Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Các vùng trồng cam chính ở Việt Nam

* Các vùng trồng cam chính ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



Huyện Hương khê là một trong những vùng đất miền núi của tỉnh Hà Tĩnh.

Nhân dân ở đây đã có tập quán trồng bưởi lâu đời, đặc biệt là bưởi Phúc Trạch, một

trong những giống bưởi đặc sản ngon nhất hiện nay (Đỗ Xuân Trường, 2003) [25].

Ngoài bưởi Phúc Trạch ở vùng này còn có một giống cam rất nổi tiếng đó là

cam Bù (Lê Quang Hạnh, 1994)[12]. Cam Bù có quả to, ngon, màu sắc hấp dẫn,

chín muộn nên có thể đưa vào cơ cấu cam chín muộn ở nước ta hiện nay. Cam Bù

có năng suất cao nhờ có bộ lá quang hợp tốt và số lượng lá/ cây lớn, có tính chịu

hạn tốt. Cam Bù thường được trồng với mật độ cao (600 - 1000 cây/ha) để cho cây

chóng giao tán, che phủ đất trống xói mòn và hạn chế ánh sáng trực xạ ở vùng núi

thấp (Bùi Huy Kiểm, 2000) [16].

+ Vùng miền núi phía Bắc

Vùng này có các tỉnh trồng cam với diện tích lớn đó là: Tuyên Quang, Yên

Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên với điều

kiện khí hậu hồn tồn khác với hai vùng trên, cam quýt được trồng ở các vùng đất

ven sông, suối như: Sông Hồng, Sông Lô, Sông Gậm, Sông Thương, Sông

Chảy...Cam quýt được trồng thành từng khu tập trung 500 ha hoặc trên 1000ha như

ở Bắc Sơn - Lạng Sơn, Bạch Thông - Bắc Cạn, Hàm Yên, Chiêm Hóa - Tuyên

Quang, Bắc Quang - Hà Giang, tại những vùng này cam quýt trở thành thu nhập

chính của hộ nơng dân, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các loại cây trồng

khác trên cùng loại đất. Do loại hình sinh thái phong phú dẫn đến có nhiều loại cam

quýt, đặc biệt ở vùng núi phía bắc là nơi chứa đựng tập đồn giống cam qt đa

dạng (Đỗ Đình Ca, Trần Thế Tục, 1994) [5], (Nguyễn Duy Lam, 2011) [17].

Khu vực huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang hiện nay là một vùng sản suất cam

lớn của miền bắc với giống cam sành chất lượng ngon, màu sắc đẹp, cung cấp một

lượng cam lớn cho miền Bắc vào dịp tết và sau tết (Trần Thế Tục và cs, 2001) [26].

Tại Bắc Quang có 4 giống quýt là quýt Chum, quýt Chun, quýt Đỏ và quýt

Vàng có triển vọng phát triển với thời gian cho năng suất cao, kéo dài và có giá trị

thương phẩm cao (Trần Thế Tục và cs, 1995) [22].



11



Cam của nước ta phong phú về chủng loại giống, có nhiều giống nổi tiếng

đặc trưng cho vùng. Tuy nhiên việc mở rộng diện tích cam còn gặp nhiều khó khăn,

đó là do điều kiện thời tiết thất thường, cơ sở hạ tầng yếu kém, tiếp cận thị trường

khó khăn, trình độ thâm canh thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào

sản xuất còn chậm chạp do trình độ dân trí khơng đồng đều giữa các vùng, công tác

bảo vệ thực vật chưa được quan tâm chu đáo, công tác tuyển chọn giống và sản xuất

cây giống chất lượng chưa được chú trọng đúng mức (Nguyễn Văn Luật, 2006)

[20], (Hoàng Ngọc Thuận, 2000) [23].

Năm 2004, Trịnh Hồng Kiên và cs [15]; đã sử dụng kỹ thuật SSR để nghiên

cứu đa dạng di truyền 285 mẫu giống cây ăn quả có múi đã thu thập được tại Việt

Nam, hiện đang được bảo tồn trên đồng ruộng hoặc trong nhà lưới của các trung

tâm và Viện nghiên cứu trong nước bằng phương pháp SSR (Simple Sequence

Repeat). Kết quả cho thấy nguồn gen chi citrus ở Việt Nam rất đa dạng và phong

phú có đủ 3 nhóm lồi của chi Citrus đó là: nhóm C.medica (Citron), nhóm

C.reticulata (Mandarin) và nhóm C.maxima (pomelo) hay còn gọi là nhóm

C.grandis (bưởi).

Năm 2009, Đỗ Đình Ca và cs [6] đã sử dụng kỹ thuật RAP để đánh giá đa

dạng di truyền 30 mẫu giống cây đầu dòng tuyển chọn thuộc bưởi Thanh Trà và

Phúc Trạch. Kết quả cho thấy giữa các dòng của từng giống bưởi Thanh Trà hay

bưởi Phúc Trạch tại các vùng ngun sản tuy có sự khác nhau ít nhiều về đặc điểm

hình thái nhưng đều có mối quan hệ di truyền khá gần gũi với hệ số đồng dạng của

bưởi Thanh Trà trong khoảng 0,75 – 1 và bưởi Phúc Trạch là 0,89 – 1 [6]. Trong thí

nghiệm về sử dụng chất điều hòa sinh trưởng trên cam Vinh tại Lục Ngạn - Bắc

Giang (Nguyễn Danh Đức, 2014) làm giảm tỷ lệ rụng quả, làm tăng năng suất thu

hoạch từ 36,4 - 47,6 % và giúp tăng thu nhập trên đơn vị diện tích. Trong đó, chế

phẩm phân bón lá Rong biển và chất điều hòa sinh trưởng Atonik làm tăng năng

suất đến 47,6% so với đối chứng (Nguyễn Danh Đức, 2014)[8].

Hàng năm diện tích và sản lượng cam quýt ở nước ta tăng nhanh nhưng năng

suất còn khá khiêm tốn do điều kiện khí hậu thời tiết, do kỹ thuật chưa được áp



12



dụng.v.v.. năng suất cam chanh là 105 tạ/ha; quýt 87 tạ/ha; chanh 88 tạ/ha; bưởi 74

tạ/ha; Tuy nhiên cá biệt có trang trại đạt năng suất cam chanh 237 tạ/ha; chanh 128

tạ/ha; quýt 240 tạ/ha; bưởi 177 tạ/ha. Lãi suất đối với một ha trồng cam là 84,2 triệu

đồng, quýt 54,6 triệu đồng, chanh 43,7 triệu đồng, bưởi 21 triệu đồng. Đồng bằng

sơng Cửu long có sản lượng lớn nhất tồn quốc nhưng năng suất còn q thấp so

với năng suất của nhiều nước trồng cam trên thế giới (từ 20 - 40 tạ/ha). Tuy nhiên

cũng có năng suất điển hình như ở Phủ Quỳ đạt 400 - 500 tạ/ha [21], Vũ Cơng Hậu

(1996) [13]. Tính đến năm 2005 diện tích trồng cam của cả nước là 87.200 ha với

sản lượng đạt 606.400 tấn.

Bảng 1.2. Tình hình sản xuất cam ở Việt Nam

STT



Chỉ tiêu



Năm



2013

2014

2015

2016

1 Diện tích (nghìn ha)

53,8

60,6

66,8

77,7

2 Năng suất (tạ/ha)

122,6

127,6

124,7

123,3

3 Sản lượng (nghìn tấn)

531,9

589,5

566,1

627,0

Nguồn: Bộ Nơng nghiệp và phát triển nông thôn (2018)[2]

Với số liệu thống kê ở bảng 1.2 thì diện tích sản xuất cam tăng đều từ 53,8



nghìn ha năm 2013 lên 77,7 nghìn ha năm 2016. Năng suất có sự biến đơng qua các

năm từ năm 2013 đến năm 2014 tăng từ 122,6 tạ/ha lên 127,6 tạ/ha, sau đó giảm

xuống còn 123,3 tạ/ha vào năm 2016. Cùng với năng suất thì sản lượng cũng thay

đổi qua các năm,từ năm 2013 đến năm 2014 sản lượng tăng từ 531,9 nghìn tấn lên

589,5 nghìn tấn, sau đó giảm xuống 566,1 nghìn tấn vào năm 2015, và lại tăng lên

627,0 nghìn tấn vào năm 2016.

Ở nước ta hiện nay, có nhiều vùng trồng cam, song những vùng cho năng suất cao,

phẩm chất tốt có tiếng trong nước phải kể đến vùng cam đồng bằng sông Cửu Long

(Vĩnh Long, Hậu Giang, Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp, Sóc Trăng), vùng cam

bắc trung bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh), và vùng cam miền núi phía Bắc (Tuyên Quang, Hà

Giang, Hòa Bình).... với tổng diện tích của cả nước năm 2016 là 77.695 nghìn ha.

1.2.3. Tình hình sản xuất cam tại Hàm Yên

Hàm Yên là một huyện miền núi phía Bắc giáp huyện Bắc Quang, tỉnh Hà

Giang, phía Nam giáp huyện n Sơn, phía Đơng giáp xã Tân Mỹ của huyện



13



Chiêm Hóa tỉnh Tun Quang, phía Tây giáp huyện n Bình, Lục n, tỉnh n

Bái. Đây là vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình hàng năm là

1.600 - 1.800 mm, số ngày mưa trung bình 150 ngày/năm, trên địa bàn có nhiều

suối lớn và sơng Lơ chảy qua, thích hợp cho cây cam sinh trưởng và phát triển.

Bảng 1.3. Tình hình sản xuất 1 số xã trồng cam tại huyện Hàm Yên,

Tỉnh Tuyên Quang năm 2016

Stt



Vùng trồng



Tình hình sản xuất

Diện tích cho sản Năng suất

phẩm (ha)

(tạ/ha)

4.065

263,5



1



Tồn huyện



Diện tích

(ha)

7.022,0



Sản lượng

(tấn)

107.096,0



2



n Thuận



659,7



291,5



257,5



7.504,8



3



Bạch Xa



185,4



55,0



224,6



1.235,4



4



Minh Khương



395,5



277,0



268,6



7.440,8



5



Minh Dân



244,2



174,9



262,2



4.585,1



6



Phù Lưu



2.579,4



1.997,7



284,1



56.751,9



7



Tân Thành



953



369



236,7



8.733,3



8



n Lâm



464,5



379,8



230,9



8.770,9



9



Yên Phú



376,0



146,5



232,7



3.408,5



10



T.T Tân Yên



296,3



184,0



248,4



4.571,3



11



Các xã khác



868,0



189,6



143,7



2.758,7



Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tuyên Quang 2018[19]

Kết quả điều tra ở bảng 1.3 cho thấy tính đến năm 2016 tồn huyện hiện có

7.022 ha đất trồng cam, trong đó diện tích cam đã trồng và cho thu hoạch là 4.065

ha tập trung nhiều ở 9 xã: Yên Thuận, Bạch Xa, Minh Khương, Minh Dân, Phù

Lưu, Tân Thành, Yên Lâm, Yên Phú và thị trấn Tân Yên. Cụ thể như sau:

+ Diện tích trồng cam tại huyện Hàm Yên tập trung chủ yếu tại xã Phù Lưu

là 2.579,4 ha chiếm 36,73% tồn huyện, diện tích cho thu hoạch là 1.997,7 ha, năng

suất đạt bình quân 284,1 tạ/ha, sản lượng là 56.751,9 tấn.

+ Đứng thứ 2 là xã Tân Thành có tổng diện tích trồng cam là 953 ha chiếm

13,57% tồn huyện, diện tích cho thu hoạch là 369 ha, năng suất trung bình đạt

236,7 tạ/ha, tổng sản lượng là 8.733,3 tấn. Thấp nhất là xã Bạch xa có tổng diện tích

là 185,4 ha, chiếm 2,64% tồn huyện, diện tích cho thu hoạch là 55,0 ha, năng suất

trung bình đạt 224,6 tạ/ha, tổng sản lượng là 1.235,4 tấn/ha.



14



1.3.Nguồn gốc cam và phân loại

Hiện nay ý kiến của các tác giả có khác nhau song về cơ bản đều thống nhất

là các loại cây ăn quả có múi trồng trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng

Đơng Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ và Miến Điện.

Nằm trong khu vực này, Việt Nam cũng là nơi phát sinh của một số loài và giống

cam tồn tại cho đến nay.

Nguồn gốc cây có múi được ghi nhận là ở Đông Nam Á bao gồm cả Trung

Quốc, Đơng Bắc Ấn Độ, trong đó có cả vùng Nam Nepal, nơi có những thung lũng

và sườn đồi được bảo vệ khỏi những cơn gió lạnh khơ và mưa vào mùa Hè [27].

Tuy nhiên sự thuần hoá và trồng trọt cây ăn quả có múi lại bắt đầu ở Trung Quốc”.

Theo Trần Thế Tục (1980) [21] nghề trồng cam ở Trung Quốc đã có từ 3.000 4.000 năm trước.

Một số tài liệu nghiên cứu cho thấy cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu

Á, sự lan trải của cam quýt trên thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và

các cuộc chiến tranh trước đây (Bùi Huy Kiểm, 2000) [16].

Các hệ thống phân loại cam quýt đầu tiên chủ yếu dựa trên các đặc điểm giải

phẫu hoa, đặc điểm hình thái, phân bố địa lý và cả lịch sử phát triển của một số chi

quan trọng. Hệ thống phân loại được thừa nhận nhiều nhất hiện nay là của Swingle

và Reece (1967). Theo khoá phân loại của Swingle (1967) [33] có 16 lồi, phần lớn

các loài cây cam, quýt, chanh, bưởi… thuộc chi Citrus (gồm 2 chi phụ là Eucitrus

và Papeda), tộc Citreae, họ phụ Aurantoideae, họ Rutaceae, bộ Geranial.

Ở Việt Nam chi Citrus có 11 loài (Võ Văn Chi, 1997)[7]. Theo Phạm Hoàng

Hộ (1999) [14] chi Citrus ở Việt Nam có 25 lồi cả trồng trọt và hoang dại (có 4

lồi có tên qt), phần lớn là cây thích nghi rộng, được trồng rộng rãi ở cả 3 miền

Bắc - Trung - Nam từ vùng núi cao Sa Pa, Đà Lạt tới các vùng thấp đồng bằng Bắc

Bộ, bao gồm các tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… đến đồng bằng Nam Bộ.

Tóm lại cam là cây ăn quả có nhiều lồi, nhiều chủng khác nhau, được loài

người thuần dưỡng lâu đời. Qua quá trình chọn lọc đã tạo ra được nhiều loại quả

ngon, giàu chất dinh dưỡng nhất là vitamin và chất khoáng. Việt Nam nằm trong



15



vùng Đơng Nam Á có điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho cam phát triển. Trong

những năm gần đây do trủ trương phát triển của nhà nước, nhu cầu tiêu dùng các

loại quả ngày càng tăng, được các cấp chính quyền quan tâm, nhiều vườn cây ăn

quả, nhiều trang trại trồng cây ăn quả ra đời, những vùng trồng cam nhiều đang có

dự án khơi phục lại các vườn cam như Hà Giang, cải tạo vườn tạp thành vườn

chuyên canh ở đồng Bằng Nam Bộ bước đầu đã mang lại những thành tích nhất

định (Nguyễn Hữu Đống và cs, 2003) [10].

1.4.Nghiên cứu dinh dưỡng đối với cây cam

Cây cam sinh trưởng và phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 23 - 29oC, thích hợp

trên các chân đất như nâu vàng, nâu nhạt, phát triển trên đá phiến thạch sét, hoặc

phiến thạch mica hoặc những vùng như đất phù sa, đất xám...

Cây cam có khả năng cho năng suất rất cao nếu được thỏa mãn các điều kiện

về sinh thái đất đai và đầu tư phân bón cũng như các biện pháp canh tác khác như

tưới nước, phòng trừ sâu bệnh hại,...

Trong cùng điều kiện sinh thái đất những vườn cam được đầu tư phân bón

đầy đủ, cân đối tất cả các yếu tố dinh dưỡng thì cho năng suất, chất lượng cao hơn.

Theo kết quả nghiên cứu trong 40 tấn quả cam tươi có chứa từ 85 - 95kg N;

40 - 45kg P2O5; 100 - 105kg K2O; 50 - 60kg CaO; 4 - 5kg S; 0,3kg Fe; 0,14kg Zn;

0,06kg Cu; 0,8kg B; 0,6kg Mn. Tuy nhiên các nhà vườn trồng cam sử dụng phân

bón hầu hết không cân đối về tỉ lệ các yếu tố dinh dưỡng, thiếu hụt so với nhu cầu

thực tế của cây cam [34].

Như vậy để đảm bảo cho cây cam sinh trưởng phát triển khỏe thì việc lựa

chọn loại phân có đầy đủ, cân đối tất cả các yếu tố dinh dưỡng đa lượng (NPK), các

yếu tố trung lượng (CaO, MgO, S) và vi lượng (Zn, B, Mn, Cu…) cung cấp cho

cam là cần thiết. Mục đích nhằm cân bằng lại các yếu tố dinh dưỡng thiếu hụt trong

đất đồng thời đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây cam để đạt năng suất và

chất lượng cao.

* Nhóm đa lượng

- Đạm (Nitơ): là nguyên tố vô cùng quan trọng và khơng thể thiếu được trong

q trình sinh trưởng đặc biệt trong sự hình thành bộ lá và có vai trò quyết định đến



16



năng suất, phẩm chất của quả. Nitơ tham gia vào quá trình hình thành và phát triển

cành, lá, xúc tiến hình thành các đợt lộc mới trong năm, có tác dụng giữ cho bộ lá

xanh lâu. Nhiều nghiên cứu cho thấy một quả cam Washington Navel muốn phát

triển bình thường cần có 45 lá, cam Chanh cần 50 lá, bưởi Chùm cần 60 lá cho một

quả (Vũ Mạnh Hải và Cs (2000) [11].

Tuy nhiên nếu thừa đạm sẽ làm cho lá và lộc sinh trưởng quá tốt, quả lớn

nhanh nhưng vỏ dày, quả bị nứt và phẩm chất quả kém, màu sắc quả đậm hơn, hàm

lượng vitamin C có chiều hướng giảm. Nhưng nếu thiếu đạm lộc non khơng phát

sinh đúng lúc hoặc ra ít, lá nhỏ, lá mất diệp lục, bị ngả vàng, cành quả nhỏ, mảnh và

bị rụng lá, quả nhỏ, vỏ mỏng, năng suất giảm.

- Phân lân (Phospho):

Là nguyên tố dinh dưỡng rất cần cho cây sinh trưởng và phát triển đặc biệt là

giai đoạn phân hóa mầm hoa.

Phân lân có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng quả, đủ lân lượng axit trong

quả giảm, tỷ lệ đường/axit cao, hàm lượng Vitamin C giảm, vỏ quả mỏng, mã đẹp,

lõi quả chặt, màu sắc quả hơi kém nhưng chuyển màu nhanh.

- Kali:

Theo Vũ Công Hậu (1996) [13] kali rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển

của cam , đặc biệt là thời kỳ ra lộc non và thời kỳ quả phát triển mạnh. Kali ảnh

hưởng rõ rệt đến năng suất và phẩm chất quả cam, vì kali tham gia vào quá trình

vận chuyển các sản phẩm quang hợp về các cơ quan tích lũy trên cây. Nếu cây được

cung cấp đầy đủ kali quả to, ngọt, nhanh chín, có khả năng chịu được lâu dài khi

vận chuyển đi xa hoặc cất giữ lâu ngày. Tuy nhiên nếu thừa kali cây sinh trưởng

kém, đốt ngắn, cây còi cọc, đặc biệt nếu quá nhiều kali sẽ gây nên hiện tượng hấp

thu caxi, magie kém, quả to nhưng xấu mã, vỏ quả dày, lâu chín.

Ngồi các ngun tố đa lượng N,P,K, các nguyên tố trung lượng và vi lượng

cũng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển, năng suất và phẩm

chất cam. Theo các nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng cây hồn tồn khơng

thể phát triển một cách bình thường nếu như thiếu các nguyên tố trung và vi lượng



17



như: Bo, Mangan, Canxi, Kẽm, Molipden..v.v... các nguyên tố này hết sức cần thiết

cho cây, chúng có tác dụng thúc đẩy và kích thích khả năng sinh trưởng, phát triển

của cây một cách mạnh mẽ.

* Nhóm nguyên tố trung lượng

- Canxi (Ca)

là một thành phần của màng tế bào cây nên rất cần thiết cho sự hình thành tế

bào mới và làm màng tế bào ổn định, vững chắc. Nó còn cần cho sự hình thành và

phát triển của rễ cây. Đặc biệt canxi có vai trò như một chất giải độc do trung hòa

bớt các axit hữu cơ trong cây và hạn chế độc hại khi dư thừa một số chất như K+,

NH4+. Nó cũng cần thiết cho sự đồng hóa đạm nitrat và vận chuyển gluxit từ tế bào

đến các bộ phận dự trữ của cây. Ngồi ra, canxi có trong vơi còn có tác dụng cải tạo

đất, giảm độ chua mặn và tăng cường độ phì của đất, giúp cho cây sinh trưởng tốt.

Thiếu canxi thân cây mềm yếu, hoa rụng, nếu thiếu nặng thì đỉnh chồi có thể bị khô.

Triệu chứng đặc trưng của cây thiếu Ca là các lá mới ra bị dị dạng, chóp lá uốn câu,

rễ kém phát triển, ngắn, hóa nhầy và chết. Ca là chất không di động trong cây nên

biểu hiện thiếu Ca thường thể hiện ở các lá non trước. Canxi (Ca) được ví như xi

măng gắn kết các tế bào lại với nhau (Sampson, H.C.) [32], hàm lượng Ca trong cây

cao sẽ ngăn cản sự rụng ngược lại khi hàm lượng Ca trong cây thấp sẽ tăng sự rụng.

- Magiê (Mg)

Là thành phần cấu tạo chất diệp lục nên giữ vai trò quan trọng trong q trình

quang hợp và tổng hợp chất gluxit trong cây. Magiê tham gia trong thành phần của

nhiều loại men, đặc biệt các men chuyển hóa năng lượng, đồng hóa lân, tổng hợp

protein và lipit. Magiê giữ cho độ pH trong tế bào cây ở phạm vi thích hợp, tăng sức

trương của tế bào nên ổn định cân bằng nước, tạo điều kiện cho các quá trình sinh

học trong tế bào xảy ra bình thường. Thiếu magiê lá cây sẽ mất màu xanh bình

thường và xuất hiện các đốm vàng, mép lá cong lên, thiếu nặng cây có thể bị chết

khơ. Thiếu Mg làm chậm q trình ra hoa, cây thường bị vàng lá do thiếu diệp lục.

Triệu chứng điển hình là các gân lá còn xanh trong khi phần thịt lá đã biến vàng.

Nếu dư thừa magiê sẽ làm thiếu kali.



18



- Lưu huỳnh (S)

Được coi là yếu tố dinh dưỡng thứ 4 của cây trồng sau đạm, lân và kali. Lưu

huỳnh tham gia trong thành phần của các axit amin, protein và vitamin có chứa lưu

huỳnh, trong đó có axit amin khơng thể thay thế như methionin. Lưu huỳnh còn có

trong thành phần của men coenzim A xúc tiến nhiều quá trình sinh lý trong cây như

quang hợp, hô hấp và sự cố định đạm của vi sinh vật cộng sinh. Nó còn là chất cần

thiết cho sự hình thành chất diệp lục, thúc đẩy q trình thành thục và chín của quả

và hạt. Cây thiếu lưu huỳnh có biểu hiện giống như thiếu đạm, lá vàng lợt, cây thấp

bé, chồi kém phát triển, tuy nhiên khác với thiếu N là hiện tượng vàng lá xuất hiện

ở các lá non trước các lá trưởng thành và lá già. Ngoài ra Hambidge (1941) [30],

Lưu huỳnh (S) thiếu sẽ làm tăng sự rụng quả, lá vì làm giảm các axit amin chứa

lưu huỳnh ở trong cây, hoặc khi thừa Zn, Fe và các cation I+ Cl- sẽ gây độc cho

cây và làm tăng q trình rụng.

* Nhóm nguyên tố vi lượng

Các nguyên tố vi lượng (Zn, Cu, Fe, Mn, B, Mo) là các nguyên tố về mặt hàm

lượng chỉ chiếm từ phần triệu đến phần vạn so với khối lượng khơ của cây (cây trồng

có nhu cầu bón khơng nhiều). Song trong hoạt động sống của cây, các ngun tố này

có vai trò xác định khơng thể thiếu và không thể thay thế bằng các nguyên tố khác

được. Thiếu nguyên tố vi lượng cây mắc bệnh và phát triển khơng bình thường.

- Đồng (Cu)

Đồng cần thiết cho sự hình thành Diệp lục và làm xúc tác cho một số phản

ứng khác trong cây, nhưng thường không tham gia vào thành phần của chúng.

Những cây hòa thảo thiếu Đồng có thể khơng trổ hoa hoặc khơng hình thành được

hạt. Nhiều loại cây rau biểu hiện thiếu Đồng với lá thiếu sức trương, rủ xuống và có

mầu xanh, chuyển sang quầng mầu da trời tối trước khi trở nên bạc lá, biến cong và

cây không ra hoa được.

Hiện tượng thiếu đồng thường xảy ra trên những vùng đất đầm lây, ruộng

lầy thụt. Cây trồng thiếuđồng thường hay có hiện tượng chảy gôm (rất hay xảy ra ở



19



cây ăn quả), kèm theo các vết hoại tử trên lá hay quả. Với cây họ hòa thảo, nếu

thiếu đồng sẽ làm mất màu xanh ở phần ngọn lá.

- Bo (B)

Bo cần thiết cho sự nẩy mầm của hạt phấn, sự tăng trưởng của ống phấn, cần

thiết cho sự hình thành của thành tế bào và hạt giống. Bo cũng hình thành nên các

phức chất đường/borat có liên quan tới sự vận chuyển đường và đóng vai trò quan

trọng trong việc hình thành protein. B tác động trực tiếp đến quá trình phân hóa tế

bào, trao đổi hocmon, trao đổi N, nước và chất khoáng khác, ảnh hưởng rõ rệt nhất

của B là tới mô phân sinh ở đỉnh sinh trưởng và quá trình phân hóa hoa, thụ phấn,

thụ tinh, hình thành quả.

Khi thiếu B thì chồi ngọn bị chết, các chồi bên cũng thui dần, hoa khơng hình

thành, tỷ lệ đậu quả kém, quả dễ rụng, rễ sinh trưởng kém, lá bị dày lên.

- Mangan (Mn)

Mangan là thành phần của các hệ thống men (enzyme) trong cây. Nó hoạt

hóa một số phản ứng trao đổi chất quan trọng trong cây và có vai trò trực tiếp trong

quang hợp, bằng cách hỗ trợ sự tổng hợp Diệp lục. Mangan tăng cường sự chín và

sự nẩy mầm của hạt khi nó làm tăng sự hữu dụng của Lân và Canxi. Cũng như sắt,

Mangan không được tái sử dụng trong cây nên hiện tượng thiếu sẽ bắt đầu từ những

lá non, với mầu vàng giữa những gân lá, và đôi khi xuất hiện nhiều đốm nâu đen. Ở

những cây hòa thảo xuất hiện những vùng mầu xám ở gần cuống lá non.

- Kẽm (Zn)

Zn tham gia hoạt hóa khoảng 70 enzym của nhiều hoạt động sinh lý, sinh hóa

của cây . Kẽm được coi như là một trong các nguyên tố vi lượng đầu tiên cần thiết

cho cây trồng. Nó thường là một nguyên tố hạn chế năng suất cây trồng. Sự thiếu

hụt Kẽm đã được thừa nhận ở hầu hết đất trồng lúa của các nước trên thế giới. Tuy

nó chỉ được sử dụng với liều lượng rất nhỏ nhưng để có năng suất cao khơng thể

khơng có nó. Thiếu Zn sẽ gây rối loạn trao đổi auxin nên ức chế sinh trưởng, lá cây



20



bị biến dạng, ngắn, nhỏ và xoăn, đốt ngắn và biến dạng. Sự thiếu Kẽm ở cây bắp gọi

là bệnh “đọt trắng” vì rằng lá non chuyển sang trắng hoặc vàng sáng

- Sắt (Fe)

Sắt cần cho việc vận chuyển các điện tử (electron) trong quá trình quang hợp

và các phản ứng oxyhóa - khử trong tế bào. Sắt nằm trong thành phần của Feporphyrin và Ferrodoxin, rất cần cho pha sáng của q trình quang hợp... Sắt hoạt

hóa nhiều enzim như catalaz, sucxinic dehydrogenaz và aconitaz. Do vậy, thiếu sắt

cũng làm giảm hiệu suất quang hợp và hạn chế quá trình tổng hợp, trao đổi chất

trong cây.

Biểu hiện khi thiếu sắt (Fe) điển hình

Thiếu sắt việc hút kali bị hạn chế và toàn bộ phiến lá mất màu xanh chuyển

trắng hoặc vàng nhạt để lộ rõ các đường gân lá màu xanh. Trường hợp thiếu nặng,

toàn bộ lá (cả gân lá) chuyển màu vàng và cuối cùng có thể trở thành trắng nhợt.

Thiếu sắt xuất hiện trước tiên trên các lá non. Ở các chân đất kiềm, đất hình thành

trên đá vơi, đất đồi q trình oxy hóa mạnh cây thường hay thiếu sắt. Ngộ độc sắt

thường xuất hiện trên các chân đất trũng, chua, phèn. Cây trồng bị ngộ độc sắt trên

lá xuất hiện nhiều đốm nâu như rỉ sắt, bộ rễ kém phát triển, nhiều rễ đen.

- Molipden (Mo)

Molipden cần cho sự tổng hợp và hoạt động của men khử Nitrat. Loại men

này khử Nitrat thành Ammonium trong cây. Molipden có vai trò sống còn trong

việc tổng hợp đạm cộng sinh bởi vi khuẩn Rhizobia trong nốt sần cây họ đậu.

Molipden cũng cần thiết cho việc chuyển hóa Lân từ dạng vô cơ sang hữu cơ

trong cây.

Thiếu Mo sẽ ức chế dinh dưỡng đạm của cây trồng nói chung, đặc biệt của

các cây họ đậu . Hiện tượng thiếu Molipden có biểu hiện chung như vàng lá và đình

trệ sinh tưởng. Sự thiếu hụt Molipden có thể gây ra triệu chứng thiếu Đạm trong các

cây họ đậu như đậu tương, cỏ alfalfa, vì vi sinh vật đất phải có Molipden để cố định

Nitơ từ khơng khí. Molipden trở nên hữu dụng nhiều khi pH tăng, điều đó ngược lại



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Các vùng trồng cam chính ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×