Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Phương pháp Bottom – up

b. Phương pháp Bottom – up

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



Hình 1.10 Một số kĩ thuật trong phương pháp Bottom – up [7]



Có thể sử dụng một số kĩ thuật như kết tinh, công nghệ chất lỏng siêu tới hạn,

… để tạo hạt nano.

 Kĩ thuật kết tinh:

- Qúa trình kết tinh gồm 3 giai đoạn: tạo dung dịch có nồng độ quá bão

-



hòa, tạo mầm tinh thể và phát triển tinh thể.

Để mầm có kích thước càng nhỏ đòi hỏi ở cùng một nồng độ xác định

có nhiều mầm tạo ra đồng thời. Động lực tạo mầm phụ thuộc vào hàng

rào năng lượng tự do Gibbs G. Năng lượng tự do Gibbs càng nhỏ thì



-



tốc độ tạo mầm nhanh, mầm tinh thể tạo ra càng nhiều.

Ta có [16]:



16 3VS 3

G  2 2

3k T (ln S ) 2

Trong đó : sức căng bề mặt

k: hằng số Boltzmann



(1.1)



Vs: thể tích phân tử

S: độ quá bão hòa, Với



S



Co

C*



Từ (1-1) => Để G nhỏ cần đảm bảo hệ có sức căng bề mặt nhỏ, dung dịch

quá bão hòa, nồng độ ban đầu phải đủ lớn và độ nhớt thấp sẽ tạo được nhiều mầm

có kích thước nhỏ.



15



 Sử dụng chất lỏng siêu tới hạn tạo nano:

- Công nghệ CO2 siêu tới hạn (CO2 Super Critical Fluid Technology): là

trạng thái CO2 được nén tới áp suất ≥ 74 atm và nhiệt độ giữ từ 31,1 oC

trở lên. Tính tan của các hoạt chất trong lưu chất siêu tới hạn (tăng hoặc

giảm) phụ thuộc vào áp suất và nhiệt độ của lưu chất.



Hình 1.11 Tính tan của hoạt chất phụ thuộc vào nhiệt độ và áp suất của

lưu chất



-



Hai phương pháp ứng dụng dòng siêu tới hạn trong việc tạo nano:

o Chất lỏng siêu tới hạn như là một dung môi: dùng dung môi siêu tới

hạn bão hòa chất tan, được nén đến áp suất cao, làm giảm áp suất

đột ngột, làm các hạt nhỏ chất tan bị tách nhỏ ra và có khả năng

o



khuếch tán cao (Top – down).

Chất lỏng siêu tới hạn như là một chất kháng dung môi: được sử

dụng khi chất tan có độ tan kém trong dung mơi. Chất tan được hòa

vào dung mơi và tiếp xúc với dòng siêu tới hạn, dung mơi bay hơi

vào pha khí tạo ra tình trạng q bão hòa làm các hạt bị kết tinh



-



(Bottom – up). [2]

Kĩ thuật này ngày càng được ứng dụng rộng rãi nhờ khả năng nén và

khuếch tán cao, tốc độ bay hơi lớn, khả năng thay đổi linh hoạt độ nhớt

của dung dịch nhờ kiểm soát cặp thông số nhiệt độ và áp suất của lưu

chất. Ứng dụng thành cơng trong quy trình sản xuất nano carotenoid từ

quả gấc bằng kĩ thuật dùng chất lỏng CO2 siêu tới hạn. [8]



16



Nhận xét: Tạo hệ hạt nano bằng phương pháp Bottom – up khắc phục được

quá trình phát nhiệt do tác dụng cơ học của phương pháp Top – down, nhưng rất dễ

tạo ra vật liệu có kích thước micro, sử dụng dung môi đắt tiền, nâng cao chi phí sản

xuất.

c. Kết hợp phương pháp Top – down và Bottom up

Nguyên lý phương pháp kết hợp:

 Tạo tinh thể nano bằng phương pháp bottom - up trước (sử dụng kỹ

thuật kết tinh,…)

 Xé nhỏ tinh thể mới tạo thành về kích thước nano mong muốn dưới tác

động cơ học (đồng hóa tốc độ cao, đồng hóa áp suất cao,…) bằng

phương pháp Top – down.

Sự kết hợp hai phương pháp này mang lại hiệu quả tối ưu hơn, giảm phát sinh

nhiệt, ít tiêu tốn năng lượng, kiểm sốt kích thước nano tạo ra, độ đồng nhất hạt,

phân bố đồng đều, nâng cao độ bền hệ và giải quyết bài toán kinh tế.



17

1.3.4 Một số cơng trình nghiên cứu hệ dẫn truyền nano piperine

Bảng 1.5 Một số cơng trình nghiên cứu hệ dẫn truyền nano piperine



ST

T



Hệ dẫn truyền



Tóm tắt



Tài liệu tham khảo



NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC

Hệ nano polymer

piperine

1



2



Hệ nano nhũ Năm 2015, Bing Shao và cộng sự nghiên cứu tạo hệ nano nhũ tương Bing

tương piperine

piperine, kích thước hạt nhũ trung bình đạt (89,82 ± 2,16) nm. SEDDS [15]

(Self-emulsifying Drug Delivery System) được xem như một công thức

ổn định tạo hệ tự nhũ hóa nhằm tăng cường khả năng hòa tan và khả

dụng sinh học bằng đường uống của hoạt chất tan kém trong nước

(piperine) so với dạng viên nén.

Hệ nano liposome

piperine



3



4



Năm 2015, M. Pachauri và cộng sự đã tạo thành công hệ P-PEG-PNP Pachauri, 2015 [28]

(Piperine – PEG – PLGA nanoparticles) ở kích thước 132 nm, được đánh

giá cao về trạng thái vơ định hình của piperine trong lõi ma trận PNP. Sự

kết hợp Aptamer và hệ P-PEG-PNP cùng khả năng tự phân hủy sinh học

của PLGA, hỗ trợ tải thuốc vào đúng chính xác vị trí tế bào ung thư vú,

giải phóng thuốc dễ dàng, nồng độ piperine tập trung cao.

Shao,



2015



Năm 2016, Pentak tạo thành công hệ liposome piperine ở kích thước 100 Pentak, 2016 [30]

nm – 120 nm, hiệu suất bao giữ cao 90,5% (phù hợp để bào chế

liposome mang các dược chất có cấu trúc phân tử cồng kềnh như

piperine, albumin,...) tăng khả năng giải phóng thuốc, duy trì hàm lượng

ổn định và tăng tính thẩm thấu.



Hệ nano béo rắn Năm 2017, hệ hạt nano béo rắn SLN piperine được M.R Bhalekar tối ưu Bhalekar, 2017 [13]

piperine

hóa với khả năng bao giữ piperine 78,71%, kích thước đạt 128,80 nm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Phương pháp Bottom – up

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×