

2014

2015

2016



462,5

479,8

452,3

465,6

482,3

185,7

185,9

203,4

200,5

193,3

8588,2

8920,1

9201,7

9334,2

9322,8



Châu Thế giới

Châu Mỹ Châu Á

Đại

Dương

1618,4

1549,4

293,5

21,1

3945,0

1583,8

1728,5

296,9

21,6

4110,7

1562,9

1.29,6

281,5

19,1

4045,4

1556,2

1619,6

302,4

18,4

3962,2

1506,4

1657,1

297,9

21,6

3965,3

212,0

137,2

197,5

190,2

178,3

212,2

138,5

209,8

190,3

177,9

204,5

142,5

219,8

189,3

178,9

202,8

157,4

200,6

189,1

183,7

207,5

158,8

197,3

189,6

184,6

34305,3 21262,5 5794,9

401,8

70352,7

33609,3 23939,8 6231,2

412,5

73112,6

31965,2 24641,9 6186,9

361,6

72357,2

31553,2 25492,7 6065,8

348,5

72794,3

31259,8 26319,4 5876,5

409,0

73187,6

Nguồn: FAOSTAT/FAO Statistics - năm 2018 [31]

Châu

Âu



Năm 2012 diện tích cam của tồn thế giới là 3945,0 nghìn ha, năng suất đạt

178,3 tấn/ha, sản lượng đạt 70352,7 nghìn tấn. Đến năm 2016, các chỉ tiêu đều tăng

và đạt: diện tích là 3965,3 nghìn ha, năng suất đạt 184,6 tấn/ha và sản lượng đạt

73187,6 nghìn tấn.

Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa, Costarica,

Braxin, Achentina... tuy vùng cam châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng

khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền cơng

nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành trồng cam ở đây phát triển rất mạnh. Tuy diện tích

đứng thứ 2 thế giới và có xu hướng giảm từ 1618,4 nghìn ha năm 2012 còn 1506,4

nghìn ha năm 2016, nhưng năng suất và sản lượng của châu Mỹ lại đứng đầu thế giới

với năng suất 207,5 tấn/ha năm 2016 và sản lượng đạt 31259,8 nghìn tấn năm 2016.

Vùng châu Á được khẳng định là quê hương của cam, hầu hết các nước châu

Á đều sản xuất cam với diện tích lớn trong đó phải kể đến Trung Quốc, Việt Nam,



8



Thái Lan…So sánh về diện tích của 5 châu lục năm 2016, Châu Á có tổng diện tích

lớn nhất là 1657,1 nghìn ha tuy nhiên do chưa áp dụng được tiến bộ về khoa học kỹ

thuật, chất lượng giống thấp nên năng suất của châu Á lại đạt mức thấp nhất, năm

2016 năng suất của châu Á là 158,8 tấn/ha thấp hơn thế giới 25,8 tấn/ha. Nhìn

chung diện tích, năng suất và sản lượng của châu Á đều có xu hướng tăng cụ thể

như sau: Diện tích từ năm 2012 đến năm 2016 tăng từ 1549,4 nghìn ha lên

1657,1 nghìn ha, năng suất tăng từ 137,2 tấn/ha năm 2012 lên 158,8 tấn/ha năm

2016, sản lượng cũng tăng từ 21262,5 nghìn tấn năm 2012 tăng lên 26319,4

nghìn tấn năm 2016.

Châu Âu có diện tích,năng suất và sản lượng có sự biến động qua các năm:

Diện tích từ 293,5 nghìn ha ở năm 2012 tăng lên 296,9 nghìn ha ở năm 2013, sau đó

lại giảm xuống còn 281,5 nghìn ha năm 2014, tiếp đó lại tăng lên 302,4 nghìn ha

năm 2015 và cuối cùng giảm xuống 297,9 nghìn ha năm 2016. Năng suất tăng từ

197,5 tấn/ha năm 2012 lên 219,8 tấn/ha lên năm 2014, sau đó lại giảm xuống còn

197,3 tấn/ha năm 2016. Sản lượng tăng từ 5794,9 nghìn tấn năm 2012 lên 6231,2

nghìn tấn năm 2013 sau đó giảm cuống còn 5876,5 nghìn tấn năm 2016.

Vùng lãnh thổ châu Phi: Diện tích, năng suất và sản lượng có sự biến đơng

nhẹ qua các năm. Diện tích là 482,3 nghìn ha năm 2016, năng suất là 193,3 tấn/ha

năm 2016 và sản lượng đạt 9322,8 nghìn tấn năm 2016.

Châu Đại Dương do khó khăn về đất đai nên diện tích và sản lượng thấp

nhất, cụ thể như sau: diện tích năm 2016 là 21,6 nghìn ha, năng suất đạt 189,6

tấn/ha, sản lượng đạt 409,0 nghìn tấn.

1.2.2. Tình hình sản xuất cam trong nước

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, thích hợp với nhiều loại cây trồng

trong đó có các loại cây ăn quả, đặc biệt là các loại cam. Theo sử sách "Vân đài loại

ngữ " của Lê Quý Đơn có viết: Nước Việt Nam cũng có rất nhiều thứ cam: Cam Sen

(gọi là Liên Cam), cam Vú (Nhũ cam) loại quả có vỏ mỏng và mỡ, vừa chua vừa

ngọt; cam Sành (Sinh cam) vỏ dày, vị chua; cam Mật (mật cam) vỏ mỏng, vị chua;

cam Động Đình quả to, vỏ dày, vị chua; cam Giấy (chỉ cam) tức là Kim quýt, vỏ rất

mỏng, sắc hồng, trông mã đẹp, vị chua; quất Trục (cây quýt) ghi trong Thiên Vũ



9



Cống và sách Thu Thư là tài sản rất quý của Nam Phương đem sang Trung Quốc

trước tiên (Lê Quý Đôn, 1962) [9].

Cam được trồng phổ biến nhiều nơi trên khắp mọi miền của đất nước.

Theo tổng cục thống kê tính đến năm 1999 cả nước có 69.965 ha với sản lượng

476.795 tấn.

* Các vùng trồng cam chính ở Việt Nam

+ Vùng đồng bằng sông cửu long

Theo Trần Thế Tục (1980) [21], các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp,

Vĩnh Long, Trà Xã Đồi, Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí từ 9015’ đến

10030’ vĩ bắc và 1050 đến 106045’ độ kinh đơng, địa hình rất bằng phẳng, có độ

cao từ 3 - 5m so với mặt nước biển. Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa

và ánh sáng ở vùng này rất phù hợp với việc phát triển sản xuất cây có múi. Lịch sử

trồng cam ở đồng bằng sơng Cửu Long có từ lâu đời nên người dân ở đây rất có

kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc loại cây ăn quả có múi. Cam được trồng chủ yếu

ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc trên các cù lao lớn nhỏ của sơng Tiền, sơng

Hậu có nước ngọt quanh năm, nơi đây có tập đồn giống cam rất phong phú như:

Cam chanh, cam Sành, Bưởi, chanh Giấy, quýt.

Theo Gurdwer (1967) [29], cam của Nam Bộ trái lớn, hương vị tuyệt hảo,

vượt xa loại cam mang từ Trung Hoa vào cùng mùa. Các giống được ưa chuộng và

trồng nhiều hiện nay là: Cam sành, cam Mật, quýt Tiều (quýt hồng), quýt Siêm,

quýt Đường, bưởi Đường, bưởi Năm Roi, bưởi Long Tuyễn...Năng suất các giống

kể trên ở điều kiện khí hậu, đất đai vùng đồng bằng sông Cửu long tương đối cao.

+ Vùng khu 4 cũ

Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh trải dài từ 180 đến 20030’ vĩ độ

bắc, trọng điểm trồng cam vùng này là vùng Phủ Quỳ - Nghệ An gồm một cụm các

Nông trường chuyên trồng cam với diện tích năm 1990 là 600ha. Các giống cam ở

Phủ Quỳ có khả năng sinh trưởng tốt và năng suất tương đối ổn định. Hai giống

Sunkiss và Xã Đồi có ưu thế tiềm về tiềm năng, năng suất và sức chống chịu sâu

bệnh hại năng trên cả cây và quả (Lê Đình Sơn, 1990) [18].



10



Huyện Hương khê là một trong những vùng đất miền núi của tỉnh Hà Tĩnh.

Nhân dân ở đây đã có tập quán trồng bưởi lâu đời, đặc biệt là bưởi Phúc Trạch, một

trong những giống bưởi đặc sản ngon nhất hiện nay (Đỗ Xuân Trường, 2003) [25].

Ngồi bưởi Phúc Trạch ở vùng này còn có một giống cam rất nổi tiếng đó là

cam Bù (Lê Quang Hạnh, 1994)[12]. Cam Bù có quả to, ngon, màu sắc hấp dẫn,

chín muộn nên có thể đưa vào cơ cấu cam chín muộn ở nước ta hiện nay. Cam Bù

có năng suất cao nhờ có bộ lá quang hợp tốt và số lượng lá/ cây lớn, có tính chịu

hạn tốt. Cam Bù thường được trồng với mật độ cao (600 - 1000 cây/ha) để cho cây

chóng giao tán, che phủ đất trống xói mòn và hạn chế ánh sáng trực xạ ở vùng núi

thấp (Bùi Huy Kiểm, 2000) [16].

+ Vùng miền núi phía Bắc

Vùng này có các tỉnh trồng cam với diện tích lớn đó là: Tun Quang, n

Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Ngun với điều

kiện khí hậu hồn tồn khác với hai vùng trên, cam quýt được trồng ở các vùng đất

ven sông, suối như: Sông Hồng, Sông Lô, Sông Gậm, Sông Thương, Sông

Chảy...Cam quýt được trồng thành từng khu tập trung 500 ha hoặc trên 1000ha như

ở Bắc Sơn - Lạng Sơn, Bạch Thông - Bắc Cạn, Hàm Yên, Chiêm Hóa - Tuyên

Quang, Bắc Quang - Hà Giang, tại những vùng này cam quýt trở thành thu nhập

chính của hộ nông dân, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các loại cây trồng

khác trên cùng loại đất. Do loại hình sinh thái phong phú dẫn đến có nhiều loại cam

quýt, đặc biệt ở vùng núi phía bắc là nơi chứa đựng tập đoàn giống cam quýt đa

dạng (Đỗ Đình Ca, Trần Thế Tục, 1994) [5], (Nguyễn Duy Lam, 2011) [17].

Khu vực huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang hiện nay là một vùng sản suất cam

lớn của miền bắc với giống cam sành chất lượng ngon, màu sắc đẹp, cung cấp một

lượng cam lớn cho miền Bắc vào dịp tết và sau tết (Trần Thế Tục và cs, 2001) [26].

Tại Bắc Quang có 4 giống quýt là quýt Chum, quýt Chun, quýt Đỏ và quýt

Vàng có triển vọng phát triển với thời gian cho năng suất cao, kéo dài và có giá trị

thương phẩm cao (Trần Thế Tục và cs, 1995) [22].



11



Cam của nước ta phong phú về chủng loại giống, có nhiều giống nổi tiếng

đặc trưng cho vùng. Tuy nhiên việc mở rộng diện tích cam còn gặp nhiều khó khăn,

đó là do điều kiện thời tiết thất thường, cơ sở hạ tầng yếu kém, tiếp cận thị trường

khó khăn, trình độ thâm canh thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào

sản xuất còn chậm chạp do trình độ dân trí khơng đồng đều giữa các vùng, công tác

bảo vệ thực vật chưa được quan tâm chu đáo, công tác tuyển chọn giống và sản xuất

cây giống chất lượng chưa được chú trọng đúng mức (Nguyễn Văn Luật, 2006)

[20], (Hoàng Ngọc Thuận, 2000) [23].

Năm 2004, Trịnh Hồng Kiên và cs [15]; đã sử dụng kỹ thuật SSR để nghiên

cứu đa dạng di truyền 285 mẫu giống cây ăn quả có múi đã thu thập được tại Việt

Nam, hiện đang được bảo tồn trên đồng ruộng hoặc trong nhà lưới của các trung

tâm và Viện nghiên cứu trong nước bằng phương pháp SSR (Simple Sequence

Repeat). Kết quả cho thấy nguồn gen chi citrus ở Việt Nam rất đa dạng và phong

phú có đủ 3 nhóm lồi của chi Citrus đó là: nhóm C.medica (Citron), nhóm

C.reticulata (Mandarin) và nhóm C.maxima (pomelo) hay còn gọi là nhóm

C.grandis (bưởi).

Năm 2009, Đỗ Đình Ca và cs [6] đã sử dụng kỹ thuật RAP để đánh giá đa

dạng di truyền 30 mẫu giống cây đầu dòng tuyển chọn thuộc bưởi Thanh Trà và

Phúc Trạch. Kết quả cho thấy giữa các dòng của từng giống bưởi Thanh Trà hay

bưởi Phúc Trạch tại các vùng nguyên sản tuy có sự khác nhau ít nhiều về đặc điểm

hình thái nhưng đều có mối quan hệ di truyền khá gần gũi với hệ số đồng dạng của

bưởi Thanh Trà trong khoảng 0,75 – 1 và bưởi Phúc Trạch là 0,89 – 1 [6]. Trong thí

nghiệm về sử dụng chất điều hòa sinh trưởng trên cam Vinh tại Lục Ngạn - Bắc

Giang (Nguyễn Danh Đức, 2014) làm giảm tỷ lệ rụng quả, làm tăng năng suất thu

hoạch từ 36,4 - 47,6 % và giúp tăng thu nhập trên đơn vị diện tích. Trong đó, chế

phẩm phân bón lá Rong biển và chất điều hòa sinh trưởng Atonik làm tăng năng

suất đến 47,6% so với đối chứng (Nguyễn Danh Đức, 2014)[8].

Hàng năm diện tích và sản lượng cam quýt ở nước ta tăng nhanh nhưng năng

suất còn khá khiêm tốn do điều kiện khí hậu thời tiết, do kỹ thuật chưa được áp



12



dụng.v.v.. năng suất cam chanh là 105 tạ/ha; quýt 87 tạ/ha; chanh 88 tạ/ha; bưởi 74

tạ/ha; Tuy nhiên cá biệt có trang trại đạt năng suất cam chanh 237 tạ/ha; chanh 128

tạ/ha; quýt 240 tạ/ha; bưởi 177 tạ/ha. Lãi suất đối với một ha trồng cam là 84,2 triệu

đồng, quýt 54,6 triệu đồng, chanh 43,7 triệu đồng, bưởi 21 triệu đồng. Đồng bằng

sông Cửu long có sản lượng lớn nhất tồn quốc nhưng năng suất còn quá thấp so

với năng suất của nhiều nước trồng cam trên thế giới (từ 20 - 40 tạ/ha). Tuy nhiên

cũng có năng suất điển hình như ở Phủ Quỳ đạt 400 - 500 tạ/ha [21], Vũ Công Hậu

(1996) [13]. Tính đến năm 2005 diện tích trồng cam của cả nước là 87.200 ha với

sản lượng đạt 606.400 tấn.

Bảng 1.2. Tình hình sản xuất cam ở Việt Nam

STT



Chỉ tiêu



Năm



2013

2014

2015

2016

1 Diện tích (nghìn ha)

53,8

60,6

66,8

77,7

2 Năng suất (tạ/ha)

122,6

127,6

124,7

123,3

3 Sản lượng (nghìn tấn)

531,9

589,5

566,1

627,0

Nguồn: Bộ Nơng nghiệp và phát triển nơng thơn (2018)[2]

Với số liệu thống kê ở bảng 1.2 thì diện tích sản xuất cam tăng đều từ 53,8



nghìn ha năm 2013 lên 77,7 nghìn ha năm 2016. Năng suất có sự biến đông qua các

năm từ năm 2013 đến năm 2014 tăng từ 122,6 tạ/ha lên 127,6 tạ/ha, sau đó giảm

xuống còn 123,3 tạ/ha vào năm 2016. Cùng với năng suất thì sản lượng cũng thay

đổi qua các năm,từ năm 2013 đến năm 2014 sản lượng tăng từ 531,9 nghìn tấn lên

589,5 nghìn tấn, sau đó giảm xuống 566,1 nghìn tấn vào năm 2015, và lại tăng lên

627,0 nghìn tấn vào năm 2016.

Ở nước ta hiện nay, có nhiều vùng trồng cam, song những vùng cho năng suất cao,

phẩm chất tốt có tiếng trong nước phải kể đến vùng cam đồng bằng sông Cửu Long

(Vĩnh Long, Hậu Giang, Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp, Sóc Trăng), vùng cam

bắc trung bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh), và vùng cam miền núi phía Bắc (Tun Quang, Hà

Giang, Hòa Bình).... với tổng diện tích của cả nước năm 2016 là 77.695 nghìn ha.

1.2.3. Tình hình sản xuất cam tại Hàm Yên

Hàm Yên là một huyện miền núi phía Bắc giáp huyện Bắc Quang, tỉnh Hà

Giang, phía Nam giáp huyện n Sơn, phía Đơng giáp xã Tân Mỹ của huyện



13



Chiêm Hóa tỉnh Tun Quang, phía Tây giáp huyện Yên Bình, Lục Yên, tỉnh Yên

Bái. Đây là vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình hàng năm là

1.600 - 1.800 mm, số ngày mưa trung bình 150 ngày/năm, trên địa bàn có nhiều

suối lớn và sơng Lơ chảy qua, thích hợp cho cây cam sinh trưởng và phát triển.

Bảng 1.3. Tình hình sản xuất 1 số xã trồng cam tại huyện Hàm n,

Tỉnh Tun Quang năm 2016

Stt



Vùng trồng



Tình hình sản xuất

Diện tích cho sản Năng suất

phẩm (ha)

(tạ/ha)

4.065

263,5



1



Tồn huyện



Diện tích

(ha)

7.022,0



Sản lượng

(tấn)

107.096,0



2



n Thuận



659,7



291,5



257,5



7.504,8



3



Bạch Xa



185,4



55,0



224,6



1.235,4



4



Minh Khương



395,5



277,0



268,6



7.440,8



5



Minh Dân



244,2



174,9



262,2



4.585,1



6



Phù Lưu



2.579,4



1.997,7



284,1



56.751,9



7



Tân Thành



953



369



236,7



8.733,3



8



Yên Lâm



464,5



379,8



230,9



8.770,9



9



Yên Phú



376,0



146,5



232,7



3.408,5



10



T.T Tân Yên



296,3



184,0



248,4



4.571,3



11



Các xã khác



868,0



189,6



143,7



2.758,7



Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tuyên Quang 2018[19]

Kết quả điều tra ở bảng 1.3 cho thấy tính đến năm 2016 tồn huyện hiện có

7.022 ha đất trồng cam, trong đó diện tích cam đã trồng và cho thu hoạch là 4.065

ha tập trung nhiều ở 9 xã: Yên Thuận, Bạch Xa, Minh Khương, Minh Dân, Phù

Lưu, Tân Thành, Yên Lâm, Yên Phú và thị trấn Tân Yên. Cụ thể như sau:

+ Diện tích trồng cam tại huyện Hàm Yên tập trung chủ yếu tại xã Phù Lưu

là 2.579,4 ha chiếm 36,73% tồn huyện, diện tích cho thu hoạch là 1.997,7 ha, năng

suất đạt bình quân 284,1 tạ/ha, sản lượng là 56.751,9 tấn.

+ Đứng thứ 2 là xã Tân Thành có tổng diện tích trồng cam là 953 ha chiếm

13,57% tồn huyện, diện tích cho thu hoạch là 369 ha, năng suất trung bình đạt

236,7 tạ/ha, tổng sản lượng là 8.733,3 tấn. Thấp nhất là xã Bạch xa có tổng diện tích

là 185,4 ha, chiếm 2,64% tồn huyện, diện tích cho thu hoạch là 55,0 ha, năng suất

trung bình đạt 224,6 tạ/ha, tổng sản lượng là 1.235,4 tấn/ha.



14



1.3.Nguồn gốc cam và phân loại

Hiện nay ý kiến của các tác giả có khác nhau song về cơ bản đều thống nhất

là các loại cây ăn quả có múi trồng trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng

Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ và Miến Điện.

Nằm trong khu vực này, Việt Nam cũng là nơi phát sinh của một số loài và giống

cam tồn tại cho đến nay.

Nguồn gốc cây có múi được ghi nhận là ở Đơng Nam Á bao gồm cả Trung

Quốc, Đông Bắc Ấn Độ, trong đó có cả vùng Nam Nepal, nơi có những thung lũng

và sườn đồi được bảo vệ khỏi những cơn gió lạnh khô và mưa vào mùa Hè [27].

Tuy nhiên sự thuần hố và trồng trọt cây ăn quả có múi lại bắt đầu ở Trung Quốc”.

Theo Trần Thế Tục (1980) [21] nghề trồng cam ở Trung Quốc đã có từ 3.000 4.000 năm trước.

Một số tài liệu nghiên cứu cho thấy cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu

Á, sự lan trải của cam quýt trên thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và

các cuộc chiến tranh trước đây (Bùi Huy Kiểm, 2000) [16].

Các hệ thống phân loại cam quýt đầu tiên chủ yếu dựa trên các đặc điểm giải

phẫu hoa, đặc điểm hình thái, phân bố địa lý và cả lịch sử phát triển của một số chi

quan trọng. Hệ thống phân loại được thừa nhận nhiều nhất hiện nay là của Swingle

và Reece (1967). Theo khố phân loại của Swingle (1967) [33] có 16 loài, phần lớn

các loài cây cam, quýt, chanh, bưởi… thuộc chi Citrus (gồm 2 chi phụ là Eucitrus

và Papeda), tộc Citreae, họ phụ Aurantoideae, họ Rutaceae, bộ Geranial.

Ở Việt Nam chi Citrus có 11 lồi (Võ Văn Chi, 1997)[7]. Theo Phạm Hoàng

Hộ (1999) [14] chi Citrus ở Việt Nam có 25 lồi cả trồng trọt và hoang dại (có 4

lồi có tên qt), phần lớn là cây thích nghi rộng, được trồng rộng rãi ở cả 3 miền

Bắc - Trung - Nam từ vùng núi cao Sa Pa, Đà Lạt tới các vùng thấp đồng bằng Bắc

Bộ, bao gồm các tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… đến đồng bằng Nam Bộ.

Tóm lại cam là cây ăn quả có nhiều loài, nhiều chủng khác nhau, được loài

người thuần dưỡng lâu đời. Qua quá trình chọn lọc đã tạo ra được nhiều loại quả

ngon, giàu chất dinh dưỡng nhất là vitamin và chất khoáng. Việt Nam nằm trong



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×