Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Hạn chế của phân hữu cơ

* Hạn chế của phân hữu cơ

Tải bản đầy đủ - 0trang

29



điều tra cho thấy nếu bón 10tấn phân chuồng/ha có thể giảm bớt được 40-50%

lượng phân kali cần bón. Hiệu quả sử dụng phân hữu cơ (phân chuồng) đối với một

số cây trồng chính như sau:

Bón phân chuồng làm tăng đáng kể hiệu suất sử dụng phân đạm. Năng suất

lúa đạt cao nhất khi tỷ lệ đạm hữu cơ trong tổng lượng đạm bón khoảng 30-40%

(bón 10 tấn phân chuồng/ha thường cho khoảng 30-35kg N tương đương 65-75kg

urê). Cân đối hữu cơ - vô cơ không chỉ làm tăng hiệu quả sử dụng phân khoáng mà

ngược lại phân khoáng cũng làm tăng hiệu lực phân chuồng. Trên nền có bón phân

khống, hiệu lực 1 tấn phân chuồng đạt 53-89kg thóc, trong khi khơng có phân

khống chỉ đạt 32-52kg.

Bón chất hữu cơ sẽ cải thiện được các tính chất vật lý đất, hóa học và sinh

học của đất; đồng thời hạn chế mức độ độc hại của một số nguyên tố như: nhôm

(Al), sắt (Fe); giảm bớt sự cố định lân trong đất dưới tác dụng kết hợp Al3+,

Fe3+dưới dạng phức chất; nâng cao sự hoà tan lân ở dạng phốt phát sắt hố trị ba

dưới tác dụng khử ơxy.

Bón phân hữu cơ có tác dụng làm giảm rửa trơi, giảm bốc hơi của phân đạm

bón vào. Do đó, hiệu quả sử dụng của phân đạm vô cơ tăng lên, hiệu suất sử dụng

phân đạm của lúa có thể tăng lên 30-40% trên nền bón phân hữu cơ so với nền

khơng bón.

Từ những tác dụng tổng hợp của phân hữu cơ đã nêu ở trên, bón phân hữu cơ

góp phần cải thiện được chất lượng nông sản, nhất là với những cây rau, hoa quả,

lúa đặc sản,... như giảm làm lượng nitrat, tăng hàm lượng vitamin, các hợp chất tạo

hương, vị, v.v…

1.6. Giới thiệu phân NTR2 và K2SO4

1.6.1. Phân hữu cơ khống NTR2

Cơng nghệ sản xuất phân hữu cơ khống NTR2 từ phân lợn nái và phân gà là

công nghệ mới. Cơng nghệ sản xuất phân hữu cơ khống do Trường Đại học Nông

lâm – Đại học Thái Nguyên nghiên cứu và sản xuất. Trong nước hiện nay nguyên

liệu sản xuất phân hữu cơ khoáng chủ yếu từ nguồn nguyên liệu hữu cơ từ than bùn.

Than bùn sau khi khai thác được sơ chế và bổ sung các dinh dưỡng đạm, lân, kali

các chất dinh dưỡng trung vi lượng thành phân hữu cơ khoáng. Phân NTR2 hàm



30



lượng hữu cơ lớn hơn 20%, trong khi đó các phân hữu cơ khống hiện có trên thị

trường hiện nay chỉ đạt 15%. Ngồi ra trong phân NTR2 còn có các chất trung vi

lượng cân đối giúp cây phát triển và năng suất cao ổn định.

Phân NTR2 có hàm lượng (%) và tỷ lệ N:P2O5:K2O = 5,5:1,5: 4 nên dùng để

bón thúc cho các loại cây trồng.



31



Phân lợn nái



C

h

Sản xuấtế sinh khối

VSVpđậm đặc

h



m

s

i

n

h

h



c



(

E

M

I

N

A

)



Phân gà



T

r



n

l



n



S

à

n

g

v

à



PP

hNh

âgâ

h

nn

i



lnl



oo

ạtạ

ihi

ô







vv

àvà



à

n h

ss

g o

ơủơ

h ạ

i

h

Ủt

các

ề P

nB hh

hoh

n

ếế

ổ g óâ

k

Phân NTR2n đóng

u an bao,

hs

h

bảo quản



ỏu t

í

i

n í

Kiểm nghiệm

g c

h

đ

Cung cấp ra ạthị trường

t

m h

,

à

Sơ đồ: Quy trình sản xuất phânnhữu cơ khống NTR2

l

h

â

n p

h



a

l

i

32



n

d

i

n

h



d sinh học EMINA được nhân sinh

- Nhân sinh khối vi sinh vật: Chế phẩm

ư



khối trước khi sử dụng. Dung dịch dùng nhânỡ sinh khối được pha từ 1 kg mật gỉ

n



đường với 5 lít nước. Sau khi khuấy đều hòa gtan mật gỉ đường trong nước thì bổ

sung 1 kg chế phẩm gốc EMINA và tiếp tục khuấy đều. Sau khi nhân sinh khối từ

2-3 ngày, thấy dung dịch có nhiều bảo tử nấm nổi lên thì có thể dùng được.

- Sơ chế phân gà, phân lợn: Phân lợn sau khi vận chuyển ra khỏi khu vực

trang trại chăn nuôi tiến hành gỡ bỏ túi ny lông để sơ chế. Nếu phân lợn q ướt thì

bổ sung phân gà khơ. Phân lợn đổ dày khoảng 30-40cm thì phun một lớp chế phẩm

EMINA. Độ cao đống phân khoảng 1,0 -1,2m thì lại phun EMINA kín bề mặt và

rắc thêm phủ một lớp phân chuồng khô lên trên bề mặt đống ủ. Đối với phân gà sau

khi đổ phân ra khỏi bao, nếu độ ẩm quá cao >50% thì bổ sung phân chuồng hoai

khô. Phân gà được đổ theo lớp, cứu mỗi lớp 30 - 40 cm lại phun EMINA. Tương tự

như sơ chế phân lợn, trên bề mặt đống ủ cũng phủ kín một lớp phân chuồng hoai

khơ và phun EMINA để khử mùi thối của phân gà.

Trong quá trình đống ủ sơ chế lên men, nhiệt độ đống ủ tăng cao trên 50oC

dùng máy súc lật đảo từ 2-3 lần để đống ủ lên men thuận lợi và giảm độ ẩm. Trong

quá trình đảo trộn bổ sung thêm chế phẩm EMINA dạng bột. Khi độ ẩm phân giảm

còn khoảng 35-40% thì tiến hành phối trộn phân lợn với phân gà để nghiền thơ.

- Nghiền thơ và ủ háo khí: Phân lợn và phân gà sau khi phối trộn rải

mỏng để phân lên men và giảm độ ẩm nhanh. Khi độ ẩm đạt mức thích hợp tiến

hành nghiền nhỏ, nguyên liệu sau khi nghiền nhỏ để khoảng 2-4 ngày tiếp tục lên

men tiếp.

- Sàng và nghiền nhỏ: Sau khi để lên men tự nhiên, độ ẩm giản còn 30-35%

thì tiến hành sàng. Ngun liệu nhỏ có kích thước nhỏ hơn 5mm thì đưa vào đống

để ủ hoạt hóa, những ngun liệu còn to thì tiếp tục nghiền và sàng lại.

- Ủ hoạt hóa: Ngun liệu nhỏ sau khi sàng, nếu khơ thì bổ sung thêm nước

để đạt độ ẩm 30-35% để ủ hoạt hóa thuận lợi. Sau khi ủ hoạt hóa 3-4 ngày nhiệt độ

tăng cao 60 - 65oC, thì đảo trộn. Tủy khả năng năng lên men, đống ủ được đảo trộn

2-3 lần.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Hạn chế của phân hữu cơ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×